@@@
NGUYỄN CHU NHẠC
BÓNG VĂN NHÂN
Tiểu luận & Chân dung văn học
Nhà xuất bản Hội Nhà văn
ĐI TÌM THI PHÁP THƠ TRẦN
ĐĂNG KHOA
Thực ra, từ hơn chục năm trước, tôi
đã ý thức muốn tìm hiểu phương pháp sáng tác thơ Trần Đăng Khoa. Trong một bài
viết về thơ Trần Đăng Khoa thời kỳ ông du học ở Liên Xô (cũ), tôi đã bàn thêm về
thơ ông thời kỳ ông còn nhỏ tuổi đi học ở quê (tập thơ Góc sân và khoảng
trời cùng một số trường ca khác). Bài viết đăng báo và sau được tôi tập
hợp vào tập sách chân dung văn học của tôi có tên Trời đất thu hay lòng
ta thu (NXB Dân trí, 2016). Ở đấy, tôi đã đưa ra nhận định, không có
thơ Trần Đăng Khoa thiếu nhi, mà chỉ có thơ Trần Đăng Khoa sáng tác khi tác giả
ở lứa tuổi thiếu nhi. Điều này khẳng định, những bài thơ được Trần Đăng Khoa
sáng tác từ khi tác giả bảy, tám tuổi ngày ấy, không phải là thơ thiếu nhi theo
đúng nghĩa, thiếu nhi nghĩ sao viết vậy, phù hợp với lứa tuổi của mình, mà là
những bài thơ mang sức vóc và suy nghĩ của người đã trưởng thành, dù ở lứa tuổi
nhỏ, về các sự kiện, vấn đề lớn, thậm chí mang tính thời đại... Điều đó, cũng
có nghĩa, thơ Trần Đăng Khoa, dù ở lứa tuổi nào, cũng đều nhất quán về ý nghĩa
tư tưởng và phương pháp sáng tác...
Tôi cũng
đã nghĩ về phương pháp sáng tác thơ của Trần Đăng Khoa từ lâu rồi, nhưng chỉ lờ
mờ rằng thế này, thế nọ... Là bạn thân với Trần Đăng Khoa từ thời học trò, sau
lại đồng nghiệp báo chí cùng cơ quan, nên mỗi khi xuất bản tác phẩm mới, hay
tái bản tập thơ cũ, ông đều tặng sách tôi. Mươi năm trở lại đây, mỗi khi ký tặng
sách, Trần Đăng Khoa đều thân mật bảo: “Ông
về đọc kỹ hộ tôi, xem còn những bài nào đọc được...thì đánh dấu vào đấy và cho
tôi biết nhé...Tôi muốn xem, sau ngần ấy năm, bài nào còn sống được đến bây giờ?”.
Tôi đọc lại và cũng đánh dấu khá nhiều bài, nhưng chưa nói lại với ông...
Cho đến một
lần, đâu năm 2015 thì phải, Trần Đăng Khoa tái bản Tuyển thơ khá dày. Khi ký
sách tặng tôi, ông quen miệng lại dặn tôi đọc kỹ và chọn những bài còn thấy được
cho ông. Tôi nhận lời chiếu lệ cho xong, cất vào cặp. Ngày hôm sau, tôi phải dự
một hội thảo lớn ở trung ương theo thành phần được triệu tập. Nửa buổi ngồi
nghe các báo cáo, tham luận viết sẵn được các diễn giả đọc oang oang trên hội
trường, tôi ngán ngẩm, lục cặp thấy tuyển thơ của Trần Đăng Khoa bèn lôi ra đọc.
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu, rồi theo đó mọi sự sáng rõ. Tôi đọc ngấu nghiến
Tuyển thơ Trần Đăng Khoa. Vẫn đó những bài thơ cũ, mà nhiều bài ông làm từ khi
còn ở tuổi thiếu nhi, tôi thuộc nằm lòng, vậy mà giờ như mới. Là bởi, tôi bỗng
nhận thấy ở đấy dạng thức mà trước đó tôi chưa từng nghĩ tới. Giờ thì rõ mồn một,
từng chữ từng câu, từng ý. Thậm chí, tôi còn hình dung, mường tượng trong đầu, khi sáng tác bài thơ
này bài thơ nọ thì Trần Đăng Khoa nghĩ gì, làm như thế nào... Tôi lấy bút, đánh
dấu bài, gạch chân, viết chua ra bên lề nhận định của mình, sợ sẽ quên đi mất.
Hết ngày dự hội nghị hôm ấy, tôi đã cơ bản làm xong cái việc mà tôi cho là khá
lớn khiến tôi suy nghĩ nhiều năm qua...
Có thể
nói, phương pháp sáng tác thơ của Trần
Đăng Khoa thuộc dạng thức quan hệ sau: Động-Tĩnh, Thực-Ảo, thủ pháp hoán vị, lối
đồng dao, ví von so sánh, phép nhân cách
hóa, tạo dựng không gian cho mỗi bài thơ và cuối cùng là có những câu thơ cất
cánh. Còn theo phương pháp khoa học, hầu hết các bài thơ của Trần Đăng Khoa đều
theo phép quy nạp, hoặc diễn dịch, hoặc cùng lúc cả hai. Tùy bài mà tác giả
dùng cách này, hay cách kia, hoặc dùng cả hai cách trong một bài.
Ngay trong
bài thơ đầu tiên, Con bướm vàng, ta thấy ngay mối quan hệ thực -
áo rất rõ: “Con bướm vàng/ Con bướm vàng/
bay nhẹ nhàng/ trên bờ cỏ/ em thích quá/ em đuổi theo/ nó vỗ cánh/ vút lên cao/
em nhìn theo/ con bướm vàng/ con bướm vàng”. Ở đây, những câu thơ đầu là tả
thực, thì mấy câu kết “em nhìn theo/ con
bướm vàng/ con bướm vàng” đã là ảo rồi. Nhờ mấy câu kết này, bài thơ chuyển
thành hư ảo, không sa kể lể tầm thường. Nó là chuyện về con bướm đấy. Cũng là
chuyện về tuổi thơ. Tuổi thơ đến rồi đi. Có nhìn theo, đuổi theo, cũng không
níu được. Không vươn tới được. Nó là chuyện của Khoa, cũng là chuyện của tất cả
mọi người. Cái tuổi thơ thực đấy mà ảo đấy. Mỗi khi đọc bài thơ này, tôi lại
liên tưởng đến một bài thơ khác của Trung Quốc. Chuyện rằng, vua Càn Long nhà
Thanh trong một lần du xuân vãng cảnh cùng quần thần, thấy những cánh hoa đào mỏng
manh rơi rụng tơi bời xuống cỏ xanh rồi bị gió cuốn bay đi mất, đã tức cảnh
sinh tình mà làm thơ “Một cánh/ hai cảnh/
rồi ba cánh/ bốn cánh/ năm cánh/ sáu, bảy cánh/ rơi xuống cỏ xanh/ bay mất
tăm...”. Trong khi cả đám quần thần tung hô khen hay thì một đại quan thưa
rằng: “Thơ của bệ hạ giống như đám dân
chài lưới ở quê thần cùng hò nhau kéo lưới vậy...”. Cả đám quần thần thất
kinh và vua Càn Long thì cụt hứng tỏ vẻ bực tức, vị quan ấy thẽ thọt: “Mấy câu thơ đầu, đếm một hai ba bốn năm sáu
bảy ấy thì giống hệt dân chài quê thần đếm hò dồn sức kéo lưới,... nhưng hai
câu kết rơi xuống cỏ xanh/ bay mất tăm
thì thật thần kỳ, khiến cả bài thơ không những thoát khỏi hệ đếm tầm thường thô
tục, mà còn làm bài thơ thanh thoát, hư ảo, chẳng khác gì chắp cánh cho bài thơ
bay vút lên”. Lúc ấy, vua tôi cùng òa lên hoan hỉ. Người làm thơ tài tình
thay, song người bình còn tài tình hơn.
Bài thơ Chiếc
ngõ nhỏ, là một bài thơ rõ nét quan hệ Động-Tĩnh. Gần như cả bài thơ là
sự kể chuyện, tác giả vẽ lên các bức tranh tĩnh vật, nhưng chỉ vài câu thơ, mở
đầu “Chiếc ngõ nhỏ/ thở trong đêm/ ông
trăng lên/ cười trong lá”là động. Đấy là những câu thơ trực diện tả cái ngõ
cụ thể. Rồi sau đó là cả cuộc kháng chiến cứu nước đi qua cái ngõ nhỏ này. Người
vá đường, Người đẩy xe. Bộ đội hành quân. Xe tăng, xe kéo pháo. Cả nước lên đường
ra trận. và câu kết, rất bất ngờ: “Chiếc
ngõ nhỏ/ ở lại nhà”, chỉ có cái ngõ ở lại. Hai câu kết, với 6 chữ rất mong
manh, mà nâng được cả bài thơ dậy.
Bài thơ Gà con liếp nhiếp
cũng theo phép thực-ảo. Ảo mà lại không ảo. Tác giả tả cảnh đàn gà con ngoài
sân lây lội, mải tìm sâu, trời
mưa
phùn ướt cánh, ướt đầu…Đấy là điều hiển nhiên. Chả có gì đáng bàn. Thậm chí còn
có câu tự nhiên, thật thà dễ dãi theo kiểu nhà quê “Mưa mỗi lúc một to sau rồi đâm ra tạnh” Nếu chỉ vậy thì đơn thuần
là một bài văn tả cảnh thực, kiểu học trò, lũ gà mải bắt sâu đến quên rũ lông,
lại thêm một câu thật thà hiển nhiên: “Nhưng
nắng to chú vẫn khô đầu”. nhưng tài tình thay, tất cả những câu chữ hiển
nhiên để chuẩn bị cho câu kết: “Đôi mắt tròn trong như hai giọt nước/ hai giọt
nước không bao giờ khô được” thì bài
thơ như được phù phép, hồn cốt, ảo diệu và rất bất ngờ, ám ảnh. Ám ảnh mà lại hồn
nhiên.
Bài thơ Chọc
ếch là một bài thơ ngắn nhưng có đủ quan hệ động-tĩnh, thực - ảo, lại
hóm hỉnh mà cũng đầy bất ngờ: “Giỏ không thoắt đã đựng đầy tiếng kêu/ râm
ran suốt cả buổi chiều/ Tiện mồm em cũng hát theo một bài.”
Hay như
bài thơ Trăng sáng sân nhà em, một bài thơ mà Trần Đăng Khoa đã
thú nhận với nhà thơ Vũ Quần Phương là bài thơ ông không thể nào viết lại được.
Ở đây ta thấy rõ quan hệ động-tĩnh, thực-ảo. Tác giả chỉ đặc tả trăng. Không tả
trực tiếp trăng như bài Trăng ơi từ
đâu đến. Mà lấy cây vườn, như chuối và cau, con vật như chim và sâu.
Cau cao, chuối thấp, tương tự chim trên cây, sâu dưới đất. Vẫn là chuyện cao và
thấp. Và cái sân là trung tâm. Không có người. Vậy mà thành vũ hội thiên nhiên.
Câu thơ đảo đi đảo lại, lặp đi lặp lại mà không trùng. Trăng lồng lộng ngự trị,
ôm trùm cả trời đất. Chỉ có là người ở nông thôn, thấm đẵm cảnh sắc văn hóa
thôn quê mới khắc họa được một bức tranh sinh động như vậy. Vừa thực vừa ảo. Vừa
động vừa tĩnh. Đúng là một bài thơ rất khó viết mà viết nhẹ nhàng như xoay quân
đomino. Rất tài tình!
Bài thơ Nửa
đêm tỉnh giấc cũng là một bài thơ điển hình dạng thức Động-Tĩnh, Thực-Ảo.
Mỗi khổ thơ là một bức tranh, nhưng chúng chỉ là tranh tĩnh vật nếu như không
có những câu thơ chuyển trạng thái như: “nghe
tiếng sương đọng mật”, “há miệng đòi
uống sương”, “loáng vỡ ánh trăng vàng”,
và đặc biết câu kết “Một tiếng gì không
rõ/ xôn xao cả đất trời”. Đó là hai câu hay nhất trong bài. Trần Đăng Khoa
thường dụng công ở câu kết. Nó như chân đế, giá đỡ, có sức nâng cả bài thơ dậy.
Hay nữa,
bài thơ Bên sông Kinh Thầy, dạng thức Động-Tĩnh, Thực-Ảo cũng rất rõ. Cả bài là
quang cảnh làng quê ven sông với cây cối lúa ngô, nhà cửa, bác chài buông câu
trong bóng chiều , cá nhảy, sinh động đấy, song cũng chẳng là gì nếu thiếu hai
câu kết, khiến người ta phải suy nghĩ “Ôi cánh buồm nhỏ bé/ Biết bay về nơi
đâu?”...
Bài thơ Đêm
Côn Sơn, người ta nói và khen nhiều câu thơ “Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”. Đành rằng câu thơ ấy tài tình, hay lắm rồi, nhưng chưa đủ, vẫn là câu thơ
tả chân. Song “Ngang trời kêu một tiếng chuông/ Rừng xưa nổi gió, suối tuôn
ào ào” thì Thực đã thành Ảo rồi, và
bầu không ảo diệu ấy bao trùm tạo nên sự linh thiêng như hồn Nguyễn Trãi hiện về.
Để rồi trở lại trạng thái thực với câu kết “Ngoài kia nòng pháo ướt đầm
sương khuya...”. Thực đấy mà vẫn như ảo. Câu thơ kéo xưa về thực tại, lại
có không khí thời đại. Theo tôi, đây là bài thơ toàn bích về nghệ thuật chuyển
trạng thái động-tĩnh, thực-ảo và thêm nữa có câu thơ cất cánh.
Bài thơ Đồng
chiều cũng là một bài toàn bích điển hình của dạng thức này: “Mặt trời
chìm cuối đồng xa/ Sương lên mờ mịt như là khói bay/ Đất trời cách một gang
mây/ Và tôi liền với luống cày tỏa hương”. Chỉ bốn câu lục bát thôi mà cảnh
vật, con người, với sắc màu, hương vị, trạng thái tan hòa vào nhau, tôn nhau
lên rồi lan tỏa mênh mang, thực đấy mà ảo đấy. Đó là sự ảo diệu của đồng quê,
làng mạc!
Thêm nữa,
bài thơ Đồng quê, thực ảo xen lẫn, đan cài như người đan lóng mốt,
làm nên một quang cảnh làng quê rất mộng mị: “Làng quê lúa gặt xong rồi/ Mây
hong trên gốc rạ phơi trắng đồng/ Chiều lên lặng ngắt bầu không/ Trâu ai no cỏ
thả rông bên trời/ Hơi thu đã chạm mặt
người/ Bạch đàn đôi ngọn đứng soi xanh đầm/ Luống cày còn thở sủi tăm/ Sương
buông cho đống hoang nằm chiêm bao/ Có con châu chấu phương nào/ Bâng khuâng nhớ
lúa đậu vào vai em”. Thơ lục bát cặp đôi, nếu câu sáu thực thì câu tám ảo,
và câu sáu ảo thì câu tám lại thực. Cứ vậy, liên tiếp, không thể bỏ một từ nào.
Đọc xong, muốn đọc lại, đọc một hồi, mụ mị người, như lạc lối không biết đường
ra. Riêng mình, tôi từng ao ước viết được bài thơ như thế!...
Còn nhiều
lắm bài thơ thuộc dạng thức này, như: Góc sân và khoảng trời, Tiếng chim
kêu, Ò ó o, Chớm thu, Tiếng chim chích chòe, Tiếng võng kêu, Trăng ơi từ đâu đến,
Mưa, Hoa dại, Ghi ở ao nhà, Trong sương sớm, Mưa xuân, Con mắt, Cơn dông, Hoa
bưởi ...v.v... Và những bài thơ
sau này ở thời kỳ trưởng thành, khi nhà thơ tham gia chiến trường Campuchia, đi
Trường Sa và cả những bài thơ viết ở nước Nga, (Về làng, Hoa xương rồng,
Thơ tình người lính biển, Ghi ở đảo chìm, Trăng Matxcơva, Qua Borodino, Qua
Suzdan, Đêm Nga, Chiều Riazan, Matxcova, mùa đông năm 1990, Uống rượu với người
bạn Nga, Hoa Lư, Thưởng trà, Không đề, Trái đất quay, Với bạn, Đỉnh núi, Ở
nghĩa trang Văn Điển, Gửi bác Trần Nhuận Minh v.v…). Hay mới đây, bài
thơ ngắn gần đây của Trần Đăng Khoa đăng báo Văn nghệ số tết Nhâm Dần 2022: Về quê: “Mẹ cha
thành nỗi nhớ thương/ Anh em nằm lại chiến trường thẳm xa/ Bây giờ bầu bạn cùng
ta/ Chỉ còn một mảnh trăng tà ngoài hiên” cũng thuộc dạng thức này. Chỉ vỏn
vẻn 4 câu thôi mà nhà thơ nói được hành trạng các mối quan hệ lớn của gia đình và xã hội, cha mẹ,
anh em bạn bè, đồng đội như hàng thế kỷ trôi qua.
Có một điều
không khó nhận thấy, nhất quán và xuyên suốt toàn bộ thơ ca Trần Đăng Khoa, dạng
thức Động-tĩnh, Thực Ảo là dạng thức chủ đạo làm nên không gian thơ ông. Cũng
giống như truyện ngắn, tiểu thuyết, nói chung mỗi bài thơ phải có một không gian để nó tồn tại. Trần Đăng Khoa là
người rất giỏi trong nghệ thuật tạo dựng không gian truyện. Ông đã thể hiện tài
năng này trong tiểu thuyết Đảo chìm. (Tiểu luận“Đảo chìm, nghệ
thuật tạo dựng không gian truyện”,- NCN) Thế nên, ngay từ buổi đầu sáng
tác, mỗi bài thơ của Trần Đăng Khoa đều sống trong một không gian của riêng
mình mà tác giả tạo cho nó. Và trong không gian ấy, tác giả tha hồ kể chuyện, vẽ
vời bằng ngôn từ với màu sắc, thanh âm, nhịp điệu phù hợp. Điều này cũng lý giải,
tại sao, ta bắt gặp vô vàn những bài thơ của người này người nọ, khi nghe đọc bằng
âm thấy rổn rảng, leng keng đấy, nhưng tãi ra thành chữ trên mặt giấy, đọc bằng
mắt thì phẳng lì, dẹt mỏng nhạt nhẽo, chẳng đọng lại chút gì, là bởi nó không
có không gian sống, mà không có chỗ sống thì bài thơ chỉ là đám xác chữ, không
hồn vía, như xác chết vậy.
Trần Đăng Khoa thì khác, bài nào của
ông cũng có không gian tồn tại. Hầu như, mỗi bài thơ không đơn thuần xuất phát
từ cảm xúc nhất thời mà ở đấy, Trần Đăng Khoa như kể một câu chuyện, như có cốt truyện vậy, hoặc
nói một điều gì đó ý thức rõ ràng, nên ngôn ngữ, nhạc điệu là thơ nhưng không
gian của truyện. Với nghệ thuật ngôn từ và tạo dựng không gian sống như vậy,
người ta thấy được các nhân vật trữ tình, con vật, đồ vật cây cối trong thơ Trần
Đăng Khoa đều có thân phận... Thơ Trần Đăng Khoa vừa đằm vừa gợi, đằm bởi chất
truyện, gợi bởi ý tứ, ngôn từ của thơ. Theo tôi, đấy cũng là lý do để các bài
thơ của Trần Đăng Khoa sống mãi cùng thời gian. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên
mà những bài thơ ông viết từ năm, sáu mươi năm trước đến nay vẫn được bạn đọc
yêu quý đón nhận... Bằng chứng là các tác phẩm thơ ca của Trần Đăng Khoa liên tục
được tái bản và vẫn bán rất chạy...
Thi pháp
ngôn ngữ thơ trong không gian của truyện ít gặp ở Việt Nam, Điểm lại, xưa có
các cụ Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, thời hiện đại có nhà thơ Tố Hữu với một số bài
thơ cụ thể (Tiếng hát Sông Hương, Việt Bắc, Bầm ơi, Mẹ Tơm, Sáng tháng
Năm, Nước non ngàn dặm ,...), nhà thơ Hoàng Cầm với Bên kia sông Đuống,
và nhà thơ Hữu Loan với Màu tím hoa sim, Đèo Cả, nhà thơ Quang Dũng với Tây
Tiến; sau nữa, ít nhiều,
là nhà thơ Trần Nhuận Minh. Lẽ dĩ nhiên, Trần Đăng Khoa là nhà thơ tiêu biểu,
điển hình của thi pháp này, gần như toàn bộ, xuyên suốt sự nghiệp thơ ca của
mình, từ bài thơ ngắn đến trường ca. Tôi
nghĩ, thế giới thi ca Trần Đăng Khoa hiện thưc mà ảo diệu và làm nên điều kỳ diệu
này, chính là thi pháp “ngôn ngữ thơ trong không gian truyện”.
*Nhân cánh
hóa, thủ pháp hoán vị, lối đồng dao cũng là phương pháp được nhà thơ Trần
Đăng Khoa sử dụng thường xuyên. Bài thơ Côn Sơn là bài điển hình
về thủ pháp hoán vị: “Sáng đứng đỉnh Côn Sơn/ Hương đồng thơm trong túi/ Chiều
xay thóc góc nhà/ Tóc lại bay gió núi”. Ở đây, nếu đứng trên đỉnh núi mà
tóc bay gió núi và xay thóc góc nhà mà hương đồng thơm trong túi thì bài thơ hết
sức bình thường, thậm chí là tầm thường. Thủ pháp hoán vị đã tạo nên khác lạ và
nó đem đến sự thú vị, khiến người ta mặc sức liên tưởng...
Hay đâu,
trong bài thơ Tiếng chim chích chòe, nhà thơ cũng sử dụng thủ
pháp hoán vị này, khi viết “Cánh đồng vui reo/ Gió đồng rộng rãi”. Đúng
ra, phải là cánh đồng rộng rãi/ gió đồng vui reo, nhưng viết vậy thì quá bình
thường, thậm chí là tầm thường. Ở đậy, sự hoán đổi tạo ra hiệu ứng lạ nên thú vị
làm sao. Cũng như một câu thơ trong bài thơ viết về Mạc Thị Bười: Nắng
chiêm chín rực đôi bờ phi lao. Nếu Lúa chiêm
chín rực… thì câu thơ lười quá. Ở đây ta thấy được sự linh diệu của thủ
pháp hoán dụ trong thơ Trần Đăng Khoa có vai trò quan trọng như thế nào.
Cũng vậy, lối đồng dao, vận dụng ca
dao, tục ngữ, ví von, so sánh và phép nhân cách hóa, khá phổ biến trong thơ Trần
Đăng Khoa. Hầu như mọi cảnh vật được tả trong thơ đều được nhân cách hóa, biến
những vật vô tri vô giác mang tính cách của con người, nhờ thế mà tác giả mặc sức
kể chuyện, đối thoại, gán ghép, xoay vần, sắp đặt, cực kỳ sinh động. Ở đây, con
người dường như là nhân vật phụ, song lại là nhân vật chính ẩn mình điều khiển...
(các bài Con chim hay hót, Máy cày xình xịch, Đám ma bác giun, Đánh tam cúc,
Con trâu đen lông mượt, Đánh thức trầu, Tiếng trống làng, Nói chuyện với con gà
mái, Sao không về vàng ơi, vv... ).
Bài thơ Kể cho bé nghe
là bài điển hình về phép sử dụng lối đồng dao, bắt đầu bắt cuối để quay trở lại,
thú vị, hóm hỉnh, dễ thuộc dễ nhớ: “Hay nói ầm ĩ/ là con vịt bầu/ hay hỏi
đâu đâu/ là con chó vện/... Ríu ran cành khế/ là cậu chích chòe/ hay múa xập
xòe/ là cô chim trĩ.” Bài thơ này, mãi về sau, Trần Đăng Khoa có cắt bớt, sửa
lại đôi chút như văn bản hiện nay, cho hợp thời cuộc, nhưng vẫn giữ phong vị
cũ...
Bài thơ Em kể chuyện này,
lại là bài điển hình về vận dụng tục ngữ. Người Việt mình có câu tục ngữ “Ghét như hót đất đổ đi”, Trần Đăng Khoa
đã vận dụng rất tài để viết nên những câu thơ “Giặc Mỹ bị bắn rơi xuống cánh
đồng làng ta/ các chú dân quân dong nó đi xa/ còn lại dấu chân nó in trên cát/
những dấu chân/ trông vào nhức mắt/ các bạn đã đào đổ xuống ao sâu”, nhưng
rồi cá trong ao lại ăn thứ nước bẩn ấy nên các bạn đổ bỏ cá ấy đi, sau khi kể
chuyện máy bay Mỹ rơi, phi công Mỹ nhảy dù xuống cánh đồng làng bị dân làng vây
bắt. Đây cũng là đoạn thơ có sức nặng nhất trong bài thơ khá dài này.
Bài thơ Em dâng cô một vòng
hoa, câu thơ “Trăng suông sáng cả đêm rằm/ Nhịp cầu vá vội ầm ầm xe
qua” là một câu thơ tài tình. Câu sáu là câu thơ vận dụng ca dao thì câu
tám lại là một câu thơ tả thực thời chiến tranh. Để tránh máy bay Mỹ ném bom
phá hoại, người ta đã biết cách lợi dụng đêm trăng suông để sửa chữa cầu đường
cho xe qua. Những đêm trăng suông như thế, người làm đường không cần phải đèn
đuốc vẫn đủ ánh sáng để làm việc mà máy bay Mỹ trên cao cũng không thể phát hiện được mục tiêu bên dưới mà đánh
phá. Cái quan trọng, hai câu thơ này đã làm bài thơ có tính thời sự, lại kết gắn
chuyện cũ thời anh hùng Mạc Thị Bưởi chống Pháp với chuyện thời nay chống chiến
tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ.
Ở bài thơ Hạt gạo làng ta,
có câu thơ ví von so sánh rất độc đáo, ấy là “Những năm băng đạn/ vàng như lúa đồng”, nhà thơ đã ví von băng đạn
pháo súng bắn máy bay Mỹ với bông lúa chín vàng trên đồng làng, vừa so sánh về
hình thể, màu sắc, và so sánh cả về ý nghĩa, một bên là vũ khí biểu hiện của
chiến tranh, hủy diệt, chết chóc, một
bên là lúa gạo biểu hiện của hòa bình, sự sống, ấm no... Nhân đây, tôi cũng nói
giùm nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhằm cải chính lời thơ bị hát sai trong ca khúc
cùng tên được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc. Cả bài thơ gốc và lời thơ trong
ca khúc Hạt gạo làng ta đều chính xác là “Những năm băng đạn/
vàng như lúa đồng,” nhưng mấy năm gần đây, không hiểu sao, các ca sĩ biểu
diễn đều hát sai lời thơ ấy thành “Những năm bom đạn/ vàng như lúa đồng”.
Ai đời lại đi ví bom đạn với lúa đồng cơ chứ. Thật đáng tiếc. Mong là các ca sĩ
lưu tâm hát đúng lời thơ trong ca khúc này cho cả nhà thơ và nhạc sĩ nhờ !
*Những câu thơ cất
cánh và phép quy nạp, diễn dịch
Những câu
thơ cất cánh chỉ là cách nói, biểu thị một thực trạng phổ biến và xuyên suốt
toàn bộ thơ Trần Đăng Khoa. Ấy là, hầu như bài thơ nào của Trần Đăng Khoa, dù
giọng điệu kể chuyện, thì ít nhất cũng có một vài câu, hoặc có khổ thơ, xuất thần,
như chắp cánh cho cả bài sống động hẳn, bài thơ như vỗ cánh mà bay lên, thoát
khỏi sự tầm thường. Tôi nghĩ, cái tài tình của nhà thơ là ở đấy...
Ví như,
bài thơ Tiếng chim kêu, sau cái sự kể bom đạn làm cây cối, tổ
chim tan tác, chim chết này nọ, bài thơ chốt lại: “Tiếng chim như lửa cháy/
đốt lòng ta không nguôi”, tạo nên dư âm, ám ảnh, nghĩ ngợi,...
Hay như,
bài thơ Ò ó o, cũng là sự kể lể, nếu như không có cái kết: “Ôi
bốn bề/ bát ngát/ tiếng gà/ Ò ó o...Ò ó o…” thì bài thơ dễ bị chuội đi, chẳng
để lại gì.
Bài thơ Mưa
cũng vậy, mấy câu kết “Bố em đi cày về/ đội sấm/ đội chớp/ đội cả trời
mưa” đã làm nên sức đằm mà vẫn gợi của bài thơ. Hình ảnh người nông dân chống
chọi với thiên nhiên mới thật lẫm liệt.
Bài thơ Tiếng
chim chích chòe, phần đầu bài thơ là những gì tác giả thấy bằng mắt, có
tả khéo đến đâu thì cũng chẳng có gì đề bàn, nhưng bài thơ kết lại bằng mấy câu
“Nòng pháo bỗng nhiên dừng lại/ bao nhiêu cái mũ lắng nghe/ xa xa từ một ngọn
tre/ tiếng chim chích chòe/ đang hót” thì không chỉ bằng mắt bằng tai nữa,
mà là cái sự cảm, nên có sức gợi. Đặc biệt câu thơ giản đơn như không mà lại rất
tài: “Bao nhiêu cái mũ lắng nghe”….
Bài thơ Thôn
xóm vào mùa, sẽ chỉ là một bài tả quang cảnh làng xóm vào mùa gặt đơn
thuần, nếu như thiếu đi hai câu thơ ví von đầy sức liên tưởng “Thóc nở bung như sao/ Nhuộm vàng cả trời cao”.
Hay nữa,
bài thơ Thả diều, ở đấy, tác giả tả quang cảnh và cả cách thức
chơi diều như thế nào, mà người ta có thể học được cách thả diều. Như vậy thôi,
cũng thú vị đấy, nhưng bài thơ sẽ nhẹ hều nếu như không có câu kết: “Dây diều
em cắm/ bên bờ hố bom...”. Chưa đầy
chục từ, nhưng nó cái cái chốt ghim cả bài thơ không làm nó bay đi mất,...
Bài thơ Buổi
sáng sân nhà em, câu thơ: “Bố em xách điếu đi cày/ Mẹ em tát nước nắng
đầy trong khau” là câu thơ chìa khóa mở ra cả bài.
Bài thơ Em
lớn lên rồi, câu thơ: “Nhìn trời, trời bớt xa xăm/ nhìn mây, mây
cách ngang tầm cánh tay” là linh hồn cho cả bài.
Bài thơ Trận
địa bỏ không, sẽ nhẹ tênh, chẳng có gì, nếu thiếu câu thơ ví von tài
tình này “Em nhìn đáy nước trong veo/ Máy bay một mảnh cắm xiêu vỏ hà/ Thảo
nào các chú đã xa/ Thằng giặc chẳng dám bay qua nơi này”.
Bài thơ Cánh đồng làng Điền
Trì, câu thơ kết “Ái chà, con cà cuống/ Bỏ ngay vào ống bơ” ngỡ
là câu reo lên một cách hồn nhiên vô tình, nhưng không, là có dụng ý. Cả bài
thơ là quang cảnh cánh đồng với những người làm đồng qua ngôn ngữ tả thực, thì
câu kết vừa thể hiện sự có mặt của chủ thể, vừa làm cho bài thơ như cựa quậy,
sống động hẳn lên, v.v...
Ở bài thơ Gửi
bạn Chi Lê, câu thơ “Ao trường vẫn nở hoa sen/ bờ tre vẫn chú dế mèn
vuốt râu” giản dị, tinh tế mà làm
nên một vóc dáng, khí thế Việt Nam, tạo sức nặng cho bài thơ. Nhất là trong chiến
tranh khốc liệt.
Hay ở bài
thơ Mẹ ốm, câu thơ “Nắng mưa từ những ngày xưa/ lặn trong đời
mẹ đến giờ chưa tan” vừa gợi lại có sức khái quát cao.
Rồi bài thơ Tiếng võng kêu,
chỉ mấy câu “Ba gian nhà nhỏ/ đầy tiếng võng kêu” bài thơ rất gợi. Tôi
nghĩ, mấy câu thơ ấy, sẽ khiến con người ta mang theo tiếng võng đến suốt đời...
Rất nhiều,
rất nhiều những câu thơ như thế trong toàn bộ thơ ca của Trần Đăng Khoa, từ nhỏ
đến trưởng thành và cho đến tận bây giờ. Những câu thơ ấy, đặt trong văn cảnh từng
bài thơ, nó như một luận điểm trong phép quy nạp, hoặc diễn dịch theo logic
khoa học. Đây cũng chính là một điểm cơ bản trong thi pháp thơ Trần Đăng Khoa.
Từ những cái cụ thể được mô tả, trình bày trong bài thơ, rốt cuộc, cô đọng, chốt
lại ở phần kết như thế. Ở một số bài thơ, câu thơ-luận điểm được nêu ngay ở đầu
bài, để sau đó tác giả diễn giải những điều gan ruột.
Nếu như
trong các bài thơ lẻ, Trần Đăng Khoa chưa hẳn ý thức về phép quy nap, hay diễn
dịch trong sáng tác của mình, thì ở một tác phẩm dài hơi khác, trường ca Khúc
hát người anh hùng, Trần Đăng Khoa lại rất ý thức và nhất quán trong
quá trình sáng tạo của mình. Toàn bộ trường ca này, thơ thể tự do, giọng điệu kể
chuyện, tùy từng chương, từng khúc, sử dụng phép quy nạp hay diễn dịch, thì mỗi
khổ thơ lục bát là sự chắt lọc, chốt lại, giàu sức liên tưởng, khiến người ta
phải suy ngẫm, vừa là mối liên kết các đoạn, các chương với nhau tạo nên một chỉnh
thể thống nhất. Mỗi khổ thơ ấy như cọc tiêu, tiếp nối, giăng hàng, làm thay đổi
tiết tấu, từ giọng điệu kể nhanh làm chậm lại, bớt nhàm, mà lắng đọng, suy ngẫm,...
Ví như, một số khúc tôi dẫn ra đây
“Đất hát rằng: Từ đây, từ tiếng
chim này/ Làng quê đẫm máu hẹn ngày vượt lên/ Máu người như ngọn lửa thiêng/
Ngàn năm sau vẫn cháy trên sắc cờ”.
“Sự lặng im hát rằng: Lặng
im của một nhát dao/ Chém vào đá, giữa trời cao đất dày/ Hỡi ai nát với cỏ cây/
Hồn kêu thành gió những ngày bão giông”
“Lửa hát rằng: Quê
tôi-những cánh rừng hoang/ Chính trong cơn bão đại ngàn-tôi sinh/ Nuôi tôi
trong bếp nhà gianh/ Ủ là một chấm-thổi thành biển khơi”
“Mái nhà gianh hát rằng:
Ước mơ từ thuở ông cha/ Bao năm Đất Nước nghĩ ra Ngọn Cờ/ Con đường đi đến Tự
Do/Một mình mà chẳng bao giờ lẻ loi”.
“Đêm hát rằng: ... Người
ta đến lúc hiểm nghèo/ Hoặc vằng vặc
sáng. Hoặc heo hút tàn”
“Cái cánh cửa hát rằng:
Ngày mai cô sẽ hy sinh/ Một mình mình
sống một mình đêm nay/ Một mình với mọi
vơi đầy/ Mọi buồn vui, mọi tháng ngày-một đêm”
“Cái bậc cửa hát rằng: Ngày
mai lửa sẽ thiêu đồn/ Tôi còn nền cũ thì
còn mọc lên/ Cái còn thì vẫn còn nguyên/ Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan”
“Chiến dịch lớn hát
rằng: Một lần gió nổi bên sông/ Mà xanh lại sắc trời trong ngàn đời/ Mỗi khi vật đổi, sao dời/ Lại
nghe trong đất máu người ngân vang”
Thiết tưởng, cái kết cho Khúc
hát người anh hùng, ở khúc Vô cùng, chằng cần chi phải
triết lý đao to búa lớn, chỉ giản dị, gần gũi, thân thương như thế này: “Mái
gianh ơi hỡi mái gianh/ Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương/ Bóng cau vẫn ngả
ngang vườn/ Lá tre gió vẫn thổi vương
ngõ ngoài...”,
Quả là, mỗi khúc hát như nêu ra một
chân lý hiển nhiên ở đời. Quan trọng, những khúc hát ấy đều là những câu thơ
hay, chắp cánh cho trường ca Khúc hát người anh hùng bay lên mang
theo cả sức nặng của nó. Ấy cũng là cái tài riêng của Trần Đăng Khoa.
*
Nhà
thơ Trần Đăng Khoa là một người giỏi dùng từ và rất cẩn trọng về câu chữ. Ông
biên tập, sửa câu chữ, sửa thơ cho ai thì người đó đều nể phục. Ngay thơ
mình, cho đến giờ, một số bài thơ làm từ
ngày nhỏ, ông vẫn không thôi chỉnh sửa, nhuận sắc khi lựa chọn được cách diễn đạt
hay hơn, để nhiều bài thơ trước đây không bị bó buộc và có không gian mở. Ví như, đầu hạ 2024, tôi cùng Trần Đăng Khoa
vào Quảng Bình bằng phương tiện tàu hỏa, ông bảo tàu hỏa ở ta vẫn như mấy chục
năm trước khi nghe tiếng bánh lăn xập xình, nhất là những cái giật đi giật lại
khi chuyển bánh rời ga. Chợt Trần Đăng Khoa ồ lên thich thú và ngay đó ông liền
sửa thơ mình thay hai từ trong bài
thơ Đi tàu hỏa, “tàu giật mình đột
ngột/rồi vội vàng rời ga”
thành “tàu giật mình đột ngột/rồi dùng
dăng rời ga”. Quả là chuẩn và hay hơn, lại thấy được sự lưu luyến của
con tàu và cái tình của người đi,...
Bởi vậy, mỗi lần tái bản, bạn đọc có
thể tìm thấy ở văn bản mới nhất có những từ, những câu khác với văn bản cũ, thì
cũng không lạ,...
Thú vị, tôi từng được nghe Trần Đăng
Khoa đọc vanh vách nhiều bài thơ được ông làm từ thiếu thời, mà không có trong
bất kỳ tập thơ nào của ông. Đọc rồi ông toét miệng cười tự chê: “Dở và ngô nghê nhỉ”. Ông bảo, ngày ấy,
đã dám vứt đi hàng loạt bài mà mình tự cho là dở, để có tập “Góc sân và
khoảng trời” tinh như vậy. Ở tập thơ này, giờ đây, mạnh tay thì cũng có
thể bỏ đi một số bài, và ông cũng đã bỏ trong tập tinh tuyển mới đây, có bài từng
được một nhà thơ lớn đánh giá cao, ông cũng loại bỏ, hoặc lược bớt thì mới đạt
tới độ tinh túy. Nhưng mà, tôi nghĩ, cái gì cũng có tính lịch sử của nó, không
thể tùy tiện được,..
*
Là bạn học
với Trần Đăng Khoa, cùng Trần Đăng Khoa tập tọng làm thơ ở thời ấu thơ, lại
cũng chơi với ông khi về già tôi muốn kể thêm vài chuyện ngoài lề mà không phải
ai cũng biết.
Trần Đăng
Khoa là một người khá đặc biệt. Ông có khả năng ứng tác thơ. Điều này hình
thành từ khi còn nhỏ. Do nhiều người không tin, hoặc cũng có thể tò mò, người
ta hay ra đề cho ông làm. Yêu cầu viết gì, ông viết cái đó. Rất nhanh. Có bài
thành kiệt tác, có mặt trong các tuyển tập. Ông viết theo yêu cầu hay tự nguyện
sáng tác đều như nhau. Đây cũng là cái tài của ông, quả thật cũng là hiếm có.
Ngày ấy. nhiều người, nhất là các nhà quản lý văn nghệ, các nhà thơ, nhà văn nổi
tiếng, các nhà báo ở trung ương chưa hẳn tin Trần Đăng Khoa có tài làm thơ thật,
nên họ về tận nhà, mục sở thị bằng cách ra đề tài này nọ rồi bắt Khoa ứng tác tại
chỗ nhằm thử tài cậu bé. Đề tài thử tài thơ cậu bé vô cùng phong phú, từ cây cối,
đồ vật, con vật, tình huống này nọ, bất kể cái gì cũng được mang ra làm đề tài.
Thực tế, có nhiều bài thơ Khoa ứng tác đáp ứng hoặc viết theo đặt hàng của báo
này, báo nọ, ông nọ bà kia mà thành. Ví như, các bài Vuờn em, Sao không về Vàng
ơi, Cái sân, Cây dừa... là những bài như thế. Rồi sau này là cả
tập Chân dung & Đối thoại,
rồi Đảo chìm, Hầu chuyện Thượng
đế cũng vậy.
Đấy là
chưa kể, nhà thơ Trần Đăng Khoa có hàng trăm bài thơ đùa ứng tác, kiểu xuất khẩu
thành thi, khá hóm hỉnh, hài hước... Đầu năm 1975, khi học chung với nhau ở Lớp bồi dưỡng học sinh giỏi văn lớp 10 (hệ 10/10) của tỉnh
Hải Hưng (cũ), tham dự kỳ thi học sinh giỏi môn Văn toàn miền Bắc (trước ngày giải phóng miền Nam), tôi lần
đầu chứng kiến tài ứng tác của Trần Đăng Khoa khi nhóm học sinh chúng tôi trêu
đùa nhau, ra đầu đề và bắt Khoa ứng tác tại chỗ. Chỉ vài phút, Khoa đọc ngay một
bài thơ tả quang cảnh lúc trời sắp mưa, mà khi ghép các chữ cái đầu câu đúng y
với yêu cầu đề ra, mà thơ hay, hóm hỉnh, tinh nghịch kiểu học trò. Tôi còn thuộc
bài thơ ấy, nhưng xin phép không chép ra đây. Vì bài này chứa nhiều bí mật nội
bộ của nhóm nhất quỷ nhì ma chúng
tôi. Sau này, tôi còn chứng kiến nhiều lần Trần Đăng Khoa ứng tác trêu đùa,
bông lơn người này kẻ nọ trong những lúc trà dư tửu hậu, phiếm đàm nơi công sở.
Biết đâu, đến một ngày đẹp trời nào
đó, ông nổi hứng gom lại thành tập, kể cũng thú vị đấy, khéo còn bán chạy hơn cả
Góc sân và khoảng trời, Chân dung và Đối thoại. Tôi chỉ xin dẫn một
bài. Chuyện là, Đài TNVN họp cộng tác viên ở Bình Định. Các phóng viên nữ Sơn
La uống rượu như cọp. Các em đề nghị nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng làm thơ tặng. Mừng
nhờ Khoa cứu nguy. Khoa viết ngay vào giấy ăn bài thơ về rượu, chếnh choáng
ngay từ câu đầu đến câu cuối. Đúng là ma men, dù Khoa không biết uống tượu: Biển và trời Bình Định/ Sóng sánh màu Sơn La/
Ngổn ngang bao ngọn núi/ Ngả nghiêng trong xó nhà/ Ánh trăng vàng Ghềnh Ráng/
Tan trên đỉnh Chóp Pài/ Chỉ còn thần với thánh/ Bồng bềnh dưới đít chai/ Thế là
bao đau khổ/ Chẳng còn là khổ đau/ Kìa biển trời chếnh choáng/ Ngắm chúng mình
…uống nhau. Viết ngay tắp lự mà viết được như thế là tài lắm chứ. Trẻ
con thần đồng. Già nua thần lão. Thì cũng vẫn Khoa cả thôi!
ĐỒNG ĐỨC BỐN
đời và thơ “mải
mê đuổi một con diều”…
Ấy
là nhà thơ Đồng Đức Bốn,
Người yêu thơ xứ mình, hầu như
đều thuộc vài ba câu thơ của Đồng Đức Bốn. Đó là may mắn và hạnh phúc của ông
trong thời buổi loạn thi ca này,...
Những câu thơ ấy, như: “Cành hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm
vào như không”; “Mải mê đuổi một con
diều/ Củ khoai nướng đẻ cả chiều thành tro”; “Chiều nay Hồ Tây có giông/ Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm”;
“Xong rồi chẳng biết đi đâu/ Xích lô Bà
Triệu ra cầu Chương Dương”; “Đang
trưa ăn mày vào chùa/ Sư ra cho một lá bùa rồi đi/ Lá bùa chẳng biết làm gì/ Ăn
mày nhét túi lại đi ăn mày”; “Trở về
với mẹ ta thô/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ”; ‘Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm”; “Đợi
em ở trước cửa thiền/ Lá cây rụng một chiếc thuyền đang trôi” ... Đại loại
vậy. Dẫu chỉ thế thôi những tưởng cũng là đủ với người làm thơ!?... Song không,
Đồng Dức Bốn còn có nhiều hơn... Tôi nghĩ thế.
Trước tập thơ CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA (NXB Lao động, 1993), Đồng Đức Bốn xuất
bản tập thơ đầu tay, CON NGỰA TRẮNG VÀ RỪNG CÂY CỎ ĐẮNG (NXB Văn học, 1992), và sau đó, từ năm 2000 đến năm 2006, Đồng Đức
Bốn còn xuất bản thêm 4 ấn phẩm nữa, nhưng riêng tập CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA, với 112
bài thơ ở vào thời kỳ tác giả vừa độ chín sáng tạo, thiết tưởng cũng đủ để nhận
diện một tài năng thơ Đồng Đức Bốn, đặc biệt thể Lục bát.
Quả thật, tập "Chăn trâu đốt lửa", thơ lục bát
chiếm già nửa. mà hầu như bài nào cũng đọc được. Vậy là, lục bát viết được như
thế không phải dễ, không phải ai, nhà thơ nào cũng làm được.
Nào thử xem Đồng Đức Bốn làm trò gì
với mớ lục bát của mình?
@ Trước hết, Đồng Đức Bốn sử dụng
ngôn ngữ dân gian, câu cửa miệng, thản nhiên nói ra như chẳng có gì, mà lại có
gì vậy.
Ví như, bài CUỐC KÊU, mở đầu: “Cuốc kêu như thể cuốc kêu/ Ngàn năm cái
giọng vẫn đều thế thôi”, đúng là chẳng có gì thật, nói ra là để nói, thế
thôi. Câu tiếp theo: “Bụi tre bụi dứa tan
rồi/ Cuốc kêu ai biết cho lời cuốc đâu”, thấy như có cái gì đó rồi. Câu
tiếp: “Đường đời còn lắm bể dâu/ Trắng
đen còn một Mỵ Châu để buồn”, có chuyện lớn rồi đó, mà chuyện quốc gia đại
sự, chuyện hưng vong của cả một dân tộc. Lại tiếp: “Thì cho chớp bể mưa nguồn/ Cuốc kếu vẫn giữ cái hồn cuốc kêu”, đã
là sự suy ngẫm, triết lý sinh tồn rồi đấy. Câu tiếp nối: “Tôi nghe nẫu cả những chiều/ Câu thơ ngã xuống đổ xiêu quán chùa”,
trở về với suy tư cá nhân về lẽ đời. Và bất ngờ: “Thoắt nghe dựng tiếng gươm khua”, kết để mở ra một chương mới,...
Tôi thích bài thơ này, bởi tính giản dị như không của nó, mở đầu là nói một
việc thường nghe thường thấy, ai cũng biết, song chẳng mấy người lưu tâm, ấy là
tiếng cuốc kêu mỗi ngày, chẳng cần đao to búa lớn, rủ rỉ dẫn dắt đến việc đại
sự, lẽ sinh tồn và bài học giữ nước cả cả dân tộc.
Hay như bài ĐỢI CHỜ THÁNG BA, mở đầu
cũng bằng một việc hết sức bình thường: “Bây
giờ chờ đợi tháng ba/ Tôi ra đứng ở cây đa đầu làng”. Đúng là chắng có gì,
thậm chí là vu vơ vớ vẩn, cũng phải. Song câu tiếp theo: “Khói nhà ai cứ mọc ngang/ Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều”, thì
quả là bắt đầu có chuyện rồi. Nào xem có chuyện gì: “Lề dường trong những chiếc lếu/ Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày”,
thấy lộ diện chút về một làng quê nghèo, chẳng mấy ai mua bán gì. Nhưng tiếp
đến: “Ngả nghiêng mấy lão thợ cày/ Rượu
say vác cả cối chày nện nhau”, thì rõ rồi, nghèo, không có việc làm, sinh “nhàn cư vi bất thiện”. Ai cũng biết,
tháng ba là tháng giáp hạt, hay đói kém. Làng xóm giàu có, người dân của ăn của
để thì đỡ, chứ vốn thiếu thốn triền miên thôi rồi. Vì nghèo nàn, đến thần phật
cũng mất thiêng, bất lực, còn dân chúng lo thân chẳng xong, nghĩ gì đến thần phật,
mà lễ bái: “Miếu thờ phật tượng ngồi đau/
Cửa thiền rêu đã lên màu cổ xưa”. Để rồi kết ở câu thơ khiến người ta phải
suy nghĩ: “Tháng ba vẳng tiếng chuông chùa/
Bây giờ tôi đợi bóng vua về làng”. Bài thơ với một cái kết như vậy là tiếng
chuông cảnh tỉnh, báo động. Vua quan gì đâu, ấy là lời thỉnh cầu khẩn thiết về
một sự quan tâm của các nhà quản lý đất nước, cần phải làm gì đó để thay đổi cơ
chế, đem lại công ăn việc làm cho người dân, thoát nghèo, làm giàu,...
Cái lối mở đầu cửa miệng thản nhiên
như không, để rồi gây sự, xưng mọc về những chuyện đâu đâu ấy, khá phổ biến
trong thơ Đồng Đức Bốn. Có thể thấy như vậy trong các bài Cơn mưa dừng ở Sóc Sơn, Chợ
buồn, Cái đêm em ở với chồng, Hoa
dong riềng, Hội Lim, Sông Thương ngày không em, Đàn buồn lại mắc dây oan, Bờ sông, Nhà quê, và nhiều bài thơ khác
của ông...
@
Thơ Đồng Đức Bốn nhìn chung là Gợi.
Trong lời Tựa thơ Đồng Đức Bốn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, đã phân chia ra
mấy loại người làm thơ (loại một là các
thiên thần, loại hai là những người khởi nghĩa,...), và ông đưa ra nhận
định “Đồng Đức Bốn là một nhà thơ, một
người khởi nghĩa”. Tôi chẳng rõ, nói như vậy, Nguyễn Huy Thiệp định dạng
Đồng Đức Bốn thuộc loại nào?
Tôi thì thấy, thơ Đồng Đức Bốn nhin
chung là gợi.
Nhà nghiên cứu, phê bình văn học
nổi tiếng đời Thanh là Viên Mai, trong cuốn sách "Tùy Viên thi thoại" của mình, đã nghiên cứu thơ ca Trung Hoa
cổ đại để đưa ra quan điểm, thơ trước tiên ở gợi (sức gợi), và cùng
với đó là ý tứ, ngôn từ, nhạc điệu,... Như vậy, thơ hay thì quan
trọng ở sức gợi, rồi theo đó là ý, ngôn ,nhạc. Tôi đồng tình với quan điểm này.
Thế nên, cũng như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nhận định, tôi thấy thơ Đồng Đức Bốn
hay.
Lại xem thơ Đồng Đức Bốn gợi thế
nào ?
“Khói nhà ai cứ mọc ngang/ Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều” (Chờ đợi tháng ba), câu thơ thật gợi,
khiến người ta cứ phải hình dung xem sao. Hay như, gợi làm sao: “Chăn trâu đốt lửa trên đồng/ Rạ rơm thì ít
gió đông thì nhiều” (Chăn trâu đốt
lửa): “Em như chim bay về ngàn/ Để
rơi một cánh hoa tan nát chiều” (Sông
Thương ngày không em): “Nhà em ở chỗ
vòng quanh/ Sao tôi đi mãi không thành đường đi” (Về Nhổn tìm em): “Cái đêm em
ở với chồng/ Để ai hóa đá bên sông đợi đò/ Cái đêm hôm ấy gió mùa/ Tơ nhện
giăng đến cổng chùa thì tan” (Cái
đêm em ở với chồng): “Chuông chùa
tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò” (Bờ sông): “Bây giờ tuổi đã hoàng hôn/ Tôi ra đứng gió đợi buồn trên sông” (Đợi buồn)...vv... Thơ Đồng Dức Bốn, rất
nhiều những câu thơ giàu sức gợi như thế,...
Tôi nghĩ, thơ Đồng Đức Bốn, nhờ sức
gợi mà hấp dẫn người đọc. Nó khiến người ta liên tưởng này nọ, gợi mở để người
ta có cảm giác được tham gia vào ý thơ,… Thích là thế.
@
Liên kết lỏng làm nên sức bền thơ Đồng Đức Bốn,
Thơ Đồng Đức Bốn, phần lớn cả bài
không rõ ý tứ, liên kết các khổ thơ trong bài cũng lỏng, thậm chí, câu trước,
khổ thơ trước như chẳng liên quan gì đến câu sau, khổ thơ sau. Ấy vậy, mỗi câu,
mỗi khổ thơ lại có vai trò làm cọc tiêu cho các câu thơ trong bài nương tựa vào
nhau mà đứng vững, đến mức, nếu lược bớt đi lại cảm thấy chống chếnh. Các bài
thơ Chăn trâu đốt lửa, Cuốc kêu, Chờ dợi tháng ba là những bài thơ có ý tứ rõ ràng, liên kết khá
chặt chẽ, chiếm số ít trong thơ Đồng Đức Bốn. Nhìn chung, thơ ông thuộc dang
liên kết lỏng, đơn giản, bởi mỗi câu thơ đều mang ý tứ riêng và dường như hoàn
thành xứ mệnh của nó rồi.
Này đây, bài Chợ buồn, cả thảy 4 cặp lục bát: “Chợ buồn đem bán những vui/ Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em”, nếu
chỉ ngắn gọn thì thế cũng thành bài thơ rồi. Nhưng tác giả vẫn thêm “Chợ buồn bán nhớ cho quên/ Bán mưa cho nắng
bán đêm cho ngày”, rồi lại thêm nữa “Chợ
buồn bán tỉnh cho say/ Bán thương suốt một kiếp này cho yêu”, cũng không
thừa, vẫn thêm nữa để kết “Tôi giờ xa cách bao nhiêu/ Đem thơ đổi lấy
những chiều tương tư”. Mấy câu sau, tách riêng ra, mỗi cũng thành câu đủ
làm nên ý của nó, song tất cả xếp liền với nhau lại làm nên sự dày dặn cho cái
kết chung, mà cũng là tâm trạng thực của nhà thơ.
Bài thơ Sông Thương ngày không em, cũng là một bài thơ như vậy. Câu đầu “Không em ra ngõ kéo diều/ Nào ngờ được mảnh
trăng chiều trên tay”. Vậy thôi, cũng gợi và mở rồi, để cho người ta mặc
sức liên tưởng. Nhưng vì muốn đi đến cái kết chở tâm tư của mình “Không em từ bấy đến giờ/ Bàn tay vẫn héo như
cờ chịu tang” thì tác giả phải thêm “Sông
Thương như gỗ hóa trầm/ Mùi hương để vết tím bầm trên da”, và “Sông Thương từ buổi em xa/ Tay anh quờ xuống
hóa ra bị chàm”. Cảm thấy chưa đủ, tác giả dông dài thêm mấy cặp lục bát
nữa, mà câu nào cũng đủ ý của mình “Em
đi như chim về ngàn/ Để rơi một cánh hoa tan nát chiều”, “Tôi đi trên dòng sông gai/ Lối chân chim đâu
trên vai thành hồ”. Có vẻ như chúng chẳng liên quan gì đến nhau, nhưng mỗi
câu đều khá gợi, nên đứng được, riêng mình, hay nương tựa vào nhau thành bài
thì vẫn ổn.
Nhiều bài thơ Đồng Đức Bốn là vậy,
chiếm số đông, nhất là thơ lục bát. Có cảm giác, khi sáng tác, tác giả chắp nối
các câu thơ riêng vào với nhau, hoặc tác giả không làm chủ được mình, mặc cho
câu thơ dẫn dắt mình đi, lạc bước, để rồi khi giật mình tỉnh giác, ngơ ngác tìm
đường trở về. Các bài Đàn buồn lại mắc
dây oan, Thôi đừng hát nữa người ơi,
Chiều mưa trên phố Huế, Em bỏ chồng về ở với anh không,... đều
thuộcvdạng này.
Lối kết cấu lỏng, dựa vào các câu
thơ cọc tiêu ấy làm nên sức bền cho thơ Đồng Đức Bốn. Tựu chung, bài có thể
dông dài, hay lan man, không rõ ý, thậm chí ý tứ tản mát đi chăng nữa, thì nhờ
có một, đôi câu thơ hay, khiến bạn đọc thích thú mà thể tất, mà bỏ qua cho cái
tội dông dài của tác giả. Bởi người ta, chỉ cần nắm bắt một câu thơ giàu sức
gợi, ấn tượng, hay là thấy đủ, thuộc nagy được, đặng ngâm ngợi hay mang ra bình
luận, tán thưởng vui bạn vui bầu lúc trà dư tửu hậu. Vậy là Đồng Đức Bốn làm
được điều này, bởi thơ ông có nhiều câu như thế !...
@
Với lại, Đồng Đức Bốn có cái lối, cứ “xưng xưng mọc mọc”, cũng có thể cho là dùng phép “thậm
xưng” nói ra cái ý của mình, đặt điều, nói quá lên, đem gán ghép cho
người ta những thứ ấy, rồi lấy đó làm cái cớ, chỗ nương tựa, để mà buồn rầu,
khổ ải, than vãn này nọ, kiểu bắt đền, ăn vạ,... Ở ngoài đời, nếu ai mà sống và
ứng xử thế, cứ cường điệu, làm quá lên mọi chuyện thì thật không ổn chút nào,
song trong thơ thì lại ổn, thậm chí là đắc địa, nếu biết tiết chế. Tôi nghĩ,
Đồng Đức Bốn rất chi đắc địa và thật lợi hại với thủ pháp này.
Ví những đây: “Em đi từ hạ vào thu/ Gặp tôi ở chốn sương mù chưa tan/ Em đi từ phía
gian nan/ Gặp tôi ở chỗ cung dàn dứt dây” (Về phố Hàng Tre); “Một chiều
về phố Hàn Thuyên/ Sao em lại nỡ bỏ quên tôi rồi” (Về phố Hàn Thuyên); “Anh từ
trong em bước ra/ Tiếng thương tiếng nhớ gấp ba chuông chùa/ Em từ anh ra lạ
chưa/ Một ngày những có bốn mùa đổi thay” (Chuông chùa Quán Sứ); “Tôi
ngồi làm thơ cho ma/ Và coi quỷ dữ như là tình nhân/ Chán chơi với các vị thần/
Tôi đi tìm cỏ mùa xuân đắp mổ” (Viết
bên hồ Hai Bà); “Gọi em một tiếng
tưởng xong/ Không ngờ ai nấp trong lòng trộm nghe” (Ở phố Bà Quẹo); “Có ai yêu giả
bao giờ/ Để tội cái ngõ gọi ngờ Tạm Thương/ Tôi về ngày ấy nhiều sương/ Mà sao
chỉ một giọt vương trong lòng” (Ngõ
Tạm Thương); “Phố tình bạc bẽo bao
nhiêu/ Mà sao tôi vẫn cứ yêu như thường” (Nhà em ở sát chợ Mơ); “Ước
gì mưa mãi chẳng tan/ Để cho sấm cứ râm ran khắp trời/ Để cho em nép vào tôi/
Ôm chung một giọt mưa rơi xuống lòng” (Phố
Nối mưa rào); “Màu hoa đỏ một nụ cười/ Lặng im mà sóng luân hồi dâng cao” (Hoa dong diềng); “Một mình đi với một đêm/ Một đêm đi với sấm rền trong mưa” (Ở phố Bà Quẹo); “Chiều nay Hồ Tây có dông/ Tôi ngồi trên sóng mà khong thấy chìm” (Chiều nay Hồ Tây có dông)...vv...
Nhiều lắm những câu thơ như thế, nên có thể xem, “thậm xưng” là thủ pháp
phổ biến được Đồng Đức Bốn dung, đạt hiệu quả cao.
@
Nếu như trong thơ, Trần Đăng Khoa và trong văn, Nguyễn Huy Thiệp đều chú trọng
và rất tài tình trong nghệ thuật tạo dựng không gian truyện, thì trong thơ Đồng
Đức Bốn, cái không gian nghệ thuật ấy lại lễnh loãng, thậm chí chẳng có không
gian nào. Thế nhưng, gần như bài thơ nào, cũng có câu thơ hay và may sao, tự
thân câu thơ ấy làm nên không gian riêng cho mình, hư ảo, ấn tượng, ám ảnh, để
người đọc phải nhớ và vì thế cứu vớt cả bài thơ.
Ví như: Bài thơ Bờ sông, câu kết “Bờ sông có một con đò/ Gác chèo ông lão nằm lo trăng buồn”. Tự
thân, tạo được không gian riêng có, chẳng cần đến mấy câu thơ trên “Bờ sông hoa cải hoa cà/ Ước chi áo tím như
là ai mong”; “Chuông chùa tiếng đục
tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò”. Hay như: “Tôi là một kẻ mồ côi/ Thế gian mất, tôi còn
tôi một mình” (Nửa dêm Đà Lạt) ;
Hay như bài Thăm mộ Nguyễn Du, tác
giả luận đề “Đời Kiều sao lắm tái tê/ Đời
tôi sao lắm đam mê chưa thành”, rồi những câu thơ tiếp nối cứ lan man mỗi
câu một ý cho đến khi thấy cần thôi thì tác giả vội kết: “Tôi đi về vẫn dọc ngang/ Câu thơ thập thững nén nhang cho người”, may câu này lại khá ấn tượng ...Hay nữa, trong
bài thơ Tôi là vua không có ngai,
câu mở đầu tuyên bố thản nhiên như thế, tác giả triết luận bâng quơ theo cái
kiểu “nói đại không chịu trách nhiệm”,
là để đi đến cái kết bất ngờ, ngẫm ra mới thấy hay “Chìm trong vương quốc của thơ/ Không cho người được may cờ để treo”,...v.v...
@ Lại có cảm giác, cứ như tác giả
sướng gì viết nấy, rồi đem chúng thả chung vào một cái ao và cố tình khoắng
loạn lên cho các câu thơ riêng lẻ chao động, trôi dạt, va quệt, dan díu vào
nhau mà thành. Là tôi cứ hình dung vậy khi đọc thơ Đồng Đức Bốn, chẳng hay?
Ví như: Bài thơ Nhà quê, tác giả chia làm mấy khúc, là
cách để đỡ phải mất công nhào luyện vo viên chúng với nhau, bởi nhà quê thì có
cả ngàn vạn chuyện, biết nói sao cho hết, mà có nói ngày này sang ngày khác,
năm này sang năm khác cũng không hết chuyện. Thế nên, tác giả chỉ buông vài câu
“Nhà quê có cái giếng đình,”, rồi “Nhà quê chân lấm tay bùn,” đã thấy chẳng
cần phải con cà con kê nữa, dẫu có mang chuyện Thị Màu ra bàn thì mãi cũng
nhàm, nên thôi, túm chuyện vào một mớ cho xong “Bao nhiêu là thứ bùa mê/ Cũng không bằng được nhà quê của mình,...”,
tự hào kiểu nhà quê, ra điều nhà quê của tớ còn ối chuyện để kể nhưng đây không
thèm nhé,... Đây cũng là thói ma lanh, láu cá đầy chất “nhà quê” của Đồng Đức Bốn mà nhà thơ sử dụng trong thơ mình,...
Hay như, bài Vu vơ
chùa Hương, gồm mấy phần, mỗi phần một ý, ngưòi ta có thể quên, song sẽ khó
quên câu thơ trong bài, như "Có gì
trong tiếng chuông êm/ Quả mơ vẫn héo cả đêm lẫn ngày/ Chùa Hương nghi ngút
hương bay/ Phật ngồi cũng héo cả ngày lẫn đêm,". Rồi như bài Qua nhà người yêu cũ, nhà thơ thấy gì
nói đó, vu vơ cho có chuyện, nếu như thiếu đi câu hay “Vẫn còn thấy vướng trên môi/ Tóc em một sợi rong chơi lạc vào” thì
bài thơ nhạt hoét. Nữa là bài thơ có cái tít rất kêu Thơ viết gửi người tình khi tôi đã chết, cũng đâu có gì ghê gớm, to tát, chỉ vu vơ thôi, nếu
như không có câu dỗi mình giân người “Chết
rồi tôi vẫn làm người/ Để nhân những nỗi đau đời cho em”... Chịu khó tìm
kiếm, nhặt nhạnh trong thơ ông, dạng thức này không hiếm. Tôi cho, đây cũng là
một dạng thức hợp làm nên chất Đồng Đức Bốn.
Bình sinh lúc Đồng Đức Bốn còn chưa
là gì cho đến khi trở thành nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người biết đến tôi có
gặp ông mấy lần. Đôi lần là ở tòa soạn Báo
Nông nghiệp (nay là Nông nghiệp Việt
Nam) trên phố Ngô Quyền, Hà Nội, và một lần đâu đó tại nhà riêng nhà thơ
Trương Hữu Lợi. Ngày ấy, một dạo tôi cộng tác thường xuyên cho một chuyên mục
của Báo Nông nghiệp, chuyên bình các bài thơ về đề tài nông thôn, nông dân,
nông nghiệp (3N). Tôi đã chọn bài thơ Chăn
trâu đốt lửa của Đồng Đức Bốn để bình. Tình cờ chạm mặt nhau ở đấy, Đồng
Đức Bốn nói lời cảm ơn vì việc tôi đã làm, sau đó ông rủ tôi xuống quán chè
chén lề đường cửa tòa soạn báo cho tiện nói chuyện. Ông lấy trong cặp tập thơ
mới xuất bản ký tặng tôi, ấy là tập Chăn
trâu đốt lửa (NXB Lao động, 1993),
mà sau này, đọc lại thật kỹ, tôi cho rằng đây là tập thơ hay, nếu không muốn
nói tập thơ ấy dồn tụ tinh túy thơ ca của Đồng Đức Bốn ở độ chín, tập hợp được
những bài thơ hay, có nhiều câu thơ hay để bạn đọc, người yêu thơ xứ mình đến
giờ vẫn nhớ và mang ra bình luận.
Nói như vậy, là để thấy, trước đó
tập thơ đầu tay (Con ngựa trắng và rừng
quả đắng), và sau đó là mấy tập thơ nữa, thì cái người ta nhắc đến (sẽ còn nhắc đến) phần lớn là những bài
thơ, câu thơ nằm trong tập Chăn trâu đốt
lửa. Ngay khi làm tập, Đồng Đức Bốn đã nhặt nhiều bài thơ trong tập thơ đầu
tay (Con ngựa trắng và rừng quả đắng)
mang sang tập Chăn trâu đốt lửa. Rồi
sau đó, ông vẫn tiếp tục lựa chọn một số bài thơ hay, được người đọc yêu thích
sang làm cốt cho tập thơ mới của mình. Đặc biệt tập thơ cuối cùng của Đồng Đức
Bốn xuất bản năm 2006 vào năm ông mất, dày hơn nghìn trang, có thể xem là tuyển
tập thơ Đồng Đức Bốn (Chim mỏ vàng và
hoa cỏ độc, NXB Hội Nhà văn). Lại
cũng không có nghĩa, những tập thơ sau không có những bài thơ hay, câu thơ ấn
tượng. Bởi dù có hay không những tập thơ khác của ông thì giờ đây trên không
gian mạng, người ta có thể tìm đọc hàng trăm bài thơ được nhặt ra từ các tập
thơ của ông, mà có thể xem đó là những bài thơ hay, hoặc được người đọc yêu
thích trong toàn bộ thi cả của Đồng Đức Bốn.
Có điều, không may cho Đồng Đức Bốn
là không mấy thọ, hưởng dương chưa đến tuổi lục tuần bởi căn bệnh hiểm ghèo,
tuy đã thành danh và thơ vừa độ chín.
Giả sử, trời cho ông thọ thì nhà thơ vẫn có thể cho ra thi phẩm hay. Đáng tiếc
là vậy. Song tôi nghĩ, với chất thơ này, cùng các thủ pháp sáng tác mà tôi đã
nêu, Đồng Đức Bốn khó có thể tiến xa hơn nữa, hoặc giả chỉ để làm mới mình
thôi. Còn như, vẫn tiếp tục giọng điệu ấy, chỉ càng thêm cũ, thêm nhàm, thậm
chí, không khéo còn làm nhạt nhòa đi cái đặc sắc mình từng có. Bằng chứng, tính
từ thời điểm Đồng Đức Bốn bắt dầu tập tọng thơ phú (khoảng năm 1980) cho đến lúc ông qua đời (2006), với mấy trăm bài thơ, thì đến nay, số bài thơ được người yêu
thơ đọc nhiều nhất và thích nhất của ông cũng độ chừng đâu đó mươi bài (Trở về với mẹ ta thôi, Vào chùa, Chăn trâu
đốt lửa, Em bỏ chồng về ở với ta không, Đời tôi, Chợ buồn, Chờ đợi tháng ba,
Nhà quê, Cái đêm em ở với chồng, Đêm sông Cầu, Bờ sông,...). Tất nhiên, nếu
tính theo đơn vị câu, thơ Đồng Dức Bốn khá có nhiều câu thơ hay, gợi, được
ngươi ta nhớ và thích,... Chí ít, ông có sự vinh hạnh vì mình đã gây được ảnh
hưởng đến người khác.Và tôi tin thế, bởi đã thấy, những câu thơ gợi và hay của
Đồng Đức Bốn thực sự ảnh hưởng đến nhiều cây bút thơ sau ông, cũng như một thời,
ối cây bút văn xuôi xứ ta bị ảnh hưởng, chi phối bởi giọng điệu, khí chất
Nguyễn Huy Thiệp, trong sáng tác của mình,...
Chuyện cuộc đời ông, tôi không mấy
biết về Đồng Đức Bốn. Tuổi Mậu Tý, mệnh "Tích lịch hỏa" cùng với ông (sinh 1948), làng văn chương xứ
Việt mình nhiều người có tài (Văn Chinh,
Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Hiếu,... ). Bản thân Đồng Đức Bốn xuất thân con nhà
nông dân nghèo ở An Hải (Hải Phòng), song ông lăn lộn qua nhiều loại nghề (Thanh niên xung phong thời chiến tranh chống
Mỹ, rồi thợ cơ khí qua nhiều đơn vị, rồi nữa là thương nhân), nên có thể
xem là người từng trải, giàu vốn sống. Đó là lợi thế của ông. Tôi cũng từng
nghe người ta nói nhiều về đời thơ, việc xuất bản thơ và chuyện lang bạt đó
đây, giao lưu bạn bè, làng văn chương,... hay nhiều mà dở cũng có, thành giai
thoại cả, lại thật hư chẳng mấy rõ...!?...Nên không dám bàn.
Tôi nghĩ là, trong cái rủi lại có
cái may, bởi rời bỏ dương thế, ông chẳng còn phải đau đời, vật vã với chuyện
chữ nghĩa, thơ phú nữa. Kể từ khi dính cái bẫy thi ca, coi như ông đã vướng
nghiệp, đánh cược đời mình, dại dột "mải
mê đuổi một con diều" rồi. Song còn may mắn hơn nhiều người, cả đời thơ phú tay tắng vẫn hoàn tay trắng, còn
ông, với ngần ấy thôi, nhất là thơ lục bát, Đồng Đức Bốn đã đủ để ngạo với đời
rồi.
Hơn chục năm trước, trong một vài bài
viết, khi bàn về thơ Việt Nam hiện đại, riêng thể lục bát, tôi đã mạo muội khi
xếp bốn nhà thơ ngồi bốn góc chiếu Lục bát, ấy là Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh,
Phạm Công Trứ, và Đồng Đức Bốn. Giờ thì trong chiếu thơ Lục bát ấy, tôi nghĩ,
vẫn còn cả bốn vị này, nhưng chẳng thể trấn giữ riêng mình mỗi người một góc
chiếu, mà xin các ngài phải xê dịch đôi chút để nhường chỗ cho mấy người khác
nữa cùng ngồi,...Ví như, Nguyễn Tân Quảng chẳng hạn.
Tôi muốn ngưng bài viết này, bằng
câu thơ kết trong bài “Đời tôi” của
Đồng Đức Bốn sáng tác năm 1986. nghĩa là khi ông mới tập tọng thơ phú, vậy mà
đã mang tính tiền định: “Đời tôi giàu ở
chiêm bao/ Bây giờ ngồi hút thuốc lào với trăng”,... ./.
TRIẾT LÝ “đèn vàng”
TRONG “không gian Nguyễn Huy Thiệp”
1.
Người ta bảo ông là người giăng lưới
bắt chim
Ấy là Nguyễn Huy Thiệp !
Ông là ai? Nhà đoản thiên tiểu thuyết,
nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ? Là tất cả các nhà ấy,
theo tôi đều xứng đáng cả (mặc dù có thể
chính ông chẳng cần thế ).
Tôi muốn viết về ông, song khó quá.
Khó bởi ông là một người quá nổi tiếng, không riêng ở Việt Nam, mà cả ra thế giới.
Khó nữa, bởi đã có quá nhiều người viết về ông. Trần Đăng Khoa bảo là mình đã bắt
mạch được Nguyễn Huy Thiệp, phát hiện ra ông nhà văn này mắc căn bệnh nói ngược, và còn xem đấy là ngón nghề của ông ta, như vậy bệnh
này thành thể mạn tính, có chữa cũng
không khỏi được, nên cách tốt nhất là không phải kê đơn gì sất, để mãi cơ thể tự
miễn dịch rồi khắc khỏi. Ha, thày lang băm này cũng tài ra phết. Tôi
nghĩ, mình có cách nhìn, cách hiểu của riêng mình. Cũng như ký họa người vậy. Bắt
được thần thái người được ký họa hay không, vả lại khuôn mặt người ta, góc nhìn
mỗi lúc mỗi khác chứ ?
Song trước tiên là cảm nhận về con
người ông. Trong mắt ông, tôi chẳng là ai cả, chắc chắn là thế. Còn với tôi,
ông là một người cầm bút đáng kính trọng (tôi thích từ đáng nể hơn). Nói tôi biết
ông, đơn giản là tôi đã từng mò đến nhà ông ở Khương Trung cùng với nhà văn Văn
Chinh và mấy anh ở toà soạn báo Nông
nghiêp Việt Nam, khi ông mới nổi tiếng với dăm truyện ngắn gây chấn động
văn đàn Việt Nam. Tuy nhiên, lần ấy ông vắng nhà nên chúng tôi chỉ chuyện trò
xã giao với vợ ông và ngắm cơ ngơi vườn tược đơn sơ của ông. Và nó cho tôi cảm
giác ông là một hàn sĩ ẩn dật, song tài năng xuất chúng, nhất là khi ấy, người
ta tò mò nói về xuất thân hàn vi của ông, một anh giáo dạy môn phụ, lịch sử, ở
đồng rừng Tây Bắc, rồi bỏ về thủ đô làm "thợ vẽ" ở Công ty Thiết bị và đồ dùng học sinh. Với làng văn
Hà Thành dạo ấy, Nguyễn Huy Thiệp như một loài hoa rừng, ví như hoa anh túc hay
một loài hoa hoang dại sặc sỡ và thơm hắc thế nào chưa rõ, nhưng lạ. Khác hẳn với
lần ấy, sau này tôi cũng đã gặp ông đôi ba lần, toàn vào dịp giáp Tết Nguyên
đán khi Báo Nông nghiệp Việt Nam tổ
chức gặp mặt các cộng tác viên trong năm, nhất là những tác giả có bài in trong
số tết. Để ý, trong mấy lần đó, giữa không khí ồn ào của bia ruợu, ông đều yên
vị lẳng lặng, thỉnh thoảng trả lời một vài câu hỏi của ai đó, điềm nhiên vô sự.
Tôi không phải là người nổi tiếng nên không biết cảm giác và sẽ ứng xử như thế
nào trước đám đông, song quan sát ông, tôi thấy hình như ông cũng không là người của đám đông thì phải. Ông như không
tồn tại ở những chỗ đó, mặc dù ông nổi tiếng.
Tôi luôn có một cái nhìn về con người
này, mà cảm nhận đầu tiên đã chi phối suy nghĩ của tôi về ông và cả sự nghiệp
văn chương của ông, khi ông còn khuất lấp, chỉ qua một truyện ngắn tôi tình cờ
đọc được trên Báo Văn Nghệ từ lâu lắm rồi. Đó là truyện ngắn Huyền thoại phố phường. Khi đọc truyên
này, chỉ ít dòng đầu tôi đã như bị một thứ ma lực mê dụ, bàng hoàng vì thích
thú. Đọc chậm lại lần thứ hai vẫn thấy hay, và lần này, tôi đã đủ bình tĩnh để
nhìn nhận xem nó hay ở chỗ nào và vì lẽ gì. Tôi nhìn tên tác giả, Nguyễn Huy
Thiệp. Một cái tên lạ hoắc, rõ là mình chưa thấy bao giờ.
Sau này, khi tiếng tăm nổi như cồn với
hàng loạt truyện ngắn xuất sắc liên tục đăng đàn được bạn đọc yêu thích như:Tướng về hưu, Con gái thuỷ thần, Trương Chi,
Chảy đi sông ơi, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Những người thợ xẻ, Bài học
nông thôn, Không có vua, Muối của rừng, Giọt máu, Thương nhớ đồng quê, Sống dễ lắm, Như sương như khói bay v.v…
Nguyễn Huy Thiệp có biệt tài đóng dấu
ấn của mình vào các nhân vật lịch sử, qua hàng loạt truyện như Trương Chi, Chút thoáng Xuân Hương, Kiếm sắc,
Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam, cũng như một số truyện ngắn
sau này lấy cảm hứng từ người này, người kia (Đưa sáo sang sông, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt ...) . Ông có biệt
tài khắc họa các nhân vật lịch sử từ góc nhìn khác, làm họ sống động hẳn lên,
chứ không phải là các bức tượng chết cứng, khiến họ vừa là thần thánh vừa kẻ đời
thường trần tục. Theo tôi cái khác người của Nguyễn Huy Thiệp là vậy. Tôi xin
không bàn về lối kể chuyện, câu chữ, hội thoại của Nguyễn Huy Thiệp, bởi đã có
quá nhiều nhà phê bình viết về những điều đó rồi. Tôi thì tôi phục sát đất, vì
có chuyện hay không có chuyện, ông cũng phẩy vài nhát là ra ngay diện mạo, hơi
hướng. Đấy là cái tài trời cho, tôi nghĩ thế, bởi chẳng có học hành, kiến thức,
ai dạy dỗ mà thành thế được. Cái tài "phảy"
của ông lan sang cả tiểu luận, phê bình. Vì thế mới có chuyện, Nguyễn Huy Thiệp
phảy ra Đồng Đức Bốn, Nguyễn Bảo
Sinh, Lê Kim Giao... Lẽ dĩ nhiên, họ cũng phải có gì thực chất của họ thì Nguyễn
Huy Thiệp mới phảy ra được. Có bột mới
gột nên hồ mà.
Về Nguyễn Huy Thiệp từ khi ông xuất hiện cho đến
giờ ông không còn nữa nhưng nhắc đến các tác phẩm của ông, luôn có hai luồng
khen chê. Mặc thế, tôi yêu thích văn của ông và tôi nhìn nhận chúng theo cách
nghĩ của riêng tôi. Để gia tăng sức hiểu,
tôi đã phải đọc lại Nguyễn Huy Thiệp.
Ở đây, tôi không lạm bàn về các thể loại khác (như
kịch, tiểu thuyết và phê bình văn học) của Nguyễn Huy Thiệp. Cũng không bàn
về thơ ông, vì ngoài đôi ba khúc thơ ông ngẫu hứng đưa vào một số truyện ngắn với
ý đồ riêng, nghe đâu Nguyễn Huy Thiệp từng làm thơ. Tôi chỉ khoanh lại các sáng
tác thuộc thể loại truyện ngắn của ông với ý muốn đi tìm thi pháp của Nguyễn
Huy Thiệp ở thể loại này.
Đọc lại truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, với tôi là một sự ngẫu
nhiên. Có một gợi ý của nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến về sự trợ giúp từ nền tảng số
Youtube, tôi đã nghe đoc các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, thức dậy trong
tôi cảm xúc, tâm trạng những ngày xưa còn chưa xa, khi hóng từng truyện ngắn của
ông xuất hiện trên báo chí,… Tôi nghe lại một loạt truyện Sống dễ lắm,
Không có vua, Những bài học nông thôn, Bài học tiếng Việt, Tội ác và
trưng phạt, Huyền thoại phố phường, Chảy đi sông ơi, Muối của rừng, Quan âm chỉ
lộ, Sang sông, Mưa Nhã Nam, Ông Móng, Giọt máu, Con gái thủy thần, Những
người thợ xẻ, Như sương như khói bay... Những truyện ngày trước tôi rất
thích, đọc đi đọc lại nhiều lần gần như thuộc, vậy mà giờ nghe lại thấy quen mà
lạ. Có lẽ, sau nhiều năm, đời sống xã hội thay đổi nên cách nhìn nhận, đánh giá
cuộc sống của tôi cũng khác, tâm trạng đọc cũng khác trước. Nếu ngày trước, tôi
háo hức đọc như nuốt từng chữ từng câu rồi bị cuốn theo ma lực mặc cho Nguyễn
Huy Thiệp dẫn dắt, thì nay, tôi nghe người dọc diễn cảm với tâm trạng muốn thẩm
định lại,...Thấy quen thì rõ rồi, còn lạ là bởi chợt phát hiện ra điều này điều
kia, hàm ý này hàm ý nọ trong câu chuyện cũ mà trước đây mình chưa từng ngộ,...
Tôi đặc biệt thích cái triết lý “đèn vàng” được Nguyễn
Huy Thiệp nêu ra rồi kiến giải trong truyện ngắn “Bài học tiếng Việt”
mà ông lấy nguyên mẫu từ cố nhà văn Vũ Trọng Phụng, một tiểu thuyết gia nổi tiếng
và xem như hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại. Song trước khi bàn
về cái triết lý “đèn vàng” này, tôi muốn nói đến một phương thức đặc
sắc làm nên bản sắc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đó là nghệ thuật
không gian truyện, mà ở đây, tôi gọi là không gian Nguyễn Huy
Thiệp.
Trong những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, thì không gian
truyện thật đặc biệt, dù chỉ là không gian hẹp trong một chuyến đò ngang với thời
gian mươi phút (Sang sông), hay không
gian hiu quạnh trong túp nhà tuềnh toàng, xác xơ ven sông Đà mờ mịt khói
sương (Như sương như khói bay), hay không gian rộng lớn tầm
cỡ quốc gia, dân tộc, triều đại (Kiếm sắc, Vàng lửu,
Phẩm tiết) hoặc không gian xuyên suốt hàng trăm năm qua bốn đời của
gia tộc họ Phạm (Giọt máu),... Và trong không gian nào thì cũng đủ
để chứa câu chuyện, lớp lang với hàng tá khái niệm, hàng mớ lý thuyết, hàng đống
minh chứng mà tác giả cố tình nhồi nhét vào. Đó là cái tài của riêng Nguyễn Huy
Thiệp, bởi ở đấy, luôn chứa đựng những cặp khái niệm đối lập, như đao đức-vô
luân, sáng tỏ-vô minh, văn minh-mông muội,ý thức-vô thức, cao cả-hèn hạ, phúc
thiện-tội ác,, tinh yêu-hận thù,... Cũng ở cái không gian hỗn độn thực hư lẫn lộn
ấy, cái có lý và sự vô lý đều có chỗ trong một trật tự lo-gic theo khuôn phép của
tác giả. Đó chính là giọng điệu kể chuyện ma mị, ngôn ngữ hội thoại quỷ
ám. Tôi nghĩ, bằng ấy, Nguyễn Huy Thiệp đã thực sự làm bạn đọc bị ám ảnh,...
Giờ thì tôi nói về triết lý “đèn vàng” của ông. Trong
truyện “Bài học tiếng Việt”, sau khi đưa ra các trạng huống đèn
xanh, đèn đỏ, đấy là những tín hiệu dứt khoát một
chiều, Nguyễn Huy Thiệp đi sâu phân tích trạng thái “đèn vàng”.
Đây là trạng thái lưỡng lự. Ở trạng thái này, mỗi con người có sự lựa chọn khác
nhau theo tính toán của riêng mình, hoặc dấn tới vượt thật nhanh, hoặc dứt
khoát dừng lại chờ đợi, lại cũng có thể lưỡng lự giữa đi hay dừng, và như
thế, mỗi sự lựa chọn sẽ có những kết quả tương ứng, thuận lợi hay bất trắc
tùy sự may rủi,... Trở lại các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, hầu như các truyện,
đều giăng mắc những ngã tư đèn vàng, ông đưa đẩy và dẫn dắt các
nhân vật của mình đến trạng thái đèn vàng, để cho họ tự lựa chọn theo mạch
chuyện, tâm lý nhân vật và lo-gic tình tiết,... rồi cứ thế, tác giả
tiện nước đẩy thuyền, tha hồ đưa hàng lô triết luận của mình,...
Trạng thái đèn vàng được đặt trong
không gian truyện ma mị hư ảo mà ở đấy có cả thiên thần và ác quỷ, thiên
đường và dịa ngục thì đương nhiên, cả nhân vật và bạn đọc chúng ta dễ bị ám thị,...và
khi ấy, mặc sức thuân theo ý đồ của tác giả-nhà phù thủy,...
Một điểm nữa, nhìn chung, không gian Nguyễn Huy Thiệp thường
đượm buồn, các cung bậc và tâm trạng đem đến nỗi buồn, rồi lây lan sang
người khác như một thứ bệnh truyền nhiễm. Nhưng mà nó đẹp, đầy tính thẩm
mỹ. Còn nó có nguy hiểm hay không thì tùy mức thẩm thấu của mỗi người đọc?...
Nguyễn Huy Thiệp cũng hay nói đến tín ngưỡng, tôn giáo. Dường
như, ông luôn đi tìm nó, thứ tín ngưỡng của riêng ông, mà ở đấy, đánh thức được Lòng
trắc ẩn- qua đó giáo dục, giáo hóa, đúng hơn, sự khai hóa lại thì phải?
Thêm nữa, Nguyễn Huy Thiệp cũng hay tự mâu thuẫn với chính
mình. Song có lẽ vậy, khi đọc truyện của
ông, đến đâu thích thú đến đó, rồi cứ thế sa vào bẫy mà ông giăng mắc lúc nào
không biết, đến lúc hết truyện lại như mờ mịt chẳng có lối ra và khi ấy bỗng
nhận ra hình như mình không hiểu ông đã nói gì. Lối viết ấy là điểm mạnh của
Nguyễn Huy Thiệp, nó gây ảnh hưởng, chi phối nhiều cây bút văn xuôi khác, mà
sau này, tôi nhận ra dấu vết ấy ở truyện ngắn này truyện ngắn nọ, ở cây bút nọ
cây bút kia. Kể cả tác giả bài viết này, cũng từng bị ảnh hưởng lối viết của
Nguyễn Huy Thiệp.
Sau này, đọc thêm diễn văn của Nguyễn Huy Thiệp khi ông
nhận giải thưởng văn học quốc tế ở Italia, giải Premio Nonino (2008), tôi càng
thấm những điều đó!...
Lại cũng nghe chuyện, chẳng rõ thực hư, rằng những năm sau
này, khi sức viết đã giảm, Nguyễn Huy Thiệp chờ đợi khi nghĩ mình xứng đáng giật
cái Nobel văn chương, nên mỗi mùa trao giải, dịp tháng Mười hằng năm, ông có ý
hóng. Thế nên, khi Hội đồng Nobel văn chương xướng tên một ai đó, ông lại tự thán
“Thế là lại trượt cái Nobel năm nay”. Người ta bảo, ông tự huyễn hoặc và
cứ cho là thế đi. Tôi lại nghĩ, không sao cả, chẳng việc gì phải tự ti, người
có tài thì có quyền tự đánh giá mình mà hy vọng chứ, khi mà các tác giả nhận giải
Nobel những năm gần đây, đọc văn chương của họ đâu có cao siêu và hấp dẫn hơn
văn của Nguyễn Huy Thiệp?!...
TRẦN NHUẬN MINH
& những kiếp nhân sinh,...
Trần Nhuận Minh, bốn trong một, bởi gọi
ông là Nhà thơ, Nhà văn, Nhà sử học, hay Nhà nghiên cứu và phê bình văn học
cũng đều đúng cả. Song ở đây, tôi chỉ khảo sát ông ở góc độ Nhà thơ với đày đủ
ý nghĩa của nó…
1.
Ở xứ ta, Trần
Nhuận Minh là người nổi tiếng, trước hết bởi tự thân ông với sự nghiệp văn
chương của mình, thứ nữa, ông là anh ruột của thần đồng thi ca đất Việt một thời,
nhà thơ Trần Đăng Khoa. Hồi Trần Đăng Khoa mới nổi lên như một hiện tượng trong
nền văn học nước nhà, thoạt đầu người ta còn chưa mấy tin rằng cậu bé bảy, tám
tuổi làng Điền Trì, Nam Sách lại có thể làm được những bài thơ hay thế và nghi
ngờ có ai đó gà cho, người ấy không ai khác chính là người anh trai của cậu, tức
nhà thơ Trần Nhuận Minh. Thế nhưng, để định danh với cái tên và cũng là bút
danh chính thức Trần Nhuận Minh, ông đã trải qua vài lần thay đổi, từ tên đầu
là Trần Bình Minh và tên gọi bây giờ Trần Nhuận Minh. Vô hình chung, con đường định
danh của ông phần nào thể hiện quá trình tự lập và sau đó là tự làm mới mình
trong sự nghiệp văn chương cá nhân, tức là, có hai Trần Nhuận Minh giống và
khác nhau ở mỗi thời kỳ,...
Tôi sớm biết
tên tuổi ông vì tôi chơi thân với nhà thơ Trần Đăng Khoa từ đầu năm 1975, khi
chúng tôi cùng đứng chung Đội tuyển học sinh giỏi môn Văn lớp 10 (hệ 10/10)
tham dự kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, trước Giải phóng miền
Thời ấy, khu mỏ
Quảng Ninh là vùng công nghiệp khai thác than nổi tiếng của Việt Nam nên các
nhà văn từ trung ương hay đi thực tế sáng tác ở đây, đặc biệt trong đó có Huy Cận
và Trinh Đường, vô hình chung kích hoạt và phát lộ các cây bút sinh sống làm việc
ở vùng đất này. Trần Bình Minh trở thành cây bút trẻ triển vọng trong dàn đồng
ca văn chương, gồm những Tô Ngọc Hiến, Lý Biên Cương, Yên Đức, Sĩ Hồng, Thi Sảnh,
Phạm Doanh, Long Chiểu, sau đó là Trí Dũng, Đào Ngọc Vĩnh, Triệu Nguyễn, ...
Dàn đồng ca ấy cất giọng đồng thanh xuyên suốt thời chiến tranh chống Mỹ vắt
sang thời bình và cả thời hậu chiến sau này, nên dù mỗi cây bút có thể có chút
riêng, nhưng đều mang giọng điệu chung là tụng ca cuộc sống chiến đấu và lao động
cống hiến ở vùng Than, vùng Công nghiệp Mỏ...
Năm 1971, Trần
Bình Minh xuất bản tập thơ đầu tay Đấy
là tình yêu. Năm 1972 - 1973, đi học khóa 5 trường Bồi dưỡng Viết văn
Trẻ Quảng Bá, khóa học 9 tháng. Tại đây,
ông đăng thơ trên báo lấy tên khai sinh Trần Nhuận Minh làm bút danh mới, và
sau đó, in sách tuyển chọn lần đầu năm 1973,
trong tập thơ “Ca
bình minh” của 5 tác giả công
nhân (Lý Phương Liên, Trần Nhuận
Minh, Yên Đức, Thanh Tùng , Đào Cảng)
ở Nhà xuất bản Văn học.
Nhưng rồi, Trần
Nhuận Minh sớm ngộ ra một điều gì đấy, khi ông vào thăm Huế, cuối năm 1975 và đầu
năm 1976, lần đầu tiên được tiếp xúc với anh chị em văn nghệ sĩ Huế. Người đón
ông đầu tiên là nhạc sĩ Trần Hoàn. Bấy giờ ông này là Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ).
Chính Trần Hoàn trực tiếp lái xe đưa ông đi thăm danh thắng, đền đài Huế. Rồi nữa,
mời Trần Nhuận Minh, với tư cách là nhà thơ công nhân tiêu biểu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trò chuyện với
anh em văn nghệ sĩ mà trong đó có rất nhiều tên tuổi quan trọng của xứ Huế và của miền Nam trước năm 1975...
Theo lời Trần Nhuận Minh trao đổi trong một diễn đàn văn nghệ, thoạt đầu ông rất
hào hứng, dù ông không hề biết người ngồi trước mình là những ai. Thế rồi bằng
một linh cảm đặc biệt nào đó, ông nhận ra rằng hình như mình đã có một sự nhầm
lẫn nào đó. Và ông ngộ ra, hình như mình là một người rất lạc hậu. Mồ hôi vã đầm
đìa sau lưng áo. Đất nước đã giải phóng. Một con đường lớn đã thông thương đến
tận mũi Cà Mau mà mình vẫn loanh quanh ở bên này sông Bến Hài. Ông nhận ra mình
là nhà thơ cuốc than viết cho người cuốc than đọc. Bây giờ là đất nước rộng lớn.
Người đọc ông bây giờ không phải chỉ là người cuốc than mà còn có cả những trí
thức, những nghệ sĩ lớn ở Huế, ở Sài Gòn ở chót mũi Cà Mau và cả những nhân sĩ ở
trên nhiều bến bờ thế giới. Cuộc đốn ngộ đến bừng thức này, đã dẫn ông đến cuộc
khủng hoảng sáng tác đến cả 10 năm: “Ta học chim để sản xuất máy bay/ Học cá để chế tạo
tàu ngầm/ Nhưng Ta không biết học ai / Để
làm lại bản thân mình...”
Vậy là, mười năm ấy,
Trần Nhuận Minh chưa biết sẽ phải viết gì, nhưng trước hết ông loại bỏ toàn bộ
các sáng tác trong một phần tư thế kỷ trước đấy. Trong đó, có nhiều tác phẩm từng
gây được tiếng vang, từng nhận được những giải thưởng cao của Hội Nhà văn, của
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ông rũ bỏ đến trắng tay để làm lại từ đầu, “để làm lại bản thân mình...” Làng văn xứ
ta, không phải chỉ một mình Trần Nhuận Minh, mà có rất nhiều người như ông,
cùng cảnh ngộ với ông. Nhưng không phải ai cũng làm được như Trần Nhuận Minh và
có được sự dũng cảm đó. Đấy là lý do ta hiểu vì sao rất nhiều tác phẩm nổi tiếng,
từng được giải thưởng rất cao mà rồi giờ không còn đọc được nữa. Chính Trần Nhuận
Minh cũng phải ngỡ ngàng đến kinh ngạc:
“Mới
chục năm thôi thơ đã khác
Bao tuyệt
tác một thời,
giờ đọc chẳng còn hay
Thời
gian ơi, sao em cay nghiệt thế
Đỏ cả
rừng chiều...
Lá
bay… “
Tác phẩm của Trần Nhuận Minh thoát được cảnh
mưa bay gió cuốn, vì ông đã tự loại rồi. Một người thứ hai cũng có chút may mắn
là em trai ông, nhà thơ Trần Đăng Khoa. Ông cũng lặng lẽ làm một cuộc tinh lọc,
loại bỏ những ấu trĩ, để thành mấy tập tinh tuyển. Vì thế tác phẩm của ông vẫn
in lại đều đều, dù ông không có lòng dũng cảm, cũng không cải cách quyết liệt
như anh trai mình.
Trần Nhuận
Minh đã thành công ngoạn mục trong cuộc cải cách ấy. Ông đã tự lột xác, lặng lẽ lách mình khỏi dàn đồng
ca vùng mỏ và cả dàn tụng ca làng thi ca xứ mình.
Thường người
ta không dễ thay đổi thói quen, đời sống. Trong sáng tác văn chương, cũng thế.
Phải có một tác động nào đó đủ mạnh và tự thân cũng phải có dũng khí và tài
năng để đổi mới chính mình. May thay, Trần Nhuận Minh đã làm được điều này, khiến
ông sớm tách ra khỏi dàn đồng ca chung, tự thân tìm được lối đi riêng.
Điểm qua các
phẩm của Trần Nhuận Minh, không thể không nhắc đến tâp truyện “Trước
mùa mưa bão”, tập thơ “Âm điệu một vùng đất”, “Thành
phố bên này sông”. Đấy là những tập thơ mang hơi hám Trần Bình Minh, nó
lẫn vào dàn đồng ca, tụng ca. Trần Nhuận Minh tự thân làm nên “một thời mới”
cho riêng mình. Thời mới này đánh dấu bằng tập thơ “Nhà thơ và hoa cỏ”. Nói cho thật công
bằng, những tập thơ trước là thơ công nhân, dù có nhiều bài ông không viết trực tiếp về công nhân, nhưng nhìn
qua con mắt công nhân, nếp nghĩ công nhân. Đến “Nhà thơ và hoa cỏ” là ông đi từ công
nhân đến nhân dân. Tập thơ đề cập số phận con người, đặc biệt là những con người
bé nhỏ, bất hạnh. Trong tập thơ này, những bài đặc sắc nhất đều là thơ chân
dung. Nếu Trần Đăng Khoa, em trai ông rất giỏi dựng chân dung bằng văn xuôi,
thì ông lại xuất sắc dựng chân dung bằng thơ. Và dựng chân dung bằng thơ mới
cao cường, vì chỉ có mấy chục chữ mà đã ra một con người, một số phận, mà nhiều
khi nhà văn phải dùng cả một cuốn tiểu thuyết mới lột cả được, như trường hợp “Thím
Hai Vui”, rồi nữa là những “Ông Vọng”, chị “Hồng Tâm”, “Cháu
Thủy”,
“Bạn chơi từ thuở khăn quàng đỏ”, “Phúc”,, “Ông
Hủi”,”Võ
Huy Tâm”, Thanh Tùng- “Nhà thơ áp tải”.... vv và vv.
Nhiều lắm những bài thơ như thế. Chẳng vậy mà, một nhà thơ, nhà phê bình có tiếng
nọ đã rất tinh khi cho rằng, nhiều bài thơ của Trần Nhuận Minh, nếu thoáng qua,
có cảm giác như một chuyện kể. Nhưng không phải. Nó là thơ. Chỉ có điều, nó là
thơ chân dung. Thơ chân dung phải thế. Nó rất tự nhiên. Có cảm giác rất dễ viết.
Nhưng không. Đó là ảo giác. Thơ Trần Nhuận Minh chỉ cảm thấy dễ viết khi ông đã
viết ra rồi. Còn khi ông chưa viết thì không phải ai cũng viết được. Nhiều người
bị ảnh hưởng của ông, họ cũng viết như khuynh hướng của ông mà nào có thành.
Thông thường,
các nhà thơ sớm thành danh cứ nếp cũ tuần tự như tiến, nhưng đi mãi cũng chẳng
tới mình, thật khó làm khác mình, trước hết, bởi tự cảm không cần thiết, rồi
như một quán tính và sau cùng sợ mạo hiểm, sợ thất bại khi chuyển hướng,… Nhưng
với Trần Nhuận Minh thì không, ông đã làm mới mình, mạnh dạn (nếu không muốn
nói là dũng cảm) khi quẳng lại phía sau những gì đã làm nên tên tuổi và giải
thưởng của mình. Có thể khẳng định, Trần Nhuận Minh đổi mới mình, tạo được bản
sắc riêng và như thế, ông đã thành công! Vậy điều gì đã làm nên thành công ấy?
2.
Giải mã thì to
tát quá, nhưng thực lòng, tôi muốn tìm hiểu xem, nguyên do nào khiến nhà thơ Trần
Nhuận Minh dứt khoát để lại phía sau hết thảy thành tựu đã có, để khởi nguồn
cho lối nghĩ và lối viết mới?
Hơn một lần,
tôi nghe nhà thơ Trần Đăng Khoa lúc đàm luận văn chương ở một khoảng hẹp, nhắc
đến một tâm sự của nhà thơ Trần Nhuận Minh với
ông mà ông xem như một “bí mật nghề”. Đó là chính là cái lần đầu
tiên Trần Nhuận Minh vào thăm Huế như tôi đã kể. Thực ra, cái duyên gặp gỡ ấy
chỉ là “giọt nước làm tràn ly” mà thôi, chứ những điều ngỡ là mới ấy đã
manh nha trong một số bài thơ ở các tập thơ trước đó của ông, có điều khi đó
ông chưa ý thức rõ nên chưa dám đặt niềm tin vào đấy mà thôi.
Trong bài thơ
“Gửi bác Trần Nhuận Minh” của mình, nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết:
“Người bảo bác theo Đỗ/ Em phải học Lý thôi/ Bác đã bay dưới đất/ Em đành đi
trên giời…”. Đấy là một cách nói. Một xác quyết. Để cùng tồn tại thì hai
anh em phải khác nhau. Có lần, trong một cuộc trò chuyện về cuộc đời và văn
chương, Trần Đăng Khoa đùa mà bảo, “bay dưới đất” hay “đi trên giời”
thì đều toi cả, vì đất không phải để bay, mà giời cũng không phải để đi. Nói
vui vậy thôi, nhưng mấu chốt là hai anh em họ phải khác nhau.
Nhân chuyện
này, tự nhiên tôi lại muốn so sánh nhà thơ anh Trần Nhuận Minh và nhà thơ em Trần
Đăng Khoa với nhau. Đành vô phép hai ông Trần. Nhà thơ Trần Đăng Khoa xuất hiện
rất sớm và nổi bật ngay, số đầu sách không nhiều, chỉ hơn chục cuốn, bao gồm đủ
các thể loại: (thơ có “Từ góc sân nhà em”, “Góc sân và khoảng trời”,
trường ca “Khúc hát người anh hùng”, “Đi đánh thần hạn “ , “Trường
ca Làng quê”, “Trường ca Trừng Phạt”…
“Bên cửa sổ máy bay”, “Tuyển tập thơ “...; phê bình và tiểu
luận văn học có “Chân dung và đối thoại”, “Hầu chuyện thượng đế”;
văn xuôi có “Đảo Chìm”, “Người thường gặp” )... Cuốn nào ra cũng
gây tiếng vang, được bạn đọc chú ý, bán chạy và đều được tái bản nhiều lần. Có
khi in lại từng tuần ở nhiều nhà sách khác nhau. Văn của Trần Đăng Khoa tinh tế,
chắt lọc, chỉn chu và bút pháp khá nhất quán từ buổi đầu cho đến nay. Còn với
Trần Nhuận Minh, khởi đầu từ thơ, nhưng bung phá ra mọi thể loại, đề tài, số lượng
lớn, gần 80 đầu sách, số sách gần bằng số tuổi ông, văn xuôi thì truyện, ký, tiểu
thuyết, thơ thì thơ tập và trường ca (“Đá cháy “, “Một trăm bước cuối
cùng”), mảng nghiên cứu và phê bình
văn học khá dày dặn. Sách của Trần Nhuận Minh ra liên tục, tuy không lập tức
gây tiếng vang ngay, nhưng đã đọc là nhớ. Bạn đọc và giới phê bình văn học
nhanh chóng nhận ra những giá trị đích thực trong sự bề thế ngổn ngang sách của
ông. Trần Đăng Khoa thì ý thức, tính toán kỹ càng, nên hay không, chọn thời điểm
ra sách, kiểu ”một phát ăn ngay”. Trần Nhuận Minh thì miệt mài không ngừng
nghỉ, viết xong là cho ra luôn, không câu nệ, mặc bạn đọc tiếp nhận và phán xét,… Mỗi người một kiểu,
và xem ra cái cách “bay dưới đất” và “đi trên giời” của anh em
nhà thơ họ Trần đều hay cả. Chỉ có điều Trần Nhuận Minh bề thế hơn, vạm vỡ hơn,
phong phú hơn. Trong bài thơ tặng ông anh mình, Trần Đăng Khoa bảo: “Em quảy
bầu trăng gió/ Bác gánh bao nỗi người/ Sánh đôi mà đơn độc / Đi mang mang trong
đời”. Đây cũng là câu thơ mang tính xác quyết, rằng hai anh em cần phải
khác nhau. Trần Nhuận Minh “gánh bao nỗi người” thì đúng. Còn Trần Đăng Khoa “quảy bầu trăng
gió” thì không phải. Trần Đăng Khoa nói rất nhiều về trăng, về gió, nhưng
thơ ông là trăng gió thì không phải. Thơ Khoa hoàn toàn hiện thực. Thơ trăng
gió tôi lại thấy nhiều ở Trần Nhuận Minh. Ảo diệu đến thế này ở Trần Nhuânh
Minh là đỉnh rồi: “Một nửa mùa thu nghiêng bóng xuống khoang thuyền”....Và
tuyệt vời và cũng là đỉnh cao của Trần Nhuận Minh là hai tập Trường ca không vần:
“Bản xô nát hoang dã” và “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh”.
Thơ không vần ở
Việt Nam xuất hiện rất sớm. Theo tôi biết, thoạt tiên từ Văn Cao đầu những năm
1940 với Trường ca “Những người trên của biển”, và đẩy lên một nấc nữa
là Nguyễn Đình Thi. Nhưng rồi Nguyễn Đình Thi thi bị phê phán tơi tả ở Việt Bắc
từ năm 1948. Sau này, nhiều nhà thơ tiếp nối và đưa đẩy đến
mức toàn thắng sau thời đổi mới. Giờ thì rất nhiều người làm thơ không vần,
nhưng theo tôi rất ít người thành công, bởi nó bị văn xuôi hóa. Nó là văn xuôi.
Tư duy văn xuôi. Câu chữ văn xuôi. Nhịp điệu văn xuôi. Nó chẳng liên quan gì đến
thơ cả. Cá nhân, tôi vốn không thích thơ không vần và với Trần Nhuận Minh cũng
không là ngoại lệ. Song qua hai trường ca “Bản xô nát hoang dã” và “45
khúc đàn bàu của kẻ vô danh” thì tôi nghĩ, ông có những thành công nhất định
ở định dạng này. Bởi với Trần Nhuận Minh, thơ không vần là tư duy thơ, hình tượng
thơ, ngôn ngữ thơ, chứ không đơn thuần là hình dạng và sự xếp đặt câu chữ, vần
vèo…
3.
Như tôi thấy,
tác phẩm của Trần Nhuận Minh bề thế và ngổn ngang, đủ các thể loại. Sắp xếp
riêng ra từng loại thì mảng nào cũng có
đậm sắc cả. Chỉ riêng mảng nghiên cứu và phê bình văn học, Trần Nhuận
Minh cùng với nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đức Tùng (Việt kiều ở Canada)
với tác phẩm “Đối thoại văn chương” đủ gây tiếng vang trên văn đàn xứ ta rồi.
Bên cạnh, mảng nghiên cứu lịch sử và văn học của ông cũng đáng nể. Phần nghiên
cứu các nhân vật họ Trần trực hệ từ Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải trở về
sau qua suốt các triều đại Trần, Hồ, Lê-Mạc-Lê, Nguyễn… Gần đây, bài nghiên cứu
sâu về nhân vật văn học Hồ Xuân Hương của Trần Nhuận Minh (đăng trên tạp chí
Nhà văn & cuộc sống, số 20 năm 2024) trả Hồ Xuân Hương cùng tác phẩm
của bà về đúng sự thật lịch sử chứ không như mọi người vẫn lầm tưởng bấy lâu
nay, bởi sự ngụy tạo và gán ghép của nhân gian làm sai lệch đi nhiều, về cả cuộc
đời và phần thơ Nôm vốn không phải của bà. Đấy là sự đóng góp đáng trân trọng của Trần Nhuận Minh.
Tuy nhiên, tôi xin bàn phần nghiên cứu
văn học của ông vào một dịp khác để đi sâu tìm mạch thơ Trần Nhuận Minh với mảng
thơ thế sự và nhân vật, bởi đó là điểm khác biệt giữa hai thời kỳ sáng tác của
ông.
Về thơ, Trần
Nhuận Minh cũng bung phá với nhiều thể thơ, tự do, lục bát, tứ tuyệt, ngũ
ngôn…. miễn sao chứa nổi nội dung ông cần truyền tài và thể loại nào ông cũng
có những bài hay, đa dạng và luôn mới, hiện thực trụi trần hay mơ hồ sương khói
có cả, song cảm nhận, ông có sự lựa chọn đầy tâm huyết với thơ chân dung qua lối
kể của riêng mình.
Có lẽ, thơ thế
sự và chân dung của Trần Nhuận Minh khởi nguồn từ khi ông tự vấn mình, trăn trở
nỗi niềm người, nỗi niềm ta,… Năm 1983, trong bài thơ “Chiều Yên Tử”
ông viết: “Tôi nằm trên vệ cỏ/ Đối mặt với trời cao/ Một nỗi niềm trinh bạch/
Giữa bốn bề gian lao/ … Cuộc đời đến đâu ư?/ Con người là gì vậy?/ Họa phúc có
hay không?/ Kiếp sau ai đã thấy?/ Mỗi người một câu hỏi/ Đi mang mang trong đời/
Nổi chìm bao ghềnh thác/ Tôi chưa tìm thấy tôi…” . Thế rồi theo năm tháng,
ông miệt mài đi tìm để lý giải niềm băn khoăn của mình qua những thân phận người,…
Với thể thơ năm chữ, linh hoạt và phù hợp với ngôn ngữ kể chuyện, Trần Nhuận
Minh gửi gắm sự đồng cảm và chia sẻ sâu sắc của mình bằng ngôn ngữ bi hài chen
lấn, khiến bạn đọc nhiều khi bật cười đấy mà ứa nước mắt đấy…. Nào chuyện “Thím
Hai Vui”, bao năm gian khó vất vả âm thầm chờ chồng đi chiến trận chẳng
sao nhưng khi chồng về ngực đầy huân huy chương thì bi kịch mới ập đến gia đình
thím. “Những năm chú ra trận/ Thím buồn vui một mình/ Thím bảo những năm ấy
/ Là những năm hòa bình”... Thế rồi cả nước hòa bình, thì thím lại không
yên: “Chỉ thương thím Hai Vui/ Mặt mũi luôn thâm tím/ Đến bây giờ chiến
tranh/ Mới đến thật với thím/ ... Chú đòi phái ly dị/ Mỗi con về một nơi/ Thím
hát như kẻ dại/ Miệng mếu lại thành cười…”;
Rồi chuyện”Dì Nga’, lấy được chồng giàu có, nhà chẳng thiếu
gì, chỉ thiếu hạnh phúc. Mới hay hạnh phúc không ở trong nhung lụa tiền bạc. “Dì
theo một anh chàng/ Chuyên nghề câu cá vược/ Bên nhau trong khoang thuyền/ Giữa
bốn bề mây nươc…/ Chả biết dì sung sướng/ Hay là dì khổ đau/ Nửa đời… ừ sao nhỉ/
Họ không tìm thấy nhau”... Đó là “Cháu
Thủy”, trẻ trung, ngoan hiền, nết na, chăm chỉ, ai cũng khen, vậy mà mắc
bệnh hiểm nghèo, không qua khỏi. Thương tiếc là thế, nhà thơ cầm lòng chẳng đặng phải thốt lên câu than: “Sao
ngắn đến thế này/ Cuộc đời một người tốt?: và chua xót hơn nữa: “Xưa nay
những người tốt/ Thường gặp điều không may?”. Sao lại trớ trêu thế hả giời?...
Ấy là chuyện người bạn, từng phấn đấu lên chức này chức nọ, về hưu gặp thời mở
cửa kinh tế, ‘bung ra”, thành một người khác “Ta không hiểu sao bạn/
Bung ra đến độ này/ Đem đời mình đánh đổi/ Lấy cái ngoài tầm tay/… Lòng băn
khoăn không dứt/ Bỗng thèm một chén trà/ Cuối trời tia nắng quái/ Cháy kinh
hoàng sau ta” (“Thăm bạn”); Lại nữa, một người bạn tên là “Phúc”,
từng phong lưu sang trọng hơn người, bỗng không may gặp họa, “đốt tiền
trong toa lét/ Ba ngày còn chưa xong”...
nhà bị niêm phong, thành dở người, lang thang ăn mày khắp chốn, nhà thơ cám cảnh
mà rằng “Trò đùa của tạo hóa/ Đến thế này thì thôi”; Đó là bác Vương
Liên (“Gửi bác Vương Liên”) vốn nghèo khổ, đã bỏ lại người vợ tào
khang nuôi con một mình, vào Nam quyết chí kiếm tiền bằng mọi giá và trở nên
giàu có, sống sung sướng, quên luôn người cũ “chị ấy vẫn lam lũ/ vẫn một
mình nuôi con”, khiến nhà thơ chạnh lòng mà than: “Sự đời bao rắc rối/
Phải trái tính sao đây/ Lòng mình thì nhàu nát/ Kinh sách thì thơ ngây…”.
Ngẫm sự đời mà chạnh lòng cùng nhà thơ; Rồi đó là thân phận những văn nghệ sĩ, ấy
là bạn thơ, “Nhà thơ áp tải” (nhà thơ Thanh Tùng), sống bằng nghề
áp tải hàng, cực nhọc và nguy hiểm-“Đất nước có một thời/ kẻ gian nhiều như
nấm/ không ngờ một nhà thơ/ lại sống bằng nắm đấm…”, sống cực thế đã đành,
nhưng đâu bằng, với tư cánh một nhà thơ-“Hãy áp tải sự thật/ đến những bến
cuối cùng…”, nhọc nhằn và gian truân hơn nhiều…; Và nữa, là nhà văn (Võ Huy
Tâm) bỏ phố lên rừng dựng lều viết văn, bản thảo cho vào bao, nhếch nhác như
hành khất địu về thủ đô chờ xuất bản, những tác phẩm mà nhà văn hi vọng “trong
văn có biển rừng/ bao kiếp người chìm nổi”; Còn có người bạn cũ, thời đi
lính dũng cảm chiến đấu thành dũng sĩ này nọ được tặng thưởng nhiều huân huy chương, nhưng sang
thời bình theo mộng văn chương, muốn thành Kẻ Sĩ đến nỗi thân tàn ma dại “Tấm
áo choàng lấm đất/ bốn phương trời tha hương/ chắc gì mà kiếm được/ chút bụi
vàng văn chương?” (“Bạn cũ”)… Còn nữa, nhiều lắm những thân
phận, những cảnh đời ngang trái, những nỗi niềm chua xót, đắng cay.
Thực ra, về thơ kể chuyện nhân vật
trong văn học Việt Nam hiện đại, nhà thơ Tố Hữu là người đi tiên phong và thành
công với nhiều bài thơ được nhiều người thuộc như: “Mẹ Tơm”, “Mẹ
Suốt”, “Bầm ơi”, “Bà bủ”, “Bà má Hậu
Giang”, “Lão đày tớ”, “Lượm”, “Tiếng
hát Sông Hương”… Có điều khác, nếu Tố Hữu là cảm xúc một chiều từ phía
nhà thơ, tình thương yêu, quý trọng, đồng cảm chia sẻ, khích lệ hay an ủi, vỗ về nhằm tuyên truyền cố động cho một lối
sống, thì Trần Nhuận Minh lại tạo những hình ảnh thuận nghịch, cảnh huống ngang
trái, thậm chí đối lập, như ngầm so sánh với nỗi niềm ngổn ngang, không nói hộ
nhân vật, không áp dặt ý chí của mình mà để tự thân bài thơ toát nên thông điệp
hoặc bạn đọc cảm nhận mà ngộ ra lời giải,
chỉ gợi mở để bạn đọc cùng nghĩ và tham gia vào câu chuyện với nhân vật cùng
tác giả. Nhờ thế mà thơ ông có dư ba, có sức
ám ảnh người đọc.Thực lòng, với tư cách vừa là bạn đọc vừa là người sáng
tác, tôi thích cách gợi mở của nhà thơ Trần Nhuận Minh hơn.
Thế nên, cũng bằng phương pháp này,
nhiều bài thơ thế sự của Trần Nhuận Minh cũng rất gợi, dễ vào lòng người nên ám
ảnh người ta, hút hồn bạn đọc chia sẻ và đồng cảm cùng nhà thơ. Ta bắt gặp điều
này ở nhiều bài thơ của ông: “Chiều Yên Tử”, “Đồi hoang”, “Móng Cái”, “Hoành
Mô mây trắng”, “Trăm năm trong cõi...”, “Tự do”, “Bạn hưu”, “Họp chi bộ”,
“Trong nhà’, “Bạn thơ mời rượu bên sông Tiền”, “Chào cụ Phan-xi-păng”, “Tạ ơn
dân”, “Trước khi”…, “Cụ Chiến tiễn cháu gái đi giúp việc gia đình ở nước
ngoài”, “Lẽ thường”, “Thăm nhà thơ có hai con gái học võ” …. Gần đây nhất, bài thơ “Giỗ bố” khi mà các cuộc chiến tranh kéo dài, dằng dai
giữa Nga với Ukraina, giữa Israel với Palestine cùng các lực lượng Hồi giáo cực
đoan chưa có hồi kết, dân ta thì tự chia làm mấy phe, bênh-chê khác nhau mà
sinh mâu thuẫn này nọ,… Ngoài xã hội là vậy, đến trong nhà cũng thế, chuyện anh
em tứ xứ về quê giỗ bố, tranh luận thời sự thành cãi nhau rồi động chân động
tay… “Nhà bỗng thành náo loạn/ Thề: không nhìn mặt nhau/ Bố thằngnào nấy cúng/
Sống chết cũng mặc dầu” và vì thế mà nên cảnh “Nén hương cha chưa tắt/
Xôi thịt còn lên hơi/ Mỗi người đã mỗi ngả… Chỉ còn bà mẹ ốm/ Rên rỉ khóc giữa
nhà/ Hờ ôi, cái gì vậy? Mà tan tành nhà ta”... Nghĩ sâu, thực ra sự nóng giận
nhất thời khi tranh luận chỉ là cái cớ thôi, chứ nguồn cơn là từ sự phân hóa xã
hội, sự suy giảm niềm tin và sự tan rã của đạo đức lối sống, dẫn đến các mâu
thuẫn đời thường… Thế đấy, Trần Nhuận Minh nhạy cảm và sâu sắc, lấy cái bi hài
đẩy sự việc đến tận cùng để tự thân nó lên tiếng!...
Gần đây, tập thơ mới xuất bản của Trần
Nhuận Minh ( “Thơ nằm trên cỏ”- NXB Hội Nhà văn, 2024) có nhiều
điều để bàn. Hay đâu, nhẩn nha đọc lại mấy tập thơ của ông (“Bản xô nát hoang dã”,
NXB Hội Nhà văn, 2013 và “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh”, NXB Hội
Nhà văn, 2013), càng thấy một Trần Nhuận Minh đa chiều, ngổn ngang trăm mối.
Bóc tách ra một khúc – “Khúc 15”: “Con người lớn lên / Từ các cuộc tranh
giành/ Và cái ác thấm dần vào trong máu/ Những hận thù hôn nhân, điền thổ/ Vẫn
ngấm ngầm sau bao lũy tre xanh/ Có cơn mưa / Chết cháy cả lúa đồng/ Lời ngon ngọt
mà thân người đổ gãy/... Có người đẩy
cái Tôi đến tận cùng thì thành bậc Chân tài/ Có kẻ đẩy cái Tôi đến tận cùng thì
thành tên đại ác/... Những đám mây thong thả của Ngày Xưa/ Đều bay qua và lặng
lẽ mỉm cười…”. Chỉ thế thôi, cũng có bao chuyện để nói, bao điều để bàn rồi.
Tôi đã nói bao
điều về Trần Nhuận Minh, vậy mà hình như vẫn chưa tới. Ông vẫn còn nhiều thứ để
khám phá…
NGUYỄN VĨNH TIẾN
Kiến trúc Chữ, Hội họa Chữ và Âm nhạc Chữ
Thực
lòng, tôi định viết về Nguyễn Vĩnh Tiến nhưng cứ lần lữa vì chưa biết bắt đầu vẽ
chân dung anh chàng như thế nào, bởi con người đa tài này thật khó nắm bắt, cứ
như cánh nhạn bay mà mình định dõi thì càng xa mình vậy?...
Nhưng sao không bắt đầu chính bằng cái sự khó nắm bắt này nhỉ? Ấy là
phương pháp bao quát bằng cách khoanh một vòng tròn lớn. Rồi sao nữa? Là xem Tiến
có cái gì hay thì nhặt bỏ chúng vào cái vòng tròn đó để quan sát và phân tích.
Nào, kiến trúc sư, làm thơ, sáng tác nhạc, lại thêm vẽ và ti toe tí triết nữa…
Trong khuôn khổ
bài viết này, tôi sẽ không phân tích về nghề kiến trúc và cái tài hội họa của
Nguyễn Vĩnh Tiến, mà chủ yếu bàn về nghệ
thuật thơ, cùng với đó là âm nhạc, yếu tố quan trọng làm nên tính
chất dân gian đương đại trong thơ-nhạc của Nguyễn Vĩnh Tiến.
“Ông,
tờ mờ sáng ông đi về phía núi/ Đồi núi mở
ra câu chuyện buồn trung du...” Có lẽ, tôi sẽ bắt dầu câu chuyện về anh
chàng “bốn trong một” này bằng câu
thơ, cũng là lời mở ca khúc “Ông tôi”,
xuất phát từ một bài thơ của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, người cha, bởi nó đúng
với Nguyễn Vĩnh Tiến, chí ít từ buổi đầu tiên kế thừa, dấn thân vào kiếp thơ nhạc,
cho đến lúc này.
“Thi nhân sầu/ vì vạn sự đổi thay/ con người
chẳng bao giờ đạt Đạo...”, một bài thơ đầy tính triết học, Nguyễn Vĩnh Tiến
khai mở dòng triết luận man mát pha trộn giữa Phật giáo và Đạo giáo như thế, bởi
anh ý thức được sự gian khó, cực nhọc song cũng đầy niềm vui và nỗi buồn trong
hành trình Thi-Nhạc-Họa của mình,
khi mà đã ở vào cái thế “giờ tuổi giống triền đê/ chỉ thoải thoải dốc đổ về bến
sông ”... Nhưng hãy khoan nói về chất triết lý trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến để
trở về với thời tuổi thơ trong trẻo…
I. Chất đồng dao trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến.
Trước khi bàn
riêng về chất đồng dao trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, tôi khẳng định, chính chất đồng
dao trong thơ anh là nền tảng, hồn cốt làm nên chất dân gian đương đại trong âm
nhạc của anh. Chất đồng dao từ vùng đất trung du Phú Thọ hay nói rộng lớn hơn từ
cả vùng châu thổ Sông Hồng trong hệ ngôn ngữ của anh vấn vít, xoắn xít vào
nhau, quyện thành một khối, khó tách bạch ra được. Với Nguyễn Vĩnh Tiến, điều bất
ngờ là khi một ca khúc ra đời, chẳng rõ lời thơ hay giai điệu, cái nào hình
thành trước? Kể cả những bài thơ tồn tại dưới dạng một thi phẩm, thì có thể, một
ngày đẹp trời nào đấy, nó được cất lời thành ca khúc, chỉ là sớm hay muộn, bởi
thanh âm giai diệu đã có sẵn trong từng câu thơ rồi ... Thơ trong nhạc, nhạc
trong thơ. Dòng chảy ấy trở nên cồn cào và độc đáo.
Nguyễn Vĩnh Tiến
có cả sê-ri ca khúc về người thân trong gia đình, bà tôi, ông tôi, cha tôi, mẹ
tôi.... mà ở đó, phần lời đều là thơ, đều xứng đáng là một thi phẩm độc lập.
Này đây:”Nhớ làng tôi, từng dòng mương xanh bay bay bay bay... Nhớ bà tôi, một trăm
năm rồi ngọn cỏ hóa mây trời... Cười cười một chuỗi, trời thử bụng ta, có mùa
thóc lép lợp trên mái nhà, có mùa hoa cà tự nhiên tím tái, bà ví lông gà, vàng
như vườn cải, ông ví mặt trời như lời mối lái, ai ví tình yêu như trò nghịch dại
?... Bà lên Kẻ Chợ có buồn được đâu, ra về lúc lắc, héo mòn một sâu...”. Cứ
dắt dây, dung dăng dung dẻ, quanh co, lòng vòng như thế, Nguyễn Vĩnh Tiến đã vẽ
lên một làng quê vô cùng ấn tượng (mà
rộng ra là một nông thôn miền Bắc Việt
Nam điển hình) dân dã, dung dị, thân thương, gần gũi và đầy vất vả nghèo
khó qua hình tượng người bà. Câu thơ tài tình “Một mình bà đội cả trời nắng to” trong bài thơ Nguyễn Vĩnh Tiến thực
ra được viết từ năm 10 tuổi, nhân một lần về thăm bà, hồn nhiên, thật thà ngày ấy
lại làm nên ngòi châm kích hoạt và chắp cánh cho ca khúc Bà tôi nổi tiếng sau này, được xem như khai mở sự nghiệp ca nhạc của
anh, mang tính chất dân gian đương đại riêng biệt.
Hay như, những câu thơ đầy chất đồng
dao từng làm Du Tử Lê say lòng, lấy làm thích thú, trích dẫn trong bài viết của
ông “Nguyễn Vĩnh Tiến, tài hoa và lục
bát”: “Quê tôi cả thẹn hay lo/ Dòng sông vắng khách con đò trầm ngâm/ Bụi tre
thích đứng cười thầm/ Giàn bầu giàn bí thích cầm tay nhau/ Con chim sẻ nhớ bẹ cau/ Con chào mào lại nhớ
màu ổi ương”(Tuổi tôi);
“Tháng
tám đã sắp cạn rồi/ Ngoài song tháng chín đã ngồi trong sương/ Anh mơ hẻo lánh
con đường/ Cánh đồng hoa dại nằm vương đôi mình”...
Có thể thấy, rất nhiều những câu thơ
mang chất đồng dao và chất ca dao mới trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, thơ đến tự
nhiên như hơi thở:
“Bỗng dưng một cánh chuồn chuồn/ Lấy của tôi một nỗi buồn bay đi/ Để cho
hoa lá ùa về/ Để tôi lạc giữa bốn bề là tôi ” (Một cánh chuồn
chuồn);
“Có
gì nặng trĩu đường trôi/ Một mùa xuân rót một lời đáy xuân/ Có quang gánh nỗi đồng
lần/ Hồn kêu kẽo kẹt trên thân thể buồn” (Đáy xuân);
“Ai
trách con vịt trắng/ Ngủ lại đứng một chân/ Ai yêu con chuồn ớt/ Bay quanh ruộng
rau cần‟ (Vỗ trống);
“Những
đôi cánh chim se sẻ/ Vội vàng đôi bàn tay xinh/ Em mua bao nhiêu mới đủ/ Xổ
tung cái chuyện chúng mình” (Se sẻ);
“Nâng
lên những búp tay/ Mặt trời và nõn chuối/ Nắng vàng và lá bưởi/ Cánh cò và gai
tre” (Thấy một mùa quen quen);
“Đưa
em đưa em qua cầu/ Anh mang con sông về làm dâu/ Xa nhau xa nhau bao năm rồi/
Hoa bèo xác pháo dạt bờ nao/ Bóng tre đã mục, bóng cầu đã mục/ Rêu xanh lên mắt
ngóng tin nhau” (Giữa con sông làng);
“Những con chồn hoang/ Đêm mò về làng/ Mắt
như sao rơi xuống đất/ Mỗi chiếc lông rụng mang theo một hạt bụi của núi đồi/’’...
Chồn ơi chồn đứng ở đâu/ Ban ngày đang ngủ
trên đầu ban đêm/ Chồn đi đá cứng chân mềm/ Về làng mà hát mà xuyên qua làng”
(Chồn hoang);
“Chòng chành đã đến canh tư/
“Đêm qua núi lại kiễng chân/ Lại tô thẫm ngực
những tuần cỏ xanh/ Lại bóng đè những mộng lành/ Lại mạch ngầm những suối quanh
thuở nào” (Đêm qua núi lại kiễng
chân);
“Mưa
mùa thu, giọt mùa đông/ Như cầu không nhịp, như sông không phà/ Đong mưa bằng vạt
cà sa/ Nhớ nhau mình lại thẩn tha cổng chùa/ Tháng chín hạc trắng nhớ vua/ Sông
Hồng gió hát lạc mùa ngã ba/ Tháng mười, vườn đỗ ra hoa/ Một con sẻ nhỏ xa nhà,
sang sông” (Mưa mùa thu); v.v...
Với thủ pháp
cơn mưa đồng dao và ca dao mới này, thơ Nguyễn Vĩnh Tiến cứ trườn đi một cách
uyển chuyển, khó nắm bắt, mà hay gây bất ngờ bởi những câu thơ xuất thần. Bất
ngờ, những điều tưởng như phi lý song lại chấp nhận được vì ở một tổng thể hợp
cảnh hợp ý hợp tình. Ấy là cái nét rất riêng và là điểm mạnh của thơ Nguyễn
Vĩnh Tiến. Lẽ dĩ nhiên, chất liệu đồng dao vô cùng linh hoạt này được nhào luyện
bởi yếu tố kiến tạo hình họa chồng lớp màu sắc, sự nhòe trong câu chữ, độ loang
của Màu Nước, mảng miếng của hội họa lập thể và cả sự hư ảo của hội họa trừu tượng.
Đó chính là điểm mạnh riêng có trong thơ anh.
II. Thơ cấu trúc
Thực ra, đây chỉ
là cách gọi rút gọn, khi tôi chưa tìm được cách gọi khác chuẩn hơn để diễn đạt yếu tố
kiến tạo kiến trúc trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến mà thôi. Bản thân là một kiến trúc sư, lại rất mạnh về
thiết kế quy hoạch, nên có thể xem, Nguyễn Vĩnh Tiến mang chất nghề nghiệp (kiến tạo không gian hình họa) vào thi ca
và cả âm nhạc của mình. Sự ảnh hưởng ấy là yếu tố tự thân, lâu thành quen, gần
như bản năng, dần dà làm nên phong cách riêng, định dạng thơ Nguyễn Vĩnh Tiến,
mà qua đó ngươi ta có thể phân biệt thơ anh với thơ người khác.
Trong lĩnh vực
thiết kế quy hoạch kiến trúc, người ta phải thực hiện việc tổ chức sắp xếp từ tổng
thể đến chi tiết, một cách khoa học, chính xác, tỉ mỉ nhưng vẫn vô cùng lãng mạn
(lãng mạn trong không gian mở và gợi của
những kiến trúc sư có tài) để tận dụng tối ưu không gian, thậm chí chiếm
lĩnh không gian có thể phóng chiếu tối đa tâm hồn, tầm nhìn, khi mà con người
trong kiến trúc bị hạn chế bởi yếu tố chịu lực của cấu trúc và vật liệu...
Còn ở đây, trong không gian nghệ thuật,
người ta có thể làm được hơn thế, vượt qua được giới hạn thông thường. Tôi
nghĩ, trong thơ ca và âm nhạc, kiến trúc sư Nguyễn Vĩnh Tiến đã làm được cái việc
‘vượt qua giới hạn thông thường”, làm
phong phú thêm cấu trúc thi ca và âm nhạc của mình, với sự hỗ trợ đắc lực của
chất liệu đồng dao. Lẽ dĩ nhiên, còn có những yếu tố khác cấu thành, tôi sẽ
phân tích rõ hơn ở phần sau....
Hãy xem, cái
gọi là “thơ cấu trúc” của Nguyễn Vĩnh
Tiến ra sao?...
Tìm đọc những bài thơ cũ, cả những
bài thơ được anh phổ nhạc thành ca khúc, và nữa, đọc các bài thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
đăng hàng ngày trên trang Facebook của mình, đều nhận diện phong cách này rất
rõ:
“Tôi
như tảng đá ong nham nhở/ Khắc làm sao tên của tháng ngày em/ Chỉ mong sao nước
chảy đá mềm/ Em đừng gọi tôi bằng tên bằng tuổi/ Em đừng ví tôi nỗi suối niềm
sông/ Tôi là chòi hoang, chờ em nghỉ giữa đồng” (Lại trôi) ;
“Anh đã lúng túng mùa
gieo mạ/ Anh đã quá nắng ngày gieo mầm…Anh đã khói úa triền đê vàng/ Anh đã lỡ
chuyến đò qua ngày/ Giờ chiều neo u ám .../ Anh vẫn nhớ rõ bàn tay mềm/ Lưng đã
thắt đáy mùa Xuân tròn/ Em đã lấp loáng mùa vun trồng/ Tay em đã cấy từng hy vọng/
Mạ non ửng mầm/ Duyên thì tùy/ Thuyền thì sông/ Lòng sao giờ lại cách lòng ?...” (Mạ
non ửng mầm) ;
“Rồi có ngày/ Nàng bước ra/ Và ôm chầm lấy chàng thi sỹ/ Chàng ơi/ Có thể
Yêu thương đậm sâu nhất là khi chàng yên nghỉ/ ... Em cần đủ chữ, đủ tứ mới lên
hình/... Chờ nàng từ lúc bình minh/ Từ khi Tháng Một tưởng mình Tháng Ba/ Ngoài
hiên, ngõ nắng lân la/ Hỏi thăm mới biết, mình qua đời rồi ... " (Đợi nàng Thơ);
“Tôi lặn lội những nàng đêm/ Quấn quýt tay mềm/ Trong mơ và lụa/ Những
mùa Xuân sến súa/ Những thập niên đổ vỡ/ Trong đêm nức nở môi nàng/ Tên em là
hoa xoan/ Hẹn anh tháng Ba bờ đê xóm cũ/ Tên em là nụ/ Hẹn anh chúm chím bên dốc
đá tháng Năm/ Tên em là rằm/ Hẹn anh ngày trăng non e ấp/ Các nàng xâm xấp/ Ấm
ngực mùa đông/ Thì ra cây cải vừa ngồng/ Then cài sao để cõi lòng mở toang ...
?” (Những nàng đêm);
“Chùng chình cũng đến tháng Tư/ Hoa vàng lại
thấy đánh đu cành xoài .../ Nàng Bân nước mắt chưa ngoai/ Năm ngón tay dài lạnh
mải miết đan/ Xa xa dãy núi xanh tràn/ Nhớ thương lẽo đẽo từng đàn phả sương/
Tháng Tư xuân cạn đầu giường/ Hệt như chai rượu thất thường đêm qua/ Đêm qua
tôi gặp Tháng Ba/ Vừa đi vừa thả cánh hoa mịt mùng ...” (Tháng
Tư) ;
“Sông Thao réo ùng ục màu hồng xám/ lặn ngụp
giữa dòng củi mục xác tuổi thơ trôi / Cây gạo đứng giữa bãi bồi, không lá / Tôi
đáng lẽ ngồi chờ chuyến đò định mệnh.../Tôi đi chậm lại bỗng muốn khóc xối xả/
Muốn cõng về cho em một quả núi/ Rồi nằm thật dài như đường ray/ Tôi đáng lẽ đã
thấy chuyến đò định mệnh/ Nếu không lạc vào những tiếng chuông trên mặt nước/ Rồi
đuổi theo em áo vàng trong cánh đồng ngô...” (Trung du);
“Phú Thọ nằm khép nép / Ngay bên cạnh bờ
sông / Chợ Mè tử thuở tôi lông bông / Đến giờ vẫn bán chổi và rế / Ông bà tôi
hình như vẫn thế/ Chết lâu rồi vẫn đi dạo
đâu đây / Này từng ruộng lạc củ gầy / Này đường dốc của những ngày nốc ao ... /
Thị xã của tôi / Thị xã cồn cào... / Với mùi thịt da như triền đồi cháy nắng /
Tôi càng trôi, chuyến đò càng nặng, Một phút chiêm bao đã gần hết đời người
...” (Phú Thọ của tôi);
v.v...
Quả là, tôi không thể cứ sa đà lạc lối trong không gian “kiến trúc chữ” và “hội họa chữ” mà Nguyễn Vĩnh Tiến kiến tạo nên, bởi biết trích dẫn
bao nhiêu cho vừa trong vô vàn những khúc thơ cấu trúc tầng tầng lớp lớp như vậy?
Người ta có thể thấy, trong không gian hình họa được tác giả kiến tạo, có đủ
không gian bốn chiều (rộng hẹp, cao thấp,
dọc ngang và thời gian nữa), thấy sắc màu, giai tầng, ẩn hiện, thực ảo, ma
mị, phân tâm ...
Có thể nói, Nguyễn Vĩnh Tiến đã chuyển
hóa tất thảy những gì mình đang ấp ủ trong nghệ thuật kiến trúc mà ngoài đời
còn chưa thực hiện được vào thơ ca và âm nhạc của mình. Trong không gian hình họa
ấy, hay đúng hơn là trong thế giới của trí óc tưởng tưởng riêng mình, Nguyễn
Vĩnh Tiến mặc sức thoải mái kiến tạo.... Và chính vì thế, nó ảnh hưởng đến hình
thức thơ của anh.
Để ý,
Nguyễn Vĩnh Tiến rất ít sử dụng các thể thơ truyền thống, như ngũ ngôn, lục
ngôn, thất ngôn, trừ lục bát. Dường như, các thể thơ truyền thống khá chật chội,
bức bối với ý tưởng khó nắm bắt và ngôn từ tự nhiên của anh. Ngay trong thơ lục
bát của mình, Nguyễn Vĩnh Tiến cũng không chịu bó buộc với luật vần sáu, tám
nên hay thay đổi tiết tấu nhịp thơ bằng vần lưng ở câu tám. Và như thế, Nguyễn
Vĩnh Tiến tránh được cái nhàm của thể thơ lục bát, lại có thể đột biến cho những
câu lục bát xuất thần.
Nguyễn
Vĩnh Tiến, chủ yếu, là thơ tự do. Thơ tự do theo quan niệm của riêng mình.
Nhân đây,
tôi muốn nói thêm quan điểm của Nguyễn Vĩnh Tiến về “thơ tự do”. Xin phép
không kiến giải thế nào là thơ tự do, bởi phàm người làm thơ, yêu thơ thì ai
cũng biết, cũng hiểu thể thơ tự do. Tuy nhiên, Nguyễn Vĩnh Tiến lại có cái nhìn
thể thơ tự do theo cách của mình. Theo anh, “Thơ tự do là muốn kết hợp thể thơ nào cũng được, miễn là mạch thơ, cảm
xúc thơ, ý thơ, tứ thơ trở thành một cấu trúc hay, đẹp, và quyến rũ”. Vậy
thôi. Quan niệm vậy, nên phần lớn trong hàng nghìn bài thơ của mình, Nguyễn
Vĩnh Tiến lựa chọn thể thơ tự do kết hợp kiểu này để chuyển tải ý tưởng, bởi đây
thực sự là chiếc túi càn khôn to nhỏ tùy thích có thể bao vây đặng chứa nổi
không gian hình họa mà tác giả kiến tạo nên.
Xin trích một khúc trong
bài thơ “Loài thi sĩ” làm ví dụ:
“... Thi sỹ không nên lấy vợ
Nhạc sỹ sống một mình cũng chẳng sao...
Nốt nhạc lúc thấp lúc cao
Thất thường nhịp phách, mưa rào nội tâm ...
Thi sỹ hồn mưa lâm thâm
Đôi khi thích bay lên bằng đôi cánh ướt
Rừng ý nghĩ thỉnh thoảng sầu thảm tê buốt
Mà chẳng hiểu nổi tại sao ...
Sống gì phần nửa chiêm bao
Lúc tỉnh thức, cũng lạc vào mộng mơ
Ai mà đợi, ai thèm chờ
Người tỉnh thì ghét người thơ, đúng rồi ...”
III. Thuyết về cái kết nốc –ao.
Đọc thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, thích cả
bài có, nhưng cũng có nhiều bài thích câu kết, đơn giản bởi câu kết thường hay
và rất ấn tượng. Những tưởng, là ngẫu nhiên thôi, hoặc giả, thì cũng là người
ưa cách dụng công vào câu kết. Song không hẳn thế, ấy còn là chủ trương của
Nguyễn Vĩnh Tiến.
Có lần, Nguyễn Vĩnh Tiến mời tôi và
nhà thơ Nguyễn Đình Hiển, cùng cha mình, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, du xuân miền
trung du, lên chơi trang trại của gia đình anh ở Thôn Liêm, thị xã Phú Thọ (cũ).
Lúc trà dư tửu hậu, nhà thơ Nguyễn Đình Hiển cao hứng đọc thơ, một bài thơ về mẹ.
Bài thơ này cả thảy có 5 câu lục bát, câu lục bát thứ 3 khá hay “Mẹ giờ đã hóa thành chùa/ Ta như chú tiểu bốn
mùa chạy quanh”. Nghe rồi, trong khi mọi người tấm tắc khen bài thơ hay,
thì Nguyễn Vĩnh Tiến bảo: “Sao bài thơ
không kết ở câu thứ 3 này? Kết ở đấy,
bài thơ ngắn gọn, hàm súc, mà là cái kết mở, có dư ba...”. Ngẫm nghĩ, ai
cũng thấy đúng vậy, thêm vài cặp lục bát nữa, bài thơ chẳng thêm được ý gì mấy,
mà cái kết là kết đóng, rất chi bình thường. Nhà thơ Nguyễn Đình Hiển mặt ngẩn
ngơ, chẳng biết nói sao, nửa muốn bỏ nửa tiếc.
Thế rồi, Nguyễn Vĩnh Tiến cao hứng bảy
tỏ quan điểm của mình, về cái kết nốc-ao (knock-out).
Theo Tiến, khi làm một bài thơ, tác giả chẳng mấy khác võ sĩ lên sàn đấu. Khi hạ
được đối thủ, không phải bằng cách tính điểm làng nhàng, mà hạ bằng knock-out
thì trận đấu hay nhất và đúng luật là nên kết thúc thắng lợi ở đấy, chứ chẳng
ai dại dột lại đi hà hơi tiếp sức rồi dựng đối thủ dậy, để đấu tiếp, mà rất có
thể mình lại thua. Với hình dung như vậy, phàm người làm thơ được trời cho câu
thơ hay, nếu thấy đủ, thì nên biết dừng bài thơ ở đấy. Chẳng nên ham và tham, kẻo
mà?...
Thiết nghĩ, quan niệm vậy, cũng lạ và
lý thú!...
May thay, không phải lý thuyết suông,
trong thực tiễn, thơ Nguyễn Vĩnh Tiến có rất nhiều cái kết nốc-ao:
“Ngạo nghễ cái gì hả bướm/ Chỉ nên chập chờn
thôi .../ Nơi xa vốn dĩ không lời/ Đạo là vô đạo, chôn nơi im lìm .... “(Thi nhân sầu);
“Ngoài hiên, ngõ nắng lân la/ Hỏi thăm mới biết,
mình qua đời rồi ...” (Đợi nàng Thơ)
;
“Tự do lượn bốn phương trời/ Đến khi mỏi cánh
thì rơi xuống hồ...” (Loài Thi sỹ);
”...Bây giờ tôi hiểu Ngày Xưa/ Chính là những thứ, mới vừa trôi qua ...” (Đêm nay ngủ ở Phú Thọ) ;
“... Sông Hồng khi tỉnh khi say/ Uống trăm năm nữa,
cạn ngày nay không ...?” (Bố tôi Cẩm
Khê, mẹ tôi Hoài Đức);
“... Tên em là rằm/ Hẹn anh ngày trăng
non e ấp/ Các nàng xâm xấp/ Ấm ngực mùa đông/ Thì ra cây cải vừa ngồng/ Then
cài sao để cõi lòng mở toang ... ?” (Những nàng đêm) ;
“...Bụi còn phủ cả lên lời/ Nghĩa trang
chữ nghĩa nằm phơi bóng vàng .../ Trăm năm, mơ chửa sang trang/ Nội tâm cũng
nát như hoàng thành xưa
“ (Đêm nay ngủ ở Hà Nội) ;
“... Sống sao cho chạm mưa nguồn/ Sợi mưa rơi xuống, thích
luồn lỗ kim .../ Chỉ còn lịch sử lim dim/ Xem lũ bọ gậy chết chìm đáy chum ...” (Lấp Lỗ Thủng) ;
“... À ơi, yêu đương trong lòng/ Ngủ đi với nhớ
và mong mệt nhoài/ À ơi, tới bến như lai/ Chữ như cò trắng bay đầy bến sông ..” (Thiền Thở Thiền Thơ);
“Chèo ơi chống mãi không xong/ Diễn viên luống cuống, rèm
buông nhạc tràn/ Tô tô, vẽ vẽ, hỏi han/ Chỉ thấy nhân vật, đã toan bỏ bài.../
Anh ngồi uống sợi thở dài/ Uống luôn gió của những ngày tối tăm... “(Xem Chèo) ; v.v...
Rất nhiều những cái kết
bài thơ như thế. Không hẳn đều hay, nhưng ấn tượng, khiến người đọc phải nghĩ
ngợi. Ấy là kết mở, để lại dư ba. Một không gian mới lại mênh mang mở ra sau
cái kết.
Thì cứ cho đây là một
thử nghiệm của Nguyễn Vình Tiến, thì với anh, đến giờ, tôi nghĩ đó là một thành
công.
IV. Dự cảm về một dương gian nhập nhoạng
Đọc thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, không nhiều
và cũng chưa rõ nét, nhưng người ta có thể nhận biết về một dương gian mà ở đó
chập chờn âm dương, bóng hình chạng vạng. Trước khi bàn, thiết tưởng hãy xem một
số bài thơ, câu thơ khơi gợi về dự cảm này:
“Ngồi xem cửa sổ chia ô/ Mưa hôm nay lụt nước
cờ hôm qua/ Tô viền cho những bóng ma/ Bằng ánh mắt sẫm như là chì than/ Tô
xong, sót lại trên bàn/ Một con tốt nhỏ đang giàn giụa bơi... “(Bàn cờ);
“Có gì nặng trĩu đường
trôi/ Một mùa xuân rót một lời đáy xuân/ Có quang gánh nỗi đồng lần/ Hồn kêu kẽo
kẹt trên thân thể buồn” (Đáy xuân)
“.... Sao lại cố bê tông nốt đồng cỏ?/ Sao lại muốn thiên
nhiên thành những thành phố điên?/ Sao sân si tiếp tục sinh muộn phiền/ Và cổ
suý cho những giá trị ảo?/ Đã bao thập niên ăn tạp và nói láo/ Sao không ngồi đốt
lửa bập bùng ở quê/ Rồi tĩnh tâm tìm một lối về/ Với nông thôn đang xác xơ lạnh
lẽo ...?/ Càng chạy sẽ càng đuối sức/ Càng bơi sẽ càng hụt hơi/ Bao nhiêu sâu lắng
trên đời/ Có bao giờ đọng ở nơi ồn ào?/ Chuồn chuồn chết rụng giữa ao/ Gió đưa
cái xác dạt vào bụi khoai ...” (Sao
chúng ta không về nông thôn) ;
“Trong một bữa tiệc/ Say rũ rồi óc tưởng tượng
thôi.../ Mà sao lòng dạ tơi bời/ Lấy tiên không lấy, lấy người làm chi...?”
(Tưởng tượng trong một bữa tiệc);
“Nhưng
tôi một giận mười thương/ Dẫu không tin, vẫn chôn xương chân giường/ Còn tin cá
chết để xương/ Thì còn châu báu trong rương cho nàng...”
(Đêm nay ngủ ở Việt Trì);
“Nàng bay về phía tự do/
Và nàng thích lấp lánh/ Của cải và kinh nghiệm của tôi/ Đều lần lượt trôi vào cống
rãnh .../ Nhưng nàng không đỏng đảnh/ Lúc nào cũng ẩm ướt thiết tha/ Nàng hóa
ra chỉ là ảo ảnh/ Của hồn tôi phản chiếu hồn hoa...” (Nàng Thơ-02);
“Anh vẫn thế.../ Chạy từ bờ đê chạy về dốc Tỉnh/ Chẳng có ngọn đồi nào
bình tĩnh/ Nếu tính từ nội tâm tính ra/ Nhưng vẻ ngoài thì nghìn năm hiền hoà/
Chỉ cọ cháy những bàn tay vụng dại ../ Chả lẽ lại về chết ở đây/ Chứ không phải
một ngọn núi kiêu bạc/ Một đỉnh cao thế giới?/ Cũng để làm gì đâu?/ Chết là hoa
cải phai màu/ Từ vàng rực đổ sang nhàu vàng thư/ Từ sắn khô đến khoai nhừ/ Chỉ
là bếp lửa hình như ... bập bùng ...” (Đêm
nay ngủ ở Phú Thọ);
“Việt Trì - Phú Thọ - Lâm Thao/ Anh về nơi
nào, hạc trắng cũng bay/ Xót xa thời những kẽ tay/ Run run mộ biếc cỏ may vướng
gì? / Sông Hồng thở khói vô vi/ Hồn hồi hộp nấp bên rìa miếu hoang/ Hỏi han đến cuối đường làng/ Mới hay đò cuối
ngày sang sông rồi.../ Việt Trì -
Phú Thọ - Lâm Thao
“Ngược xuôi trong cõi hão huyền/ Nhiều
khi tỉnh thức là miền vô vi... / Thế rồi giấc mộng tô chì/ Chân dung giấy nháp
cũng đi như người ...” (Trầm
cảm-01) ;
“Anh trồng cây tỏi/ Nó nở hoa hành .../ Yêu đương một thuở tanh bành/ Học
hành lởm khởm không thành núi cao.../ Rồi cuối Xuân có mưa rào/ Có hồn lành lạnh
nhập vào hồn anh ...” (Đêm trung du);
v.v...
Những
bóng hình chập chờn âm dương này tuy không nhiều, nhưng dường như thường trực,
ám ảnh tâm trí Nguyễn Vĩnh Tiến. Cảm giác như, có sự phân thân hay phân tâm nào
đó trong con người tác giả? Không thật rõ, những tôi linh cảm vậy. “Ông
bà tôi hình như vẫn thế/ Chết lâu rồi vẫn đi dạo đâu đây” (Phú
Thọ của tôi). Nếu theo quan niệm của người xưa, dương sao âm vậy, thì cảm
giác như Nguyễn Vĩnh Tiến ở nhiều thời khắc, sống chung với cả hai thế giới,
nói chuyện thản nhiên với cả người dương và người âm ...
Chúng ta
đều biết, “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ và “Liêu trai chí dị” của Bồ
Tùng Linh là truyện lạ, truyện ma. Thế nhưng, ở “Truyền kỳ mạn lục” thì ma
rõ ma, sợ sợ là, đọc rồi nhát đi đêm, song ở “Liêu trai chí dị” thì ma
lẫn với người dương, hành xử như người dương, không mấy sợ. Tôi nghĩ, chất âm
dương trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến gần với chất “Liêu trai chí dị” hơn.
V. Tính triết luận, mạnh và yếu.
Triết học đã là sự đam mê từ thuở tuổi
20 của chàng sinh viên Kiến trúc khi bắt đầu đọc theo hệ thống triết học Hy Lạp,
triết học Pháp và Triết học Đức. Về sau, sang tuổi ba mươi trở đi, Nguyễn Vĩnh Tiến
thổ lộ mới đủ tuổi ngấm dần triết học Phật giáo và Đạo giáo. Bên cạnh đó, anh
còn say mê các sách Tâm lý học và Lịch sử :
“Anh chẳng thích lỗ thủng lịch sử/ Anh
thích lỗ thủng của em/ Ẩm ướt, hồi hộp và đầy hải sản.../ Và lịch sử cũng chẳng
có lỗ thủng/ Lịch sử được lấp đầy bởi linh hồn và xác chết/ Và sự man rợ tàn
sát của tất cả chủng loài.../ Chỉ có
lỗ thủng của em là tuyệt vời /Chỉ có lỗ thủng của em là sinh sôi / Sinh ra cả một
chân trời / Ngày xưa thi sỹ có người từng bay .../ Cứ loạn xạ lên Triết lý,
giãi bày/ Rồi ăn thịt, ăn rau, và nói đạo
nghĩa” (Lấp Lỗ thủng);
“Chúng ta nên nuôi nấng sự khinh bỉ/ Và để chúng mọc lên
như dương sỉ nóc nhà/ Chúng ta nên oà như rêu biếc/ Phủ phù du lên mọi tiếng ngợi
ca/ Chúng ta nên nuôi những lời câm nín/
Trong lồng son của máu và hoa/ Rồi
chúng ta nên ra bờ sông vắng/ Ngủ chông
chênh như một mỏ neo phà .....” (Nên nuôi nấng sự khinh bỉ);
“Chúa trời hỏi viên kim cương : -Mày là gì mà kiêu căng quá vậy?/ Kim
cương trả lời : Vì tôi siêu cứng/ - Thế mày không biết sức mạnh của dòng nước mềm
mại à?/ Kim cương trả lời : Nhưng tôi lấp lánh/ - Thế mày không biết sức mạnh của
vật chất tối à/ Kim cương trả lời : Tôi còn đắt giá nữa ?/ - Thế mày không biết
kinh tế duy tâm và tiền ảo là gì à?/ Kim cương khóc oà : Thế ngài không thương
cái đẹp?/ Thượng đế bỏ đi, vì theo lẽ công bằng, con bò và cỏ dại cũng đẹp.” (Cái đẹp);
“Đừng leo cao/ Lại rơi xuống vực thẳm của sự thờ ơ/ Đừng xuống
thấp/ Lại bị âm hồn năm cũ làm chật giấc mơ .../ Dân gian sinh sôi/ Dân gian rượm
lời/ Như hoa mỗi loài mỗi vẻ .../ Anh thôi không kẻ vẽ/ Chỉ để thời gian phác
thảo hộ tương lai .../ Tương lai, không đúng, không sai/ Nối sợi thở dài đan áo
nàng Bân .../ Kìa em, sau Tết, là Xuân/ Tình anh nước lã hòa dân gian rồi ...” (Xuân
dân gian);
“Giật mình lại thấy trống không/ Vừa
hình hài thế, đã bong bóng rồi ... / Ven am Ao nhỏ/ Lá tre rụng bời bời/ Hỏi
sao có tình huynh đệ ?/ Huynh đệ là khi mọc rễ/ Còn nhường tăm tối cho nhau/ Ngọn
cỏ rầu/ Núi thích sâu/ Còn khe ẩm ướt lại ngước bóng núi/ Tháng ngày lúi húi/
Không dám đi vào lối cửa Từ Bi/ Cửa Từ Bi chẳng mạng nhện gì/ Chỉ tò vò khóc
than vì thương thôi ... / Thương cho vạn dặm xa xôi / Cứ huênh hoang mãi những
thời vô minh” (Nhìn
cánh nhạn);
“Tôi chưa kịp lạc trong những khúc rẽ/ Thì
mưa vết thương đã phủ những ngày lành .../ Tôi có những ngọn cỏ màu xanh/ He hé
nhú bên rìa niềm hy vọng/ Và cũng ở bên rìa những chuyển động/ Một lũ thời gian
ngu ngốc ngẩn ngơ trông ...” (Vết
thương và lũ thời gian);
“... Bạn thơ chết ở nẻo thơ/ Bạn tình chết ở bơ vơ cuộc
tình ../. Sáng ra, đã thấy thương mình/ Thương bong bóng vỡ những hình bóng
hoa/ Hoa gì lại nở đường xa/ Nở vô danh cả chuyến phà vô hương .../ Sáng ra, hạnh
phúc đứng đường/ Dưới chân, sóng của thất thường, thành sông ...” (Sáng ra hạnh phúc đứng đường);
“Bấy lâu chẳng đếm thời gian/ Tháng ba chưa hết mà toàn tháng tư / Đêm
năm canh mà lại như/ Trống không bàn tiệc, tàn dư cuộc cờ .../ Bấy lâu cơn lũ
ngủ mơ/ Thành mặt nước sấp tràn bờ lan đi.../ Bấy lâu hơi thở đeo chì/ Chỉ hoa
gạo đỏ những khi đêm tàn..”. (Hoa gạo
đỏ);
“Hết rồi ngày tháng mộng mơ/ Đời còn nhặt rác
trên bờ tháng năm/ Cũng chẳng vĩnh cửu ăn nằm/ Sống là hơi thở ghé thăm nhẹ
nhàng/ Lá lành hay rách, đều vàng/ Đều rơi rụng ở dưới hàng mi cong/ Ô kìa đêm
đã thành dòng/ Sao anh vá cái Trống Không làm gì ?” (Vá
víu) v.v...
Với hàng ngàn bài thơ,
từ những năm Nguyễn Vĩnh Tiến hồn nhiên,
tươi tắn, sau này, hàm lượng triết luận ngày càng tăng, nhất là mươi năm trở lại
đây, hầu như bài thơ nào cũng có tính triết học. Nếu như, tính triệt luận là hệ
quả tất yếu của ngôn ngữ dân gian đương đại
và không gian kiến trúc trong thơ
Nguyễn Vĩnh Tiến, thì đương nhiên, yếu tố này dần trở thành chủ đạo và nó làm
nên sắc thái, diện mạo, định dạng thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, làm người ta nhận ra
anh giữa những nhà thơ khác.
Quả vậy, chất triết luận
là một điểm mạnh tạo nên tính khái quát và sức nặng cho thơ Nguyễn Vĩnh Tiến.
Nó làm bài thơ thoát khỏi sự tẻ nhạt, chàng màng, à ơi thường thấy. Mỗi bài,
người ta đều cảm nhận được tác giả khái quát một điều gì đấy, hay gửi thông điệp
nào đó, mặc dù chưa hẳn đã đúng, đã hay hoặc mang tính phổ quát, song rõ ràng
là có ý tưởng.
Tuy vậy, cái gì cũng có
tính hai mặt của nó. Ở một liều lượng đủ và hợp lý sẽ mang đến hiệu quả tích cực,
còn như nặng về triết học hay xã hội học quá liều sẽ khiến Thơ trở thành khô cứng,
giảm đi sức gợi, phai đi sắc màu và giai điệu. Điểm lại thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
nói chung, với những đoạn trích trên đây, tuy có nhiều khúc triết luận khá nhuần
nhuyễn, uyển chuyển về giai điệu. song không khó để nhận thấy, tính triết luận
đồng thời, vừa là điểm mạnh và điểm yếu trong thơ anh.
VI. Tâm thế thơ chở “nỗi buồn trung du”
Ngay
đầu bài viết này, tôi đã mượn câu thơ trong một bài thơ của nhà thơ Nguyễn
Vĩnh Tuyền, thân sinh của Nguyễn Vĩnh Tiến, mà anh mượn để làm lời cho ca khúc”
Ông tôi” của mình : “Tờ mờ sáng ông đi về phía núi. Đồi núi mở ra
câu chuyện buồn trung du...”. Cho đến giờ, nhận thấy, gần như toàn bộ sự
nghiệp thi ca-âm nhạc của Nguyễn Vĩnh Tiến, nói chung, mang đậm âm hưởng này.
Dường như, nó ám ảnh, thường trực trong ý nghĩ của Nguyễn Vĩnh Tiến và dần ngấm
vào tâm thế anh, rồi được biểu hiện trong thi ca cùng âm nhạc của anh....
“Tôi lao như mũi tên/ mê theo quả bàng
chín ẩn hiện trong lá tim/ Tuổi tôi bao giờ cắn ngập những làn hương?/ Phố xá
im lặng chồn chân/ Cánh cửa màu trắng phía ngày xa rộng toác/ Vẫn ít người trở
về/ Tôi quen trò trốn tìm sắc ngày nhạt/
Khi chán lại tìm trùng điệp những ngọn đồi chơi trò cánh cung mây/ Tôi
chạy xa rồi cái bến đợi chuyến đò định mệnh/ Nhưng Sông Thao lẽo đẽo chảy trong
người”. (Trung
du );
“Tôi là một con chim, bay qua dòng sông/ Tôi
nghiêng đôi cánh,... Mặt sóng soi tôi thành một con sóng/ Dòng nước soi tôi
thành một chiếc lá/ Trôi dạt...trôi dạt.../ Tôi bay đi tìm .... bóng tôi/ Bờ
lau hình như hình như ai che tiếng nói/ Bờ lau hình như hình như ai gom tiếng
sóng/ Sóng vỗ, nghe như câu chuyện về dòng sông/ Bỏ quên mất bóng cho đôi bờ/ Gửi
bao héo hắt cho đôi bờ/ Tôi chao, chao đi chao lại cùng sương khói/ Tìm đâu thấy
bóng tôi trôi ngày/ Tìm đâu trí nhớ tôi sương mù..../ Cuối chân trời, mây lững
thững bay/ Cuối một ngày, sông lững thững trôi...” (Chim bông lau tìm bóng);
“Tôi chỉ bị quyến rũ bởi cội nguồn/ Và nỗi buồn chó ăn
đá gà ăn sỏi/ Nên tôi không đứng về phe tài giỏi/ Tôi trôi theo từng thân cọ luống
chè xanh.../ Đêm nay ngủ ở Việt Trì/ Tôi ngóng về Cầu Phong Châu Đỉnh Hùng
Lĩnh/ Chắc vua Hùng sống lại cũng không thể bình tĩnh/ Trước những ngọn đồi như
da thịt rách bươm.../ Nhưng tôi một giận mười thương/ Dẫu không tin, vẫn chôn
xương chân giường...” (Đêm nay
ngủ ở Việt Trì);
“Mộng về xóm núi lân
la/ Hỏi thăm, lạnh lẽo đã qua nửa lòng?/ Nhớ trái na nặng đầu đông/ Lá na rơi ở vườn không lặng lờ/ Nửa đêm lau
lách nằm mơ/ Nồm lên hơi ẩm nương nhờ ngón tay/ Lang lang lớp lớp mây mây/ Nỡ
lòng nào lỡ phút giây hoạ hoằn/ Nước nôi từ thuở gối chăn/ Nửa lòng lạnh ngắt,
nửa rần rật reo ...” ( Xóm núi);
“Ngày mai lại đến giỗ bà/ Trung du xanh thẫm
nhạt nhoà mưa xưa/ Thạch Đê đồng lạnh gió mùa/ Cẩm Khê xoan cũng mới vừa tháng
ba.../ Mười mấy năm cháu xa bà/ Hồn phảng phất mãi hiên nhà, đồi xưa/ Cây mít
giờ đã lên chùa/ Bụi tre đã đốn, rễ trơ góc vườn/ Nhà xưa giờ đã trống trơn/
Cháu con mê mải chập chờn xa quê.../ Cháu giờ tuổi giống triền đê/ Chỉ thoai
thoải dốc đổ về bến sông ...” (Giỗ
Bà nội);
“Chết là hoa cải phai màu/ Từ vàng rực đổ
sang nhàu vàng thư/ Từ sắn khô đến khoai nhừ/ Chỉ là bếp lửa hình như ... bập
bùng .../ Sầu thì riêng chẳng sầu chung/ Người cứ bừng bừng cháy cõi người
thôi/ Trung Du đêm vắng lặng rồi/ Tôi nằm tôi nếm từng thời khắc qua.../ Có
chang chang nắng nhớ phà/ Có đêm khóc những người già mộng du../ Bây giờ tôi hiểu Ngày Xưa/ Chính là những thứ, mới vừa trôi qua ....”
(Đêm nay ngủ ở Phú Thọ);
Vậy là con
sông Thao cứ lẽo đẽo chảy theo chân, theo cái bóng của cậu bé Nguyễn Vĩnh Tiến
từ thuở lon ton cho đến khi giật mình nhận ra mình đã ở vào cái “tuổi giống triền đê, chỉ thoai thoải dốc đổ
về bến sông”. Người xưa bảo “ngũ thập
tri thiên mệnh”, giờ mớm đến tuổi này, Nguyễn Vĩnh Tiến đã ngộ ra, cái gọi
là “ngày xưa” đâu có xa xôi gì, mà
chính là “những thứ mới vừa trôi qua”.
Nhanh thế, mau vậy, nhưng đâu có thể vội vàng.
Cùng với
cuộc sống bộn bề chảy xiết ngày hôm nay, Nguyễn Vĩnh Tiến đã biết cách tổng hợp,
kéo dài, vẽ những bức tranh thơ khổ lớn, du hành ngược dòng thời gian về quá khứ,...
“Bố tôi Cẩm Khê, Mẹ tôi Hoài Đức/ Hai vùng
quê ròng ròng ký ức/ Hai vùng quê rã rời đổi thay/ Trước cò bay/ Giờ bụi bay/
Trước mỏi cánh/ Giờ sa lầy/ Tôi lớn lên từng ngày/ Người thân mất đi từng cụ/
Trẻ con lớn lên từng đứa/ Cho đến một ngày khóe mắt cay cay/ Có bao nhiêu khế
chín cây/ Có bao thành quách lung lay bóng hồ/ Còn bao nhiêu thứ hồ đồ/ Còn bao
nhiêu gió mơ hồ vẫn bay...” (Bố tôi
Cẩm Khê, mẹ tôi Hoài Đức);
“...Phía Nam là Trung du thở/ Phía Bắc là mây
âu lo/ Nhà tôi nằm ở trên đồi/ Có cây mít mật quả rơi kiến bò/ Tối qua tôi uống
rượu ngô/ Ăn xôi ngũ sắc đến giờ vẫn say/ Thương nhau thì mới cầm tay/ Từng sợi
hơi ấm thành dây tơ hồng /... Quê nội tôi ở đó, giờ vẫn chiêm bao/ Tôi mơ thấy
mình thành viên đá ở Thẩm Thoóng...” (Yên
Bái); v.v...
Tôi ngại,
cứ mãi lan man trong dòng ký ức của Nguyễn Vĩnh Tiến thì e rằng sẽ lạc lối sa lầy
chẳng biết đường ra... Với tâm thế này,
những câu chuyện buồn trung du sẽ vẫn như dòng sông Thao cứ lẽo đẽo trôi chảy,
mang theo cái bóng của Nguyễn Vĩnh Tiến cho đến ngày nào đó anh cảm thấy quá mệt
mỏi mà buông bỏ chăng.?...
Giờ thì
chưa, trong dòng chảy ký ức của mình, Nguyễn Vĩnh Tiến đã bày tỏ thái độ của một
trí thức, thẳng thắn và dứt khoát, khi mà nông thôn xứ mình, cả miền quê trung
du và làng quê của anh, đang trong cơn lốc “đô thị hóa” với nhiều bất cập, lo
nhiều hơn mừng...
“Sao chúng ta không về nông thôn?/ Cùng quây
quần bên nồi cơm nóng/ Vườn ao chuồng, đi dưới trăng thấy bóng/ Tre, Lúa, Sông
còn nghe thấy tiếng reo .../ Sao chúng ta cứ chê nông thôn nghèo ?” (Sao chúng ta không về nông thôn);
“... Anh hãy phơi áo ra nắng/ Để áo thơm mùi nắng/
Hôm nay anh về thôn vắng/ Dân làng bán hết cây to/ Để nhường cho các dự án/ Để
tầng lớp trung lưu mới/ Được kiến trúc xanh và chất lượng sống mộng mơ .../ Ơ
hơ.../ Ruộng khô hết cả bờ/ Cá chết vì nhiễm độc/ Người dân lởi xởi với một số
người đi mua đất...” (Phơi áo sau Xuân);
Lẽ dĩ
nhiên, đô thị hóa nông thôn là một tất yếu cuả cuộc sống và phát triển. Nông
thôn cũng không thể cứ mãi nghèo đói cũ kỹ lạc hậu để bây giờ chúng ta lấy cớ
mà thương nhớ nỉ non này nọ.... Song rõ ràng, hiện tại, nhiều cảnh sắc và những
giá trị truyền thống tốt đẹp của làng quê Việt bị mai một, mất đi trong khi các
giá trị văn hóa mới chưa hình thành, hoặc dang dở không thể hiện được tính tích
cực. Ấy là điều đáng lo.
Thế nên,
Nguyễn Vĩnh Tiến, con người Thơ chất chứa “bốn
trong một” ấy không lo âu sao được? Khi mà, còn chưa thực hiện được những dự
án lớn quy hoạch tổng thể và bảo tồn di sản làng quê Việt thời hiện đại, thì việc
bày tỏ trong thi ca và âm nhạc của mình là cần thiết. Hãy cứ cất lên những lời
cảnh tỉnh, âu cũng là tiếng nói thiết thực, thể hiện trách nhiệm công dân và
nghệ sĩ của mình.
Nguyễn Vĩnh Tiến, kể từ buổi ban đầu, cái ngày mà tôi mường tượng về
anh “một con sẻ nhỏ xa nhà, sang sông”, rời
mảnh đất trung du Phú Thọ về Thủ đô học hành, rồi sang Pháp du học, lại trở về
Việt nam, thì đến giờ, cũng đã hơn ba mươi năm trôi qua, anh thực sự trở thành
một con đại bàng giang đôi cánh rộng bay lượn giữa bầu trời thơ ca nhạc họa!...
Vẽ xong
vòng tròn để phác thảo chân dung Nguyễn Vĩnh Tiến, tôi hy vọng sẽ có một cách
tiếp cận để hiểu, cảm và thưởng thức những tác phẩm mới tiếp tục dồi dào sức
sáng tạo của Tiến. Và kìa, con đại bàng ấy đã lại tiếp tục giang rông đôi cánh
tự do bên ngoài cái vòng tròn tôi vẽ…
Có lẽ, đó
mới chính là Nguyễn Vĩnh Tiến ?!... ./.
XEM ĐÊM, NHẬN DIỆN
PHÙNG CUNG
I. Có một nông thôn
trong thơ Phùng Cung
Lâu rồi, một ngày cuối thu. Đầu óc u
u minh minh với việc công sở. Tản bộ ra một hiệu sách gần, nhà sách của Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây nằm
trên phố Bà Triệu. Nhìn những giá sách mới ngồn ngộn những quyển, những bộ dày
mình, bóng lộn và sặc sỡ đến hoa mắt choáng đầu. Thầm nghĩ, tri thức nhân loại
đầy cả đây mà sao phân vân chẳng biết mua quyển gì. Bèn ngó nghiêng sang quầy
sách đại hạ giá cũ kỹ đầy bụi phủ. Rút bừa một cuốn bìa xám sỉn lép xẹp trên
cái kệ có treo bảng ghi giá chung cho mọi quyển là 5 nghìn đồng. Lại là thơ ư?
Lâu nay mình đã ớn thơ phú lắm rồi. Song
khi nhẩm đọc tên sách, tên người và cảm thấy, hình như mình đã đọc hoặc nghe ai
đó từng nói về cái nhà ông Phùng Cung, tác giả của tập thơ này, có cuộc đời
truân chuyên, chìm nổi lắm lắm... Thôi thì thử đọc xem sao...
Nào ngờ, cái tập
thơ Xem
đêm (NXB Văn hóa thông tin-1995)
đã được in từ mấy năm trước, nay thuộc diện hàng chậm luân chuyển, bỏ bán lấy vốn
ấy, đã đem đến cho tôi sự thích thú. Cảm nhận thì nhiều, song trước hết, xin
bàn về hình bóng một nông thôn lạ lẫm, vừa sâu rộng, lại có gì đó chập chờn nửa
thực nửa hư ...
Ấy là một nông
thôn đầy sắc màu, thanh âm ngồ ngộ, lạ mắt lạ tai, song vẫn rất thân thuộc và gần
gũi: "Sông chảy bồn chồn hoa nắng/
Chim chả nguệch bàn cờ bến vắng"; "Ngô lúa quanh làng/ Một màu xanh-cánh-chấu ; "Hoa bầu rụng/ Lèo tèo tóp mỡ/ Pháo đất bốp bờ
ao"; “Tu hú trên ngọn
sung chùa/ Giật mình, xông giọng"; "Ốc luộc lá bòng thơm tấy ngõ/ Lúa non chấp chới dậy thì/ Nhũng nhẵng
dây cò-phơi tã"; "Hạt mồng
tơi kênh đất nghe trời/ Chuối con gái vội hong búp lụa"; "Con sộp phùm vỗ hão bóng hoa lay/ Lá tre rụng/
Nhuộm hoàng hôn tím đỏ"; "Diều
lá vông cỡn gió/ Con rắn bay/ Đuổi gấp vầng trăng" v.v và v.v...
Một vùng nông
thôn trũng úng, lầm lụi sống, vật vã với cái đói cái rét, nhẫn nại trong lam lũ
cực nhọc để mà vượt lên: "Trắng lưng
trời/ Làng thôn nơm nớp/ Củ ráy đẫy gang"; "Tép riu sang khế/ Khăn bùn thuyền thúng-đăm chiêu/ Đồng chiêm ơi/ Khóe
mắt ngời nắng cũ"; "Lẻ tấm/
Búng rền/ Đũm mắm/ Đểnh đoảng mùi cháo canh"; "Ngô phong cờ/ Chó chạy hở đuôi/ Cái
đói-tròn/ Lăn-kín bốn mùa"; "Gió
bấc về/ Gà con lên cơn sốt/ Nhong nhóc đi, đứng/ Chen nhau tìm chỗ ấm/ Cẳng gày
lội gió"; "Bến đò quán chợ-ngã
ba/ Vật vã mùi cháo thí đêm hè"; "Tiếng cuốc bèo da diết gọi ngày mai” ...v.v...
Và trong những
cảnh huống ấy, trăn trở, nặng trĩu, nghèn nghẹn, da diết một nỗi niềm người, nỗi
niềm ta: "Bạc tóc trở về quê/ Bỡ ngỡ
tìm dò bến mới/ Nhìn dáng lạt bó rau/ Nhận được người làng"; "Mảnh tình riêng/ Dạt nẻo hoa trôi";
"Em vừa ốm dậy/ Cơm bắp, dưa sung/
Thèm canh chuối/ Sảy tay vỡ bát/ Em run rảy nhìn ngơ ngác"; "Xì xẹt sái nhì-tắc điếu/ Cút tương kiến gió
đánh đai/ Rổ không hờ hững quang treo/ Nắng thả chào mào nghiêng nghé";
"Sáo diều ai hóc-gió ven sông";
"Nhớ người đi xa/ Đãy sắn khô/ Lẽo đẽo-thơm-giáp
hạt"; "Sương chiều nghe-lạnh
bước chân/ Khách áo cũ/ Tìm về bến cũ/ Ai đốt rác lá tre bên ngõ/ Lối đi đầy
mùi khói cuối năm"; "Đêm chợt nghe/ Trong gối vọng tiếng ru/ Lắng tai
nghe mới rõ/ Tiếng tóc mình chuyển bạc"; "Lúc ra đi/ Đãy quê thao thức gối đầu/ Trót-dông dài-trăng nước/ Mặt
va-giông chớp/ Rạc mái phong lưu/ Gót nhọc/ Men về thung cũ/ Quỳ dưới chân quê/
Trăm sự cúi đầu/ Xin quê rộng lượng" ...v.v...
Quả là tôi
không thể nhắc hết được những câu thơ như thế. Nhiều lắm những chữ, những câu,
những tứ lạ, súc tích và ám ảnh. Nguyên là một cây bút về văn xuôi, bẵng đi mấy
chục năm, khi tái xuất lại bằng thơ, không ngọt như mía lùi kiểu Hoàng Cầm,
không ấn tượng như Hoàng Hưng, Phùng Cung lặng lẽ, thâm trầm mà như khắc như tạc...
Tôi biết, thơ
phú bây giờ nhiều vô kể. Cứ mỗi ngày trôi qua, có cơ man những bài thơ được
đăng báo, có bao nhiêu tập thơ từ các câu lạc bộ thơ xã phường đến các sa-lông
văn học sang trọng nơi đô thị, rồi các nhà xuất bản tiếng tăm ở trung ương cho
ra lò, trình với làng thơ ca? Rồi nữa, quan niệm về thơ, về thơ hay luôn trong
cảnh chín người mười làng, mỗi kẻ một phách, mấy ai chịu nhau. Riêng với tôi,
thơ hay là đọc rồi, nó cứ ám ảnh mình mãi. Tôi cũng lại biết, có nhiều nhà thơ,
nhà phê bình đang sốt ruột lắm, vì họ cho là nền thi ca Việt
Đọc rồi, cứ rẩm
riu tự hỏi, sao các nhà ông này lại thấu hiểu thôn quê đến thế, viết hay đến thế?
Ngẫm ra, thấy những bài mình viết về thôn quê chẳng đáng giá gì. Tôi không rõ
quê ông cụ thể ở đâu, song cứ qua thơ mà đoán, thì hẳn là một quê chiêm trũng
thuộc đồng bằng Bắc bộ. Cũng na ná như vùng quê tôi. Mùa thối chiêm khê, cấy
chay bừa chùi, đồng xa bước chầy bước thụt, nặng những gánh lúa ướt sũng, hạt
ngậm nước lâu ngày lên mộng mạ, đập ra đánh đống nơi sân kho hợp tác xã hâm hấp
nóng bốc hơi nước mờ mịt mùi men rượu ... Thóc vậy mà đâu có được ăn cho no bụng,
vì vẫn phải đủ nghĩa vụ lương thực, còn dành dụm cho tiền phương. Cứ thế, thắt
lưng buộc bụng, khoai sắn, rau dưa độn vào cho ấm lòng. Vậy mà không một ai kêu
ca, eo xèo, bởi mọi người đều hiểu rằng, có thấm tháp gì với những gian khổ hy
sinh nơi chiến trận. Giá của mỗi chiến thắng ngoài mặt trận, của mỗi ngày bình
yên chốn làng quê ấy phải đổi bằng máu, bằng mồ hôi nước mắt, bằng chính những
bó lúa mộng mạ nóng hổi hơi nước kia!... Những ngày tháng đầy gian khổ lo âu ấy
trôi qua nặng nề làm sao mà cũng bình thản làm sao. Không một người dân quê nào
hiểu nổi nó đã trôi qua bằng cách nào, chỉ biết mình vẫn sống, làng quê mình vẫn
sống, dân tộc mình vẫn tồn tại một cách vững chãi. Tôi đã cảm nhận được một
nông thôn như thế qua những bài thơ của Phùng Cung, tất nhiên, trong đó có cả
những nỗi niềm riêng tây, nỗi đau bản thể. Phùng Cung đã khắc họa bằng ánh sáng
sắc màu, thanh âm và cảm quan để ra một nông thôn của một thời đã qua, chân thực
đến xót xa, đẹp một cách âu sầu, song lại vô cùng lung linh huyền ảo. Hiểu một
nông thôn như thế trong quá khứ chưa xa, mới càng thấm thía một nông thôn đang
khởi sắc của ngày nay!...
Nông thôn ta ngàn đời vẫn vậy, dẫu đời
sống nông dân có khấm khá lên nhiều, song thói quen tằn tiện, chịu khó chịu khổ
vốn đã ăn sâu vào máu thịt thì đâu dễ phai lạt. Còn là ở cái tâm lý: "Được mùa chớ phụ ngô khoai. Đến khi thất bát
lấy ai bạn cùng". Thì cứ cho là những câu thơ của Phùng Cung viết về
nông thôn như ngô như khoai đi. Bình thường chỉ là ăn chơi, mấy ai để ý. Đến
khi xót lòng, mang ra ăn, càng nhai càng ngọt càng bùi. Đấy là chưa kể, mấy ai
đâu đã nghĩ, một ngày nào đó, ngô khoai lại trở thành đặc sản như bây giờ !...
Giờ mới thấy, những gì mình đã viết về
nông thôn chỉ ngô khoai thật, còn thơ của Phùng Cung thì thành đặc sản rồi.
II. Không đổi giọng Tân Cương
Sau khi tình cờ
mua được tập thơ Xem đêm của Phùng Cung, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần và càng đọc
càng thấy thích. Theo thiển ý riêng tôi, đây là một tập thơ hay nhất được xuất
bản trong những năm gần đây. Tôi đã viết một bài về tập thơ ấy đăng báo, đó
chính là phần 1 trên đây. Thực lòng
khi ấy, tôi không biết gì nhiều về ông ngoài chút thông tin rằng ông chính là
tác giả của truyện ngắn Con ngựa già của
Chúa Trịnh. Và chính vì truyện ngắn đó mà cuộc đời ông long đong, khổ ải.
Rồi những
thông tin về ông cứ ngày một nhiều và rõ dần ra, nhất là khi đọc Cát bụi
chân ai của nhà văn Tô Hoài. Thế nhưng, phải đến khi cuốn sách Ba
phút sự thật của nhà văn Phùng Quán ra đời, thì tôi mới có hình dung
tương đối rõ hơn về con người và văn chương Phùng Cung, kể cả mối quan hệ của
ông với cụ Nguyễn Hữu Đang và Phùng Quán, cùng các văn nghệ sĩ khác .
Trước đây, qua
tập thơ Xem đêm, tôi cứ hình dung rồi đồ rằng, Phùng Cung chắc sinh ra
và lớn lên ở một làng quê đồng bằng Bắc bộ như Thái Bình hoặc Hà Nam chi đó.
Nào ngờ ông quê Sơn Tây, xứ Đoài với sông Đáy, sông Đà, núi Tản thơ mộng, nơi
đã từng nuôi dưỡng hồn thơ Tản Đà, Quang Dũng. Lại nữa, ông đã từng vì chuyện
văn chương mà phải sống cuộc sống cách biệt với đời thường và môi trường văn
chương những đủ vòng năm con giáp. Rồi những tháng ngày khó khăn thiếu thốn, để
sinh nhai và nuôi con khôn lớn ông từng phải lăn lộn với nghề đập đinh nặng nhọc,
kể cả việc phụ vợ làm bánh rán thêm thắt. Khi đã có thơ rồi thì không có tiền
in. May mà được Phùng Quán chăm chút bản thảo và còn định mở một đợt lạc quyên
lấy tiền in sách cho ông. Lại may, được cụ Nguyễn Hữu Đang dồn tiền dành dụm dè
sẻn của mình, mang cho in sách. Thế mới có tập thơ Xem đêm ra đời (NXB Văn hóa thông tin, năm 1995), in
trên giấy xấu, trình làng với bạn yêu thơ. Tôi biết cảm ơn ai đây vì được đọc tập
thơ này, Phùng Cung- Phùng Quán-Nguyễn Hữu Đang, và còn những ai nữa ?
Càng đọc, lại
càng thấm. Những bài thơ ngắn- nhưng nỗi đau đời thì dằng dặc- song đầy sẻ
chia, an ủi- rồi trải mênh mang như sự
thiền định- và nữa, ngộ ra để tự răn như những bài kệ nhà Phật...
Ta thử đồng
hành cùng Phùng Cung. Thoạt đầu là những nỗi đau đời nếm trải : "Tội nghiệp nhà thơ/ Hợm mình/ Lầm lạc/ Bởi
không biết sống/ Nên không biết chết/ Nửa thế kỷ/ Bị lưu đày/ Trong cõi tung hô" (Tội nghiệp); "Binh
lửa bay rồng đá/ Còn đây vũng trâu đầm/ Màu càn khôn lăn lóc/ Gào thét
sóng-hoa-văn" (Vết cũ); "Vạn thuở hồn xanh cỏ/ Mặt đất thơ gắn bó/ Bất hạnh nào hơn/ Già rụi quê
người ..." (Ăn năn); "Phận-lấm/ Tối ngày đào ngoáy/ Lưng nắng-vẽ/ Hoa văn tiền sử/ Chài chãi
đồng chiêm/ Mấy kiếp rồi" (Cua đồng); "Tôi đập nghiên gấm/ Ném vút lên vòm trời
Gô-tich/ Gõ cửa phái mê hồn/ Xem lên tiếng ra sao/ Tôi ghép chữ-thơm/ Bắc cầu
lên hỏi/ Cõi bất tử siêu phàm/ Liệu có dung nổi một nhà thơ" (Kỳ vọng);
"Đêm đen/ Kìm kẹp ngọn đèn/ Gãy lửa/
Vẫn vinh danh nguồn sáng" (Nguồn sáng) .v.v...
Còn đây là những
sẻ chia, an ủi - với người, với vạn vật đất trời, với cõi hư vô, cũng là để tự
mình: "Mưa nhỏ ngang sông/ Cò vạc
thay nhau/ Săn dòng nước đục/ Cái phù du giả chết/ Vật vờ trôi..." (Giả
chết); "Đầu trần/ Chân đất/
Đường cơm áo vụng về/ Kéo lê cái bóng/ Thân nhơ bóng sạch..." (Vụng về); "Nửa đời/ Nước thải/ Hưu non/ Vã mồ-hôi-son/ Tảo tần chiều sớm/ Quốc lủi
lưng vơi/ Ngấm câu thành ngữ/ Mắt trước mắt sau/ Kinh hoàng di lụy/ Tóc bạc-vào-mùa/
Răng hơi bị đuối/ Trệu trạo trái sung/ Ruột tím cơ hàn" (Tím
cơ hàn): "Đèn bên sông/ Hay
bụi-sao rơi/ Mà hiu hắt/ Cơ hồ muốn tắt/ Có phải hình bóng người đã khuất/ Mộng
công hầu chưa đạt/ Nay lại lần về mượn cửa tái sinh" (Bụi
sao rơi); "Ai làm cho bạc-
tuổi nhau/ Nhìn trời xanh/ Nhớ mái đầu xanh xưa/ Tuổi xanh bạc giữa bất ngờ/ Trời
xanh quên nửa bài thơ đoạn trường" (Bạc tuổi); "Mái rạ trở mình/ Mưa-hơi-thô/ Hoa dứa gai/
Thơm-lại mùi biên ải/ Đêm trằn trọc/ Xé đôi giấc ngủ/ Nửa giấc tù ngồi/ Nửa giấc
trăng" (Trằn trọc); "Trở giấc
xem đêm/ Cuối trời trăng-mỏi/ Trái gấc chín-ngập ngừng/ Tóc rụng trạt lối đi..."
(Xem
đêm) v.v ...
Cái tính A.Q. đã giúp Phùng Cung xoa
dịu mọi nỗi đau đời, để trở về trạng thái cân bằng - một cân bằng động. Dẫu vậy,
đấy là con đường tất yếu để người ta qua những trải nghiệm mà đến với Thiền.
Phùng Cung lắng đọng và chắt lòng mình ra những bài kệ : "Trăng tà/ Trĩu ánh/ Sương rơi/ Đong-trăng lá
lạnh/ Đầy vơi bao lần" (Đong trăng); "Cổng hè đổ vụn-nắng son/ Con trâu gốc phượng/
Nhai-mòn-gần xa" (Trưa hè); "Lênh đênh muôn dặm nước non/ Dạt vào ao cạn/ Vẫn còn lênh đênh"
(Bèo);
"Ai chuốc rượu/ Cánh buồm say lảo đảo/
Quanh quẩn quãng sông chiều/ Quên nẻo ra khơi " (Say); "Lạnh nhịp sương rơi/ Chiều-gạo-đổ/ Dế đào
chân mộ/ Trăng lên..." (Nghĩa trang); "Em mải hái dâu/ Chiều-sông- nước/ Tằm đau lạc
bến/ Trong kén tơ/ Thấp thoáng bóng thuyền" (Bóng thuyền); "Sống
quá khó khăn/ Chết chẳng dễ dàng/ Tôi phải sống/ Hẳn tôi còn được chết/ Chết là
chơi nốt/ Một trò chơi/ Mãn khóa hỗn sinh" (Trò chơi); "Mặt chịn nắng/ Ngả màu chum vại/ Hỳ hụi lối
mòn-tử đạo/ Mồ hôi tháo/ Lưng cơm chan đẫm phong trần" (Phong
trần); "Ngón son/ Đu nhành
biếc/ Trái bồ hòn/ Con vành khuyên hót-ngọt/ Đắng-dư âm" (Chim
vành khuyên); "Dưới bóng đại
hùng/ Băng hà, núi lở/ Cái kiến con ong tất tả/ Cõi hỗn sinh/ Tội chết đói/ Hồn
không nhập mộ/ Nhà ơi! cây nhót bán rồi/ Hết chua, hết ngọt hết lời nhỏ to"
(Nhỏ
to) v.v...
Đại loại, còn
nhiều, nhiều lắm những bài thơ ngắn như thế, hao hao thể thơ Haiku của Nhật Bản,
lại mang phong vị thơ Thiền, và dáng dấp kệ kinh nhà Phật.
Đây là tập thơ
để đời của Phùng Cung. Cứ theo như Phùng Quán, thì cụ Nguyễn Hữu Đang từng đánh
giá thơ Phùng Cung còn hay hơn văn của ông. Tôi không mấy đọc văn Phùng Cung
nên không dám so sánh. Song hai trăm bài thơ trong tập, hẳn được Phùng Cung chắt
chiu, nghiền ngẫm đằng đẵng nhiều năm trời, cả khi ông bị bứt khỏi đời sống thường
và môi trường văn chương, lẫn lúc ông lăn lộn cực nhọc để kiếm sống sau này. Ấy
là những bài thơ nằm lòng, mỗi bài như một khúc ruột đau. Đau tái tê đến độ cảm
thấy như không. Đạo của người quân tử là vậy chăng? Đạo của Trà, đạo của Thi
văn, đạo của Người:
"
Quất mãi nước sôi
Trà đau nát bã
Không đổi giọng Tân Cương ."
III. Đọc lại Xem đêm, thẫm nỗi đau Phùng Cung.
Những ngày xuân tháng giêng Tân Sửu,
đúng thời điểm dịch Covid 19 bùng phát lại, cầm chân không du xuân lễ hội đâu
được. Ở nhà, viết và đọc sách giải khuây. Tôi đọc lại tập Xem đêm của Phùng Cung.
Số là, từ hơn
chục năm trước, tôi đã tình cở mua được tập thơ Xem đêm lần xuất bản đầu
và đọc thấy thích. Rất thích là đàng khác. Tôi đã viết tiểu luận “Có một nông thôn trong thơ Phùng Cung”.
Sau đó, tôi phát triển thành chân dung văn học “Phùng Cung, người tôi chỉ biết
qua thơ” (in trong tập Trời đất thu hay lòng ta thu, Nxb Dân trí 2016). Trong những lần đàm đạo
văn thơ cùng bạn bè, nhiều lần tôi khen tập thơ Xem đêm, khiến mọi người
tò mò mượn đọc, vì thế mà thất lạc. Tôi tiếc lắm. Trước tết Tân Sửu, tôi nhờ
người quen mua được tập Xem đêm, bản mới do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Sách
in đẹp và phần nội dung có thêm Phụ Lục với các bài viết của Phùng Quán, Nguyễn
Hữu Đang, Hoàng Cầm về thơ văn của ông, còn có cả truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trình, mà vì nó Phùng
Cung đã dính án văn chương ngày nào...
Đọc lại, vẫn
nguyên cảm giác thú vị, nhưng đằng sau câu chữ, vấn điệu, còn thấy được ý tứ
sâu xa về thân phận con người nói chung và thân phận với nỗi cay đắng riêng
ông.
Trong phần
này, tôi không nhắc lại những gì đã nói, đã bàn ở các phần trước, như việc khắc
họa một nông thôn Bắc bộ điển hình một thời xưa cũ khốn khó còn chưa xa; hay
đâu như sự ngộ ra, để rồi tự an ủi, răn mình mang tính thiền định, kinh kệ nhà
Phật,,,
Ở đây, tôi muốn
đi sâu tìm hiểu sự ám ảnh, hàm ý về một thân phận bị dập vùi mà vẫn gắng gỏi
ngoi lên, le lói sáng như muốn chứng ninh cho sự trong sạch của bản thân...; và
không thể không nói đến một điểm mạnh, ấy là nghệ thuật ngôn từ và tạo dựng
không gian thơ của Phùng Cung,
1. Có lẽ, trong tập thơ này, khó có bài
thơ nào hàm súc, ám ảnh, ấn tượng hơn bài Trà: “Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân Cương”. Nó
thể hiện nỗi niềm về thân phận, sự kiên định, ý chí, bản lĩnh và cả khao khát
khẳng định sự thanh sạch của bản thân tác giả.
Có thế thấy,
hàm ý về nỗi niềm thân phận bị vùi dập, ý chí, bản lĩnh muốn khẳng định sự
thanh sạch và khao khát vượt lên số phận ẩn giấu trong nhiều câu thơ, bài
thơ...
Ví như: “Thánh thần ơi/ Phải đâu nhật thực triền miên/ Ngày tối hơn đêm/
Đêm-vó-ngựa/ Quỳ gối chống tay/ Vẫn còn sợ ngã/ Mặt đất quá cheo leo” (Đêm
vó ngựa); “Thương cây đào ốm/
Xuân về chẳng nở hoa/ Lá gày run gió lạnh/ Cây cũng có thời vận ư?” (Cây
đào); “Trời đất uy nghi/ Xanh
vĩnh cửu/ Chim bay hình thánh giá muôn phương/ Cung tên tạo hình thánh giá/ Bắn
con chim hình thánh giá tử thương” (Vĩnh cửu); “Phận lấm/ Tối ngày đào khoáy/ Lưng nắng-vẽ/ Hoa văn tiền sử/ Chài chãi
đồng chiêm/ Mấy kiếp rồi” (Cua đồng); “Tổ tan/ Trứng mất/ Có trời biết vì sao/ Bỏ hót/ Chỉ kêu/ Mỏ run run rớm
máu” (Con chích chòe); “Dông
bão trẩy qua xóm nhỏ/ Giập gãy hết rồi/ Ngô độn chuối xanh/ Xì xằng qua bữa/ Kẻng
thúc ngũ liên/ Săn lùng đào ngũ/ Chẫu mắt mù/ Nhìn-đóng-cọc vào đêm” (Giập
gãy); “Trở giấc xem đêm/ Thiên hà
ngọc vụn/ Gió thổi một mình/ Mặt đất tròng trành/ Ma hoa nhảy múa” (Xem
đêm); “Hệ lụy với tôi/ Là ăn là uống/
Miếng ăn miếng uống/ Hành hạ suốt đời/ Mấy ai dám cả gan/ Đùa dai với đói khát”
(Miếng
sống); “Trái đất lênh đênh/ Chênh
chênh mùa nắng/ Gió trĩu cành/ Tải bốn mùa cười khóc/ Sóng biển xanh/ Nát bóng
hải âu” (Tâm tư);
Thậm chí, Phùng Cung còn cân nhắc. sắp
đặt số phận mình, và cho cả cái chết của mình, nếu ông không được sống: “Vạn thuở hồn cỏ xanh/ Mặt đất thơ gắn bó/ Bất
hạnh nào hơn/ Già rụi quê người” (Ăn năn); “Sống quá khó khăn/ Chết chẳng dễ dàng/ Tôi phải sống/ Hẳn rôi còn được
chết/ Chết là chơi nốt/ Một trò chơi/ Mãn khóa hỗn sinh” (Trò
chơi); “Mô hình tôi/ Một trẻ thơ/
Ngoạm củ ráy/ Đứng thẳng người trong xóm/ Quỹ đạo tôi/ Thư thái-loằng ngoằng/
Xó bếp-bở ao/... Khi tôi chết/ Tôi thèm cái lặng lẽ/ ... Nếu tái sinh/ Tôi chẳng
ước ao gì khác/ Chỉ mong được như kiếp trước/ Xó bếp đói. No/ Bờ ao tắm mát/ Phận
cánh cò/ Mưa-nắng-phong dao” (Thanh thản); “Nhập nhoạng đóm đèn/ Đêm chó mực/ Trạt mùi hạ nhục/ Già trẻ sụt sùi/ Ôm
đầu số phận/ Cúi mặt nhìn ngang/ Nghe lanh chân nhang” (Đoàn
viên)...
Dẫu là “phận lấm”, dẫu có “xó bếp, bờ ao” hay “lênh đênh”,
“ngày tối hơn đêm” di chăng nữa, thì
với Phùng Cung, vẫn quặn thắt một nỗi đau đời-một khao khát vươn lên trên số phận:
“Trăng qua song sắt/ Trăng thăm ngục/ Bỗng
ta chợt tỉnh-sững sờ/ Trên vai áo tù/ Trăng và lụa/ Ngày xưa ơi!/ Xa mãi đến
bao giờ...” (Trăng ngục); “Ai giùm tôi
thủ tục làm vô tận/ Thỏa thích trải trời xanh cõi không cùng/ Tôi khao khát huy
động/ Những chùm sao đẹp/ Đêm về lung linh chòm xóm nghèo sao” (Khát
vọng): “Hỡi bầu trời/ Hãy rộng
thêm nhiều nữa/ Để phi đoàn cất cánh/ Xếp đội hình thánh giá uy nghi/ Rộn rã
chuông chiều/ Cất giọt mưa sa/ .../ Giải phóng những nếp nhăn/ Trên từng vầng
trán hoài nghi” (Giải phóng); “Đêm khuya trằn trọc/ Tôi bắt gặp/ Mùa thiêng hoa chết/ Ngoại giới mưa
bay/ Trong hồn tơi tả/ Trăng úa-đầy trời-lá rụng/ Không gian khát vọng khúc giải
oan” (Khát vong)...
Chịu khó tìm
nhặt, trong Xem đêm, vẫn đây đó những
câu thơ hàm ý dạng này, nhưng tôi không sa đà, để khám phá nghệ thuật thi ca
tài tình của Phùng Cung...
2. Nghệ thuật thi ca của Phùng Cung,
trong Xem đêm thật tài tình.
Có thể nhận định
một cách ngắn gọn nhất, ấy là sự chắt lọc
câu chữ, ý tứ hàm súc, ám ảnh, ấn tượng, không gian sống động, đầy thanh âm,
hình ảnh, sắc màu, hương vị và trạng
thái cảm xúc...
Chắc chắn,
ngày ấy, Phùng Cung và cả chúng ta, không một ai biết đến khái niệm 3D, song
tài tình thay, mỗi bài thơ trong tập thơ này đều như một cuốn phim ngắn 3D. Tôi
chọn một số bài thơ để minh chứng cho điều này: “Mặt trời hạ-thổ/ Núi-giội-chàm/ Đò chuyến cuối/ Nhìn nhau nhọ mặt/Sữa
con so ướt yếm/ Thơm-mùi-khoai-luộc/ Dốc bến tối gà/ Đom đóm rối guồng-tơ-lửa/
Nghe đêm trung giang thả-gió-gọi diều” (Chiều soi bãi); “Sương chiểu nghe-lạnh bước chân/ Khách áo
cũ/ Tìm về bạn cũ/ Ai đốt rác lá tre bên ngõ/ Lối đi dầy mùi khói-cuối-năm”
(Khói
cuối năm); “Chó sủa dông dài/ Gió
chuyển canh/ Trái thị cuối thu/ Thơm mùi trăng-úa/ Ao khuya nước thở thì thầm”
(Đêm
cuối thu); “Thoảng mùi ruộng ải/
Thóc giống cựa mình/ Nắng vắt ngọn-tre-đuôi-én/ Đủng đỉnh điệu cu cườm/ Lạc nhịp-gió
may” (Mùa gieo mạ); “Gió quẩn
lùm ngải cứu/ Mùi ngộ cảm đầy vườn/ Chếch bóng chĩnh tương/ Con vằn say bả/ Hoa
chuối tiêu lầm lũi/ tím Tam-giang” (Nôn nao); “Chó sủa làng xa/ Sủa gơn xóc ốc/ Sao diều ai hóc-gió/ ven sông” (Đêm
ven sông); “Mảng rêu chiều nắng
ghé/ mênh mông/ Con dế loanh quanh/ Tìm lại tiếng mình đêm trước/ Vườn hàng xóm
ngổn ngang/ mùi khế rụng” (Chiều nắng ghé); “Oèng oẹc trời khuya/ Chim lợn xổ giọng hãi hùng/ Tôi
nhìn sông/ Đầy ắp sao xanh/ Ngoằn ngoèo phun tím/ Lửa-hoa-đăng/ Rần rật tím-luân-hồi”
(Sông
đếm); “Mành rách gió lay/ Chim
chích đu mình săn nhện/ Góc sân nắng hanh/ Lá mít rụng trở mình-nghé bếp/ Chó
hàng xóm/ Sủa cầm chừng vài tiếng/ Lỗi bước lên hè/ Guốc nằm chiếc ngửa chiếc
nghiêng” (Nhà vắng); vv ... vv...
Nhiều lắm, khó mà trích dẫn ra hết được.
Bài thơ nào cũng kiệm lời, gạn đến mức cảm giác không có từ nào thừa cả. mỗi từ
đều phải gánh một phần ý tứ. Về tư duy, hình thức thơ, có thể thấy, ở đây có sự
kết hợp nhuần nhuyễn tính hàm súc, tinh tế, ý tại ngôn ngoại của Đường thi,
phong vị thiền và sự chắt lọc của thơ Haiku Nhật Bản, lại gần gũi thân thuộc của
tục ngữ, ca dao Việt
Phần lớn, các bài thơ trong tập này của
Phùng Cung là thơ tự do, câu ngắn, ngắt dòng liên tục. và nhiều câu được ngắt nối
bằng dấu ngang (-), giàu nhạc điệu. Có bài là lục bát, hoặc thơ dạng bốn câu,
nhưng được ngắt dòng, nên mới mẻ và ấn tượng. Ở vào thời ký ấy, có thể thấy,
Phùng Cung đã rất ý thức trong việc cách tân thơ.
Ví như: “Trăng lên/ hàm tiếu/ thẫn thờ/ Nửa chừng trăng xế/ Chịu giờ mãn khai”
(Hoa
quỳnh); “Này em!/ Cây khế gãy rồi/
Nỗi chua vẫn hỏi thăm/ Người trồng cây” (Cây khế); “Chút lòng dây gấm khăn điều/ Cảm thương cái
nhện/ Chiều chiều giăng tơ/ Không gian đứt nối sững sờ/ Khăn điều dây gấm/ Ngẩn
ngơ mấy chiều” (Giăng tơ); “Dáng gày-đầy
đặn-trữ tình/ Thuyền ai đậu bến Lan Đình/ Trăng xa/ Tử sinh lỡ một lần ba/ Ruột
tằm đau/ Mối tơ thừa gió bay” (Trăng xa); “Lênh đênh muôn dặm/ nước non/ Dạt vào ao cạn/ Vẫn còn lênh đênh” (Bèo);
“Sen vàng từ thuở lên ngôi/ Bâng khuâng
du khách/ Ngậm ngùi vần thơ/ Cồng chùa nhện mải giăng tơ/ Chuông thiêng ngân
mãi/ Tiếng thừa trong không” (Chùa Kim Liên); “Lá súng lát mặt ao/ đếm ngọc/ Con sộp phàm vồ
bão/ bóng hoa lay/ Lá tre rụng/ Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch/ Tiếng cuốc bèo da diết/
gọi ngày mai” (Ao con); “Bờ ao trưa gió
lay lá cỏ/ Vang khẽ lời ru nhỏ xanh xanh***/ Cách cách giòn tan/ Con cào cào dội phách/ Khoe cánh điều/ Bay ngập nắng-bổ-cau”
(Nắng
bổ cau); “Cành xoan cu gáy đứng/
chào mùa/ Ung dung đổ lèo ba/ dõng dạc/ Mùi cơm mới/ Xoắn mùi cá kho nhạt/ Hoa
cải thơm quấn quýt/ quanh làng. Một lũy thơm” (Lũy thơm),...
Đổi mới hình thức thơ trên nền tảng
các thể thơ cũ bằng cách ngắt nhịp song vẫn giữ mạch thơ khiến người ta xem bằng
mắt hay đọc bằng âm đều không thấy nhàm và vẫn dễ nhớ dễ thuộc.
Tuy còn chưa đi sâu phân tích nghệ
thuật ngôn ngữ thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tôi nghĩ, Phùng Cung đã có những
đóng góp nhất định trong tiến trình đổi mới thi ca Việt
NGUYỄN TRỰC
có phải là lưỡng
quốc trạng nguyên?
Lần lữa mãi, sau đận thăm chùa làng Bối Khê (Đại Bi tự) hồi giêng hai năm Canh Tuất,
nơi đây là quê gốc và chùa có ban thờ trạng nguyên Nguyễn Trực, tôi cũng lần
giở sử sách để tìm xem sự nghiệp văn chương của vị Trạng nguyên này, nhất là
chuyện có đúng ông là Lưỡng quốc trạng nguyên hay không?
Như chúng ta biết, ở Văn Miếu Thăm Long (Văn Miếu-Quốc Tử
giám Hà Nội), có 82 bia Tiến sĩ (tính từ năm 1442 đến 1779), thì bia đầu tiên
được dựng năm 1484 dưới triều vua Lê Thánh Tông, ghi về khoa thi đầu tiên thời
Lê sơ, ấy là khoa thi Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ 3 dưới triều vua Lê Thái Tông
(1442). Tại khoa thi này, Nguyễn Trực (quê Bối Khê, Thanh Oai) đỗ Trạng Nguyên, khi ông 26 tuổi. Như vậy, có
thể nói, Nguyễn Trực là người đứng đầu “bảng vàng bia đá” trong lịch sử
khoa bảng Việt Nam, còn dấu tích đến ngày nay. Một vinh hạnh không nhỏ chút
nào. Hơn thế, Nguyễn Trực còn được người đời vĩnh danh là Lưỡng quốc trạng
nguyên. Vậy hư thực ra sao? Hy vọng bài viết này kiến giải một góc nhìn từ
tư liệu lịch sử khoa bảng Việt Nam.
Bắt đầu bằng cuốn Từ điển các nhân vật lịch sử Việt
Tra một cuốn khác, sách Các nhà khoa bảng Việt
Cả hai sách này, thì một cuốn nhắc đến
chuyện Nguyễn Trực đi sứ nhà Minh và có họa thơ với nhau, song tuyệt nhiên
không thấy nhắc tới việc ông gặp khoa thi bên Trung Hoa và xin thi rồi đậu
trạng nguyên, để rồi nhân gian tôn vinh là Lưỡng
quốc trạng nguyên. Về tên sách của ông viết ra thì chép khác nhau. Xin bàn
thêm việc này ở phần sau.
Nhưng hai cuốn đó là sách biên soạn
thời nay, nên có thể các tác giả đã lược bớt đi cho ngắn gọn để phù hợp với
tiêu chí cuốn sách. Vậy sách cổ có thể ghi chép chi tiết hơn chăng ?
Sách Kiến văn tiểu lục (KVTL) của
Lê Quý Đôn (bản in năm 2007 của Viện Sử
học , NXB Văn hóa thông tin) , trong phần Chế độ khoa cử, có thấy nhắc đến khoa thi Nhâm Tuất, Đại Bảo thứ 3,
1442 một cách sơ lược, song bù lại có phần bao quát hơn "... Sĩ tử ứng thí 450 tên, lấy 33 người
trúng tuyển, qua tháng sau vào thi Đình, nhà vua ngự lấy đỗ Trạng nguyên, Bảng
nhãn, Thám hoa và 7 tiến sĩ, 23 phụ bảng, ân ban cho ăn yến, mũ áo, cân đai và
cho vinh qui về làng.Việc này bèn định thành thể lệ ...". Có một thông
tin hay, ấy là kể từ khoa thi ấy mới định ra thể lệ thi cử như ta biết về khoa
cử phong kiến Việt
Vậy có chuyện Nguyễn Trực thi đậu
trạng nguyên trên đất Trung Hoa không? Bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC) của Phan Huy Chú (bản in năm 2007 của Viện Sử học-NXB Giáo
Dục) ở phần Nhân vật chí, quyển VII- người phò tá công lao tài đức, có
phần viết khá kỹ lưỡng về Nguyễn Trực, từ thân thế đến sự nghiệp công lao của
ông. Sách viết: " ... Cha ông là Thì
Trung giỏi về địa lý, thấy ở làng Nghĩa Bang huyện An Sơn có ngôi đất quý, nhân
lấy con gái họ Đỗ người làng ấy và làm nhà ở đấy, mới sinh ra ông ở am núi Phật
Tích. Lúc bé ông thông minh, rộng xem các sách. Năm 12 tuổi giỏi làm văn; 18
tuổi đỗ đầu thi Hương ở Sơn Tây; 26 tuổi đỗ Đệ nhất tiến sĩ tên, đứng đầu về
khoa thi năm Nhâm Tuất (1442), niên hiệu Đại Bảo đời Lê Thái Tông, tức trạng
nguyên mở đầu của nhà Lê... Ông vâng mệnh đi sứ Trung Quốc, gặp khoa thi, ông
là bồi thần cũng xin thi, nhà Minh lại cho đỗ trạng, nên đời bấy giờ gọi là
trạng nguyên hai nước. Năm Diên Ninh thứ 2 (1445), gặp khi nhà có tang ông xin
về làng. Bấy giờ học trò các nơi theo học kể hàng nghìn người. Sau khi hết
trở (tức hết để tang – TG), gặp sứ Minh sang, vua sai ông giữ việc tờ bồi qua lại và làm bài biểu mừng vua
Minh lên ngôi, được người Minh khen ngợi. Khi vua Lê Nhân Tông bị giết, ông làm
văn tế, lời lẽ rất thống thiết "...
Như vậy, theo sách Các nhà khoa bảng Việt nam (CNKBVN),
thì trong cuộc đời làm quan của mình, Nguyễn Trực có hai lần đi sứ nhà Minh là
vào các năm Thái Hòa thứ 1 và Diên Ninh thứ 6 . Còn sách LTHCLC thì nói chuyện Nguyễn Trực thi
đỗ trạng nguyên ở Trung Hoa dưới triều Minh song lại không nói cụ thể năm nào.
Nếu căn cứ vào đoạn chép vừa trích từ LTHCLC và thử đồ rằng Nguyễn Trực đi sứ
và dự thi là vào năm Thái Hoà 1 (1443), chỉ một năm sau khi ông đỗ trạng nguyên
Việt. Vậy liệu có xảy ra điều đó không?
Tra cứu bộ ĐVSKTTcủa Ngô Sĩ Liên (sử biên niên) thấy rằng, năm 1442 (niên hiệu Đại Bảo thứ 3 triều Lê Thái Tông
- tương đương với Minh, Chính Thống thứ 7) là một năm thật đặc biệt với rất
nhiều sự kiện trọng đại liên quan đến lịch sử nước Việt. Lựa chọn, liệt kê một
số sự kiện trong năm này dể thấy được sự kinh
thiên động địa của nó :
- Nhâm Tuất, năm thứ 3 (1442). Mùa
xuân, tháng giêng, làm cung điện mới.
- Tháng 3, thi hội các nhân sĩ trong
nước, cho bọn Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc ba người đỗ tiến sĩ cập
đệ, bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ
đồng tiến sĩ xuất thân. Lại sai dựng bia làm văn đề tên. Tiến sĩ được dựng bia
ghi tên bắt đầu từ đây. (như vậy là sử
gia nổi tiếng Ngô Sĩ Liên, tác giả của bộ sử trứ danh Việt Nam - ĐVSKTT , đỗ tiến sĩ tại chính khoa thi
này).
- Mùa thu, tháng 7, ngày 20, Hoàng tử
Tư Thành sinh (sau này là Lê Thánh Tông,
vị vua nổi tiếng hiền tài trong lịch sử Việt
- Ngày 27 (tháng 7) vua đi tuần về
miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua ngự chùa Côn Sơn, ở
hương của Nguyễn Trãi.
- Tháng 8, ngày mồng 4, vua về đến
vườn Lệ Chi huyện Gia Định (nay là huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), bỗng bị bệnh ác rồi băng... Mọi người đều nói là
Nguyễn thị Lộ (vợ lẽ của Nguyễn Trãi)
giết vua.
- Ngày 12 (tháng 8)... tôn Hoàng thái
tử Bang Cơ lên ngôi (tức vua Lê Nhân
Tông). Bấy giờ mới 2 tuổi. Lấy sang năm làm Thái Hòa năm thứ1 (tức năm 1443).
- Ngày 16 (tháng 8), giết Hành khiển
Nguyễn Trãi và vợ lẽ là Nguyễn thị Lộ, giết đến ba đời (vì bị gán cho tội âm mưu giết vua).
- Mùa đông, tháng 10, sai sứ sang nước
Minh. Đồng tri Hải Tây đạo Nguyễn Thúc Huệ và Thiêm tri thẩm hình viện Đỗ Thì
Việp sang tạ ơn cho mũ áo; Thị ngự sử Triệu Thái sang tâu việc địa phương Khâm
Châu; bọn Tham tri Nguyễn Đình Lịch và Phạm Du sang báo tang; Tham tri Lê
Truyền, Đô ngự sử Nguyễn Văn Kiệt, Ngự tiền học sinh cục trưởng Nguyễn Hữu Phu
sang cầu phong.
Sau một năm đầy biến cố như thế, khi
Lê Nhân Tông lên ngôi đã đổi niên hiệu là Thái Hòa, năm thứ 1 (1443), và trong
năm này, ĐVSKTT chép việc bang giao
Việt- Trung như sau :
- Tháng 11, nước Minh sai chánh sứ là
Hành nhân ty hành nhân Trình Cảnh sang tế (hẳn
là tế vua Lê Thái Tông).
- Ngày 25 (tháng
11), nước Minh sai chánh sứ là Quang Lộ tự thiếu khanh, Tống Kiệt, phó sứ là
Binh khoa đô cấp sự trung Tiết Khiêm sang phong vua (Lê Nhân Tông) làm An Nam quốc vương.
- Ngày 26 (tháng 11), sai Tham tri bạ
tịch là Trình Dục, Nội mật viện chánh chưởng là Trình Thanh, Hàn lâm viện trực
học sĩ là Nguyễn Khắc Hiếu sang nước Minh tạ ơn việc sách phong.
Như vậy, trong năm này (tức Thái Hòa 1, 1443) chỉ có một đoàn
sứ sang nước Minh, song không thấy có tên Nguyễn Trực. Vả lại, nếu có tham gia
vào đoàn sứ bộ thì ông cũng chỉ là một thành viên trong đoàn không được nêu tên
mà thôi, đơn giản bởi ông vừa mới đỗ đạt, cùng lắm là mới được bổ nhiệm,con đường
quan lại chưa có gì.
Lại xem năm Diên Ninh 6 , là năm mà các tác giả cuốn CNKBVN cho là Nguyễn Trực có đi sứ Minh. Sách ĐVSKTT chép rất tóm tắt quãng thời gian 2 năm tính từ Mậu Dần,
Diên Ninh thứ 5 (1458) đến tháng 9 Diên Ninh thứ 6 với mỗi sự kiện thi hội lấy
bọn Nguyễn Văn Nễ đỗ tiến sĩ xuất thân. Sự việc chi tiết hơn với sự kiện: mùa
đông, tháng 10, ngày mồng 3 (Kỷ Mão, Diên
Ninh năm thứ 6, 1459), khi Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân làm cuộc chính biến
cung đình, giết chết vua (Lê Nhân Tông)
và cả Tuyên từ hoàng thái hậu. Đến ngày mồng 7, Lê Nghi Dân tự lên ngôi vua,
đổi niên hiệu là Thiên Hưng tính từ ngày mồng 7 tháng 10 năm Kỷ Mão, 1459).
Trong thời gian ở ngôi vua 8 tháng, Lê Nghi Dân chỉ có 2 sự kiện hoạt động bang
giao với nhà Minh, được sách ĐVSKTT
chép như sau:
- Tháng ấy (tháng 10, năm 1459) Nghi Dân sai Lê Cảnh Huy , Nguyễn Như Đổ,
Hoành Thanh, Nguyễn Nghiêu Tư sang nước Minh nộp cống hằng năm và xin bỏ việc
mò ngọc trai.
- Ngày 20 (tháng 10, năm 1459) lại sai bọn Trần Phong , Lương Như Hộc, Trần
Bá Linh sang nước Minh xin phong.
Đến ngày mồng 6 tháng 6 năm Canh Thìn (tức Thiên Hưng thứ 2, 1460), Lê Nghi
Dân bị nhóm đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt lật đổ, bắt tự thắt cổ chết, rồi lập
Gia vương Lê Tư Thành làm vua (tức Lê
Thánh Tông), niên hiệu được đổi ngay sau đó là Quang Thuận khi Lê Thánh
Tông lên ngôi. Như vậy, đầu năm Diên Ninh thứ 6 khi Lê Nhân Tông còn chấp chính
thì không thấy chép gì về hoạt động bang giao với nhà Minh, đến khi Lê Nghi Dân
cướp ngôi, có cử 2 đoàn đi sứ nhà Minh thì đều không thấy tên Nguyễn Trực. Cứ
cho rằng về sau các nhà biên soạn nhầm cách gọi niên hiệu Thiên Hưng thứ 1 với năm Diên
Ninh thứ 6 (vì cùng là năm 1459 theo công lịch) nên ghi là Nguyễn Trực đi
sứ vào năm Diên Ninh thứ 6 thì cũng
không có gì liên quan đến việc ông đỗ đạt ở bên đó. Giả thiết, ông có tham gia
vào đoàn đi sứ Minh năm ấy, thì cái chuyện ông dự thi và đậu trạng nguyên với
triều Minh là một sự kiện chấn động, chi ít cũng phải được ghi chép trong ĐVSKTT chứ? Quả thật, không thể tin
nổi, nếu có một sự kiện vẻ vang về uy tín cá nhân mà còn nâng tầm ảnh hưởng tới
danh dự quốc thể nhường ấy, lại bị sử thần Ngô Sĩ Liên, vốn là người thi đỗ
cùng khoa và làm quan cùng thời với Nguyễn Trực lại bỏ qua, không nói đến chút
nào trong bộ ĐVSKTT của mình?
Liệu có việc ông dự khoa thi với triều
Minh và lại đậu trạng nguyên không, khi mà
ĐVSKTT không hề đả động gì?
Gần đây, tham khảo bài viết Nguyễn
Trực, tấm gương về trí học-nhân học của tác giả Phan Tuấn đăng trên Tạp
chí Xưa Nay số 287, tháng 7 năm
2007, có đoạn viết: "Năm 1444 ông (Nguyễn
Trực) cùng bảng nhãn Trịnh Thiết Tường, bạn cùng khoa thi đi kinh sứ Trung
Hoa, gặp khoa thi được mời dự thi, nhật kỳ thú: Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên,
Trịnh Thiết Tường lại đỗ Bảng nhãn. Vì thế lịch sử có ghi hai ông là Lưỡng quốc
trạng nguyên, Lưỡng quốc bảng nhãn. Nguyễn Trực về nước được vua ban 8 chữ:
"Thánh công danh văn. Bắc triều hiền
ngã".
Tra cứu sách ĐVSKTT xem năm 1444 ghi chép gì? Ấy là năm Giáp Tý, Thái Hòa năm
thứ 2 (tương đương Minh, Chính thống thứ
9), thấy có chép việc khảo thí học trò bổ làm thuộc lại các ty; việc gộp
làm sổ đinh; việc sai Lê Khôi, Lê Khả đem 10 vạn quân đi đánh Chiêm Thành; việc
bắt giam Thái phó Lê Liệt; việc có động đất, nhật thực, nguyệt thực; và cuối
năm ấy có việc đi sứ nhà Minh. Sách chép là: "Tháng 11, sai sứ sang nước
Minh: Tả thị lang là Đào Công Soạn và ngự tiền chấn lôi quân chỉ huy là Lê Quát
sang cống nộp hằng năm. Tham tri Đông đạo là Nguyễn Lan sang tâu việc địa giới
Khâm Châu". Như vậy không hề thấy tên Nguyễn Trực và Trịnh Thiết Tường.
Không hiểu tác giả bài viết trên lấy tư liệu từ đâu để khẳng định sự kiện đó?
Lại càng khó tin hơn, khi tác giả này có lẽ đã nhầm với Trịnh Khiết Trường. Không có Trịnh Khiết Tường nào cùng khoa thi
với Nguyễn Trực, mà chỉ có bảng nhãn Trịnh Khiết Trường. Theo sách Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa
qua các triều đại phong kiến Việt Nam của tác giả Trần Hồng Đức biên soạn (Hội khoa học lịch sử Việt Nam-NXB Thông tin
năm 1999) thì Trịnh Khiết Trường (sau
này còn được tuyển làm phò mã) quê Thanh Hóa đỗ Bảng nhãn khoa thi Mậu
Thìn, Thái Hòa năm thứ 6 (1448) triều Lê Nhân Tông cùng khoa này, Nguyễn Nghiêu Tư
đỗ Trạng nguyên, Chu Thiêm Uy đỗ Thám hoa), tức là thi đỗ 6 năm sau Nguyễn
Trực. Việc này sách ĐVSKTT cũng nói
đến. Đối chiếu thêm với chính cuốn sách này của soạn giả Trần Hồng Đức, phần về
trạng nguyên Nguyễn Trực, có nói ông từng đi sứ nhà Minh, song không hề nhắc gì
việc ông là Lưỡng quốc trạng nguyên cả.
Cũng có một căn cứ nữa để tham khảo sự
kiện này, đó là sách Hồng Đức quốc âm
thi tập (HĐQATT) của Lê Thánh Tông (NXB
Văn học, 1982). Sách này có bài thơ Điếu
Nghĩa Bang trạng nguyên (Viếng trạng
nguyên làng Nghĩa Bang). Nghĩa Bang trạng nguyên ở đây là chỉ Nguyễn Trực,
bởi ông tuy quê ở Bối Khê, Thanh Oai (Hà Tây), song từ đời cha ông là Nguyễn
Thì Trung, chạy giặc Minh, đã rời sang sinh sống tại Nghĩa Bang, trấn Sơn Tây,
nay thuộc Quốc Oai (Hà Tây) và sinh ra ông ở đó. Bài thơ được phiên âm là :
"Đời dõi nho tông phát
ấp bang
Trong đạo đức, có từ chương
Nối dòng thi lễ nhà truyền báu
Tranh
giải khôi nguyên bảng chói vàng
Phong lưu một cửa họ sang
Từ đường ở đấy niềm tây lạnh
Dấu cũ càng thơm xạ có hương"
Hai câu thơ Tranh giải khôi nguyên bảng chói vàng/ Nam Bắc hai triều danh dậy,
được các tác giả biên soạn sách là Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên chú giải như
sau: "Nguyễn Trực ở trong nước đỗ
trạng nguyên, khi phụng mệnh đi sứ Trung Quốc, gặp nhà Minh mở khoa thi, ông
xin vào dự thi, lại được đỗ ca". Như vậy, cũng chỉ là những lời phán
chung chung thế thôi, chứ các soạn giả cũng không chỉ rõ được là khoa thi năm
nào, đỗ cao thì cụ thể là gì (bởi từ tiến
sĩ trở lên đều coi là đỗ cao). Nếu cứ cho là trong một lần đi sứ nào đó,
nhân gặp khoa thi ông có ứng thí tại một khoa thi dưới triều Minh, rồi đỗ đạt
thật, thì cũng khó có thể là trạng nguyên, bởi Trung Hoa từ xa xưa luôn tự xưng
là Thiên triều, coi các quốc gia lân
bang, trong đó có An Nam chỉ là chư hầu (bằng
chứng là việc các vua Việt Nam thường bị các vua Trung Hoa phong cho là An Nam
quốc vương và ta luôn phải giữ lệ cống nộp hằng năm), là man di mọi rợ, và
với bản tính tự cao tự đại cố hữu, thì vua Minh cũng chẳng thể chấp nhận việc
cho sứ thần chư hầu đỗ trạng nguyên (mặc
dù họ có thật sự xuất sắc, đáng đỗ trạng nguyên đi chăng nữa).
Thêm nữa, ngay trong phần Lời nói đầu, các tác giả biên soạn HĐQATT cho biết, sách này là một tập
thơ chỉ được sưu tầm về sau, chứ không phải được biên soạn từ thời Hồng Đức, vì
thế ở trong sách có sự lẫn lộn một số bài thơ của người đời sau, chẳng hạn như
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trịnh Căn. Điều này làm cho độ tin cậy của sách này ít
nhiều giảm đi, nhất là khi đem căn cứ từ thơ vịnh để suy ra sự thật lịch sử.
Nguyên việc Nguyễn Trực có phải là Lưỡng quốc trạng nguyên không, thì theo
sử cũ, duy có bộ LTHCLC của Phan Huy
Chú là có nói đến, song lại không ghi rõ năm nào, khoa thi nào của triều Minh.
Quả là khó biết, khi biên soạn sách, phần về Nguyễn Trực, tác giả Phan Huy Chú
đã lấy nguồn từ đâu để viết vào sách của mình việc Nguyễn Trực là Lưỡng quốc trạng nguyên? Cứ căn cứ ngay
chính phần Phan Huy Chú biên soạn thì cũng có thể thấy, về sự kiện đó, tác giả
cũng không tường nên chỉ nói chung chung vậy, chứ không dẫn dụ được năm tháng,
khoa thi xảy ra sự việc đó. Thế nên, khi Ngô Sĩ Liên là người cùng thời đó còn
không viết gì trong bộ ĐVSKTT của
mình, thì ai dám chắc, hơn 300 năm sau, Phan Huy Chú chính xác trong việc ghi
lại sự kiện tày trời đó. Phải chăng,
khi ấy Phan Huy Chú cũng chỉ ghi từ giai thoại dân gian mà thôi.
Có một điểm khá thống nhất, các sách
đều viết rằng Nguyễn Trực là một người sống thanh khiết, không xu thời, lánh xa
vinh hoa phú quý. Hẳn vì thế, nên mặc dù đỗ trạng nguyên, song quan lộ cũng
không mấy hanh thông, lại càng kém hơn so với hai vị cùng khoa là Nguyễn Như Đổ
và Lương Như Hộc. Tìm trong sách ĐVSKTT, người ta có thể thấy được sự
thăng tiến vinh hiển vượt bậc của hai vị kia, thì riêng ông, chỉ được nhắc đến
có 3 lần. Ấy là, vào năm Kỷ Tỵ, Thái Hòa thứ 7, 1449, ông được làm Hàn lâm viện thị giảng; vào năm Canh
Thìn, Quang Thuận thứ 1, 1460, vua Lê Thánh Tông sai ông cùng với Nguyễn Bá Kỳ
soạn văn bia Mục lăng (tức lăng vua Lê
Nhân Tông); và vào năm Kỷ Sửu, l469 , vua lấy ông khi đó là Hàn lâm viện thừa chỉ, cùng với Vũ Vĩnh
Ninh, Nguyễn Đức Trinh, Quách Đình Bảo làm Độc quyển kỳ thi hội năm ấy.
Thật tiếc, tác giả bài viết này chưa
có điều kiện để tra cứu thêm Minh sử (hoặc
những sách và tài liệu khác) nhằm xem các sử gia Trung Hoa có biết gì và
viết ra sao về sự kiện này không?
Thiết nghĩ, trong khi việc xác nhận
Nguyễn Trực là Lưỡng quốc trạng nguyên
chưa đầy đủ cơ sở, mà việc bác bỏ cũng chưa mấy thuyết phục, thì chúng ta cứ
xem Nguyễn Trực từng là Lưỡng quốc trạng nguyên đi. Âu như một giai thoại dân
gian, như chuyện kể về Lưỡng quốc trạng nguyên Tống Chân (chuyện dân gian Tống Chân - Cúc Hoa), hoặc giả như rất nhiều những
câu chuyện trạng dân gian khác, và xem đó như một câu chuyện khuyến học, khuyến
tài cho hậu thế. Vậy cũng là hữu ích. Còn như nghiên cứu, viết sách thì lại là
việc làm khoa học, cần nghiêm túc, cẩn trọng và chính xác, nên mong rằng các
học giả hãy thận trọng với sự kiện này khi viết về Trạng nguyên Nguyễn Trực.
Đã là người thiên cổ, được sử sách ghi
danh, lại xa cách chúng ta những gần 600
trăm năm rồi, hẳn là Nguyễn Trực cũng không vui khi hậu thế tôn là Lưỡng quốc trạng nguyên, mà cũng chẳng
buồn khi không phải vậy !
Về với thiên nhiên, ông như cây cỏ,
mưa xuân thì mọc !...
Thơ văn còn lại
những gì ?
Về Trạng nguyên Nguyễn Trực, tôi còn muốn tìm xem những bài
thơ của ông lưu truyền hậu thế. Hy vọng qua đó, phần nào hiểu thêm con người
ông, từ tính cách thanh cao đến tâm trạng xa lánh vinh hoa và muốn lui về ở ẩn
của ông.
Thật may. Sách Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC) của Phan Huy Chú, phần Văn
tịch chí có nhắc đến 3 tập thi văn của Nguyễn Trực, đó là Vu
liêu tập, Ngu nhàn tập, Kinh nghĩa chư văn tân tập, song đều ghi chú là không rõ mấy quyển. Sách này còn
chép: "Trạng nguyên Nguyễn Trực
soạn, học trò biên sắp. Cả tập mất nhiều, nay còn vài chục bài. Lời và ý thanh
nhã đáng ưa". Sách liệt kê 4 bài, nay xin chép cả ra đây để tiện cho
việc tham khảo, bình luận :
Bài 1: Ngẫu tác
Bệnh
thừa ân chiếu hứa lưu kinh
Quy kế như kim nhất vị thành
Hà nhật Tây Sơn sơn hà lộ
Soa y tiểu lạp khán xuân xanh .
(Dịch)
Có
bệnh, nhờ ơn vua lưu lại ở Kinh,
Tính đường về mãi mà đến nay vẫn chưa được,
Biết ngày nào được đi con đường ở dưới chân
núi Tây Sơn,
Đội nón nhỏ, mặc áo tơi, đi xem cày ruộng mùa
xuân.
Bài 2 : Bính Tuất ngâm
Đại đình tằng đối tam thiên tự,
Phù thế hư kinh ngũ thập niên,
Bất thị vô tâm lai cấm tỉnh
Chí nhân đa bệnh ức điền viên.
(Dịch)
Ở sân vua từng làm
bài đối sách ba ngàn chữ,
Giật mình về việc đã năm mươi năm trời đuổi
theo
cái hư danh của thời thế,
Chỉ vì lắm bệnh, nhớ cảnh điền viên.
Bài 3:
Đề chùa Cực Lạc (thuộc Ý
Đột ngột vân gian tự,
Nhân sinh kỷ độ qua?
U nham tàng Phật tích,
Tiếu bích ỷ tăng gia.
Địa viễn phi trần thiểu,
Sơn cao đức nguyệt đa,
Thượng nhân lưu khách túc
Ổi vụ hựu phanh trà.
(Dịch):
Chùa cao chót vót ở trên mây
Bởi người dễ mấy lần
được đến
Hang sâu dấu vết Phật
Vách núi dựa nhà tăng,
Xa đất nên ít bụi,
Trên cao được trăng
nhiều.
Nhà sư lưu khách lại,
Nướng khoai lại pha
trà.
Bài 4 :
Lên chùa Hương Lô
Tằng tằng đăng nghiễn lộ,
Thừa hứng yết kim tiên,
Diệu khế tam sinh mộng,
Do tồn nhất lũ yên.
Lâu đài phi thế hữu,
Thảo mộc đắc xuân
thiên.
Du mục phù vân ngoại,
Mang mang thị Đại
thiên.
(Dịch):
Tằng tằng đường leo
núi,
Thừa hứng lên yết
Phật,
Khéo hợp mộng ba sinh,
Vẫn còn một tia khói.
Lâu đài này không phải
người trần có được,
Cỏ cây lúc nào cũng
mùa xuân.
Đưa mắt ngoài mây nổi,
Mông mông ấy thế giới Tam thiên.
Có lẽ trong số 6 bài
thơ còn lại được chép trong bộ Toàn Việt
thi lục (TVTL) có 4 bài này. Nhìn chung, đều mang tâm trạng muốn rời xa
chốn quan trường lui về ở ẩn chốn sơn lâm, chữa bệnh, tu dưỡng tinh thần, nuôi
dạy con cái, gõ đầu trẻ, và chăm lo việc thiện.... Cũng có thể xem như thái độ
"trốn việc quan đi ở chù "
vậy. Thơ nhuốm màu thiền phật đấy song chất suy tư triết luận nhẹ hơn thơ
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm; mà khí phách càng không bằng Cao Bá Quát; lại
nữa, sự chán chường muốn xa lánh thời cuộc triều chính cũng không mấy nặng so
với Nguyễn Khuyến sau này.
Học giả Phan Huy Chú
sau khi dẫn dụ rằng, đến thời Quang Thuận triều Lê Thánh Tông, nhờ văn chương
nên Nguyễn Trực càng được vua yêu, được bổ làm quan to (Tuyên phụng đại phu, Trung thư lệnh), song ông vẫn mấy lần xin về
ở ngôi nhà tranh ở Tây Sơn mà vua không cho, nên mới có gửi gắm nỗi niềm tâm sự
vậy. Qua đó, Phan Huy Chú bình: "Xem
đấy đủ rõ phong độ và tiết tháo của ông". Sách dẫn tiếp: "Ông đỗ
đầu đại khoa, ra làm quan mà coi rẻ công danh, thường có ý muốn chóng về. Thân
Nhân Trung (một thành viên trong Nhị thập
bát tú, Phó súy Tao đàn thời Hồng
Đức) có khen ông là: Lấy văn chương được
các triều tri ngộ mà khiêm tốn kính cẩn giữ vẹn sau trước. Thực là lời phê
bình xác đáng".
Quả là sau những lời bình của các bậc
danh tài túc nho như vậy, há không cần bình phẩm gì thêm. Tuy nhiên, nếu truy
nguyên để bồi đắp thì hẳn cũng không thừa?
Sách Kiến văn tiểu lục (KVTL) của Lê Quý Đôn , quyển V-Tài phẩm, thấy chép về Nguyễn Trực: "Nguyễn Trực đỗ
trạng nguyên lúc còn ít tuổi, giao thiệp đối đáp với sứ nhà Minh là Hoàng Gián,
một lúc họa xong 50 vần thơ lưu biệt, có thể giữ được thể diện trong nước. Nhân
Tông sai trung sứ cùng thợ vẽ tới nhà vẽ tượng truyền thần, để ở bên cạnh chỗ
ngồi, để tỏ ra rằng không lúc nào quên được. Thánh Tông sai người đem bộ Thiên
Được những hai vị vua sủng ái như vậy
thì cũng là hiếm, vậy sao ông vẫn muốn sớm cáo bệnh lui về ở ẩn với nếp sống
thanh nhàn? Phải chăng, ngay chính năm ông đỗ trạng nguyên thì đã xảy ra liên
tiếp các sự kiện kinh thiên động địa như đã liệt kê ở phần 2) khiến ông sớm
kinh hãi rồi sinh chán ngán chốn quan trường? Tài danh và công lao nhất mực như
Hành khiển Nguyễn Trãi còn bị vu oan tru di đến 3 đời; các công thần từ thời Lê
Thái Tổ thì tranh giành quyền lực, thanh toán lẫn nhau theo cái lối do chính Thái
Tổ sử dụng là hết thỏ thì đập chó săn;
rồi các phi tần thì ngấm ngầm lôi kéo quan lại và nội thị kết thành bè cánh
tranh giành ảnh hưởng nhằm tiêu diệt nhau để ngoi lên? Ngay trong triều, thấy
những quan lại đồng khoa, và sau mình (như
Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc, Nguyễn Nghiêu Tư...) thăng trầm quan lộ, có
thể làm ông ngán ngẩm?
Lại nữa, cũng có phần ông chịu ảnh
hưởng di truyền và cả sự dạy bảo từ các bậc tiền bối, nhất là cha mình, Nguyễn
Thì Trung vốn là Giáo thụ trong Quốc Tử Giám? Sách KVTL, học giả Lê Quý Đôn chép về người cha của Nguyễn Trực:
"Nguyễn Thì Trung, người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, dưới triều nhà Trần,
ông tổ tên là Hữu, giữ chức Hàn lâm thị giảng kiêm Thẩm hình viện sứ, cha tên
là Bính, giữ chức nho học Huấn đạo. Thì Trung là người có văn học, nối dõi được
gia phong... Sau khi Thái Tổ đã bình
định được cả nước, hào kiệt, nho sinh, văn sĩ các lộ đều tranh nhau đến bái
yết, kẻ trước người sau đều được trao cho quan chức, chỉ có Thì Trung có ý nhạt
nhẽo không cầu hiển đạt làm quan. Đến đầu triều Thái Tông, hạ chiếu tìm hỏi
những hiền tài còn bị bỏ rơi, nghe biết ông là người có văn học đức hạnh, nhà
vua ra đặc chỉ tuyên triệu, hạ lệnh cho sở tại cố khuyên mời ông đến kinh sư,
cho giữ thư khố ở Quốc Tử giám, mùa thu năm thứ 2 (1435) nhà vua ngự điện Hội
Anh, ra bài thi, ông dự thi được trúng cách, cho thăng một tư, giữ chức Thị thư
ban, sau thăng chức Giáo thụ trong Quốc Tử giám. Chưa được bao lâu, liền xin
thôi làm quan, lui về ở chốn lâm tuyền, giảng sách dạy con, vui vẻ tự do, xa
gần nhiều người theo học. Lúc mất, đặt tên thụy là Như Ngu cư sĩ (chữ Ngu ở đây được hiểu là sự yên vui - TG
)... Văn chương của Nguyễn Thì Trung tuy không lưu truyền hết, nhưng xem
bài thơ tiễn viên giáo thụ họ Trình về trí sĩ và một bài khi ông về trí sĩ lưu
lại để từ biệt viên giám sinh họ Hồ cũng có thể tưởng tượng biết được phong vận
thơ văn của ông".
Đã rõ ràng, qua phần chép và bình phẩm
của Lê Quý Đôn, ngay từ trứng nước, Nguyễn Trực đã thừa hưởng di truyền tố chất
để làm nên bản tính thanh cao từ bậc cha ông, thêm vào đó, sự dạy dỗ tận tình
của người cha đã sớm định hình phẩm chất cao quý trong con người Nguyễn Trực.
Không những ông không xu thời và biết xa lánh bả quyền quý vinh hoa, Nguyễn
Trực còn có một phẩm chất đáng quý khác là ông không đố kỵ, biết tôn trọng và
nâng đỡ người khác, kể cả khi họ chỉ là bậc dưới về mọi phương diện. Sách KVTL
của Lê Quý Đôn chép: "Lê Hoằng Dục, con Thái phó Lê Văn Linh, học vấn rộng
khắp đầy đủ, thơ từ thanh cao phóng khoáng... thường cảm hứng làm 10 bài thơ Giang thành ngẫu thành, lúc Thánh Tông
còn ở phủ đệ phiên vương, lấy làm thích lắm, theo vần họa lại, sau khi lên ngôi
vua hạ lênh cho từ thần là Nguyễn Trực phê bình, phần nhiều khen ngợi
...". Cũng sách này còn chép: "Bản triều lại có Nguyễn Bảo (người xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, nay
thuộc Thái Bình) đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1472) niên hiệu Hồng Đức. Trung
thư lệnh là Nguyễn Trực yêu thích văn chương của Nguyễn Bảo, tìm đến xem mặt và
nói: ‘Già này chấm văn kỳ đệ nhị, mãi sau
được chấm bài của ông, về lời lẽ bài chiếu "phục lập phó bí" (dựng lại bia đã đánh đổ) , tài tình ở chỗ nói rõ được bụng ăn năn hối
lỗi của Đường Thái Tông, các sĩ tử không thể theo kịp được, già này nêu rõ ra
là bài ấy đứng vào hàng văn kiệt tác. Từ nay về sau, nghĩa lý trong Kinh sách
thánh hiền, ký thác vào ông cả"... Quả nhiên, sau này Nguyễn Bảo rất
hanh thông về quan lộ, thăng đến chức Thượng thư bộ Lễ, giữ chức ở viện Hàn lâm
dưới triều Lê Hiến Tông, có đóng góp nhiều cho triều chính.
Truyền thống nho gia nhiều đời tiếp
nối qua ông đến tận con cháu. Cháu ngoại của Nguyễn Trực là Nguyễn Ích Tốn, hẳn
là được thừa hưởng từ ông ngoại mình không những sự di truyền mà cả sự giáo
dưỡng. Nguyễn Ích Tốn đỗ Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 15 (1483), cũng là một thành
viên trong Nhị thập bát tú của Tao đàn
do chính Lê Thánh Tông làm chủ súy dưới thời Hồng Đức (Theo sách Hồng Đức quốc âm thi tập - NXB Văn
học,1982).
Có một việc, theo tôi cũng nên xác
định cho rõ, đó tên tác phẩm của Nguyễn Trực được các sách chép khác nhau.
Không kể các tác phẩm Ngu Nhàn tập, Kinh nghĩa chu văn tân tập, và văn bia Mục lăng (soạn cùng Nguyễn Bá Kỳ theo
lệnh của vua Lê Thánh Tông) thì tên một thi văn tập khác của ông lại được chép
khác nhau. Cụ thể là :
- Vu liêu tập (Theo sách LTHCLC của Phan Huy Trú).
- Trừ liêu tập (Theo sách Từ điển các nhân vật lịch sử Việt
- Hu liêu tập (Theo sách Các nhà khoa bảng Việt
Thậm chí, có sách còn chép là Sư
liêu tập. Vậy thì tên gọi nào là đúng? Rất tiếc là phần lớn các sách,
khi biên soạn xuất bản, đều không kèm mẫu tự chữ Hán, mà chỉ có tên Hán Việt
phiên âm mẫu tự Latin, nên thật khó tra cứu. Trong số các sách dẫn ra đây, duy
bộ Các nhà khoa bảng Việt Nam là có
in kèm tên bằng mẫu tự chữ Hán (chép đủ cả tên chính Nguyễn Trực, tên tự Công
Đĩnh, hiệu Hu Liêu, tên tác phẩm- Hu Liêu tập). Căn cứ vào mẫu tự chữ Hán, tra
cứu Từ điển Hán Việt của Đào Duy
Anh, thì không phải là Hu, mà phải đọc là Vu
(chỉ tên một loài cây xấu, không dùng làm
được việc gì, còn có nghĩa bóng để chỉ loại người vô dụng); còn chữ Liêu,
cũng theo từ điển nêu trên, có nghĩa là cửa
sổ nhỏ-mà cũng chỉ việc làm quan cùng nhau (ví như: đồng liêu - cùng làm quan với nhau ).
Nếu căn cứ vào đó, thì tên hiệu của
Nguyễn Trực là Vu liêu (chứ không phải
là Hu Liêu). Có lẽ đây là một
cách lấy tên hiệu kiểu tự biếm, tự nhận mình là người vô dụng, thể hiện bản chất khiêm nhường, muốn xa lánh chốn
đình trung của Nguyễn Trực chăng? Cùng với hiệu là Vu liêu, thì tác phẩm là Vu
liêu tập. Điều này đúng với cách gọi trong sách LTHCLC của Phan Huy Chú ./.
BẰNG VIỆT
mộng mơ, mải miết và ...
Mấy năm gần đây, không ngờ tôi lại
hay gặp nhà thơ Bằng Việt nhiều đến vậy. Cứ vài ba tháng, Bằng Việt lại ghé
thăm tòa soạn tạp chí Nhà văn & cuộc sống, nơi tôi làm
biên tập. Trong căn phòng hẹp trên tầng 5 ở Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam tại số
9 Nguyễn Đình Chiểu, ông uống trà, nhỏ nhẹ trò chuyện cùng chúng tôi, chừng hơn
giờ đồng hồ rồi đi, không lâu và cũng chẳng chiếu lệ qua quýt, đủ độ thân mật ấm
áp. Có hôm ông đến, sẵn vài ba người khách, câu chuyện rôm rả, lai có khi mỗi
mình tôi “gác chùa” nên câu chuyện với ông tập trung hơn. Nhờ thế mà tôi
dần dà biết thêm về ông nhiều điều, kể cả về nguồn gôc gia đình ở Chàng Sơn Thạch
Thất và thời gian gia đình ông ở Huế cuối thời Nguyễn lúc ông còn là cậu bé bốn
năm tuổi,...
Nhưng điều tôi muốn viết về ông, là
thơ ca, văn chương, thứ mà ông say mê theo đuổi và nhũng nhẵng cùng nó kể cả
khi ông có cương vị khá cao ở chính quyền Hà Nội, cho đến tận bây giờ...
Thời học sinh, sinh viên, tôi và vài
ba người bạn mê thơ Bằng Việt lắm. Ngày ấy, Bằng Việt sớm được bạn yêu thơ biết
đến khi tập thơ Hương cây bếp lửa (in
chung Lưu Quang Vũ, Bằng Việt) được xuất bản. Làm gì có sách mà mua, mượn đọc
rồi chuyền tay nhau, thích bài nào thì chép tay vào sổ. Bài thơ Bếp lửa, Trở lại trái tim mình, Về hỏa tuyến thăm con… của Bằng Việt nhiều
người thuộc lắm. Thuộc để trích dẫn đặng làm văn tự luận thì mang ra bình. Sướng
mê tơi. Yêu thơ nên thèm biết người thơ nhưng làm sao mà gặp được. Nhà thơ đi
mây về gió, đâu đâu tận cung trăng ấy.
Ngây thơ và buồn cười của một thời là vậy đấy.
Giờ thì Bằng Việt, ông lão ngoại tám
mươi xuân ngồi đây, trước mặt tôi, nhấm nháp chén trà và thủng thẳng chuyện thơ
chuyện đời. Ngắm Bằng Việt chuyện văn chương, bỗng nhớ có lần nhà thơ Trần Đăng
Khoa cảm thán rằng sẽ không bao giờ lên đọc thơ trước đám đông vào lễ hội thơ Nguyên
tiêu nữa bởi sau khi chứng kiến cảnh Bằng Việt đọc thơ đêm Nguyên tiêu trời
mưa rét nặng hạt thấy thương làm sao. Tôi không chứng kiến cảnh ấy nhưng cứ
nghe Trần Đăng Khoa mô tả thôi thì cũng hình dung ra được thế nào,… Là nói vậy
thôi, cái nghiệp thơ nó ám vào người, cả Trần Đăng Khoa và Bằng Việt vẫn cứ phải
đăng đàn, đọc thơ vì người ta mời, người ta trọng vọng…
Nhưng, hình dung của tôi về Bằng Việt
không chỉ có vậy, mà xa xôi về quá khứ. Ở cái tuổi mới lớn, vừa mớm chân vào cổng
trường đại học, mấy cậu sinh viên trường canh nông chúng tôi yêu văn chương, mỗi
chiều thứ bảy lại kỳ cạch đạp xe từ Trâu Quỳ Gia Lâm vượt cầu Long Biên sang
Thanh Xuân Mễ Trì để dự các đêm thơ sinh viên Văn khoa Đại học Tổng hợp. nghe
Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Huy Nhuận, Đặng Huy Giang, Mai Quỳnh Nam… đọc thơ. Có người
không đọc thơ mình lại đọc thơ Olga Bergol, “Bài thơ cuộc đời”, “Mùa hè rớt”.
Những vần thơ trữ tình say đắm qua bản dịch của nhà thơ Bằng Việt làm lay động
lòng người. Chúng tôi nghe ngây ngất, thích lắm và thầm ước ao được gặp gỡ nhà
thơ Bằng Việt một lần cho thỏa lòng hâm mộ. Ngày ấy, bài thơ Bếp lửa, Về hỏa tuyến thăm con, Tình yêu và báo động và một số bài thơ trong
tập thơ “Hương cây Bếp lửa” in chung với Lưu Quang Vũ, được đông đảo người
yêu thơ khen ngợi, nên Bằng Việt đã sớm có vị trị trong lòng bạn đọc. Là sinh
viên, có tí máu văn chương trong người, ai mà không thuộc những câu thơ mê đắm
của Bằng Việt “Đồi trung du phơ phất bóng thông già/ Trường sơ tán buồn
trong chiều lặng gió/ Những câu thơ đi suốt đời vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ
trong đầu/ Lẵng qua thông trong suối nhạc nhiệm màu/ Hay Chuyến xe
đêm thẫn thờ mê đắm/ Mùi cỏ dại trên cánh đồng xa thẳm/ Một khoảng trời
vĩnh viễn ướp hương hoa…’ (Nghĩ về Pauxtovsky). Các cậu chàng, cô
nàng bụng đói nhệu nhạo nhai và rướn cổ nuốt khan miếng bột mì nắp vung luộc
cho ấm dạ mà trong đầu vẫn ngân vang những câu thơ như thế của Bằng Việt. Mới
thấy sức mạnh của thi ca ma mị đến cỡ nào. Khi ấy, Bằng Việt thật sự là bậc
tiên thánh thi ca của giới sinh viên Việt cả một thời gian dài.
Phần
thơ dịch, thơ Nga với Olga Bergol, X. Exenin và các tác giả khác
(Puskin, Lermontov, Akhmatova, Gamzatov, Evtusenko); thơ Thổ Nhĩ Kỳ với Nazim
Hikmet. Rồi là những F.G. Lorca (Tây Ban Nha), P Neruda (Chile), P. Eluard (Pháp),
Y. Ritsos (Hy Lạp)….trong số các bản dịch của nhiều người thì Bằng Việt cũng nổi
trội và được người ta yêu thích hơn cả. Không dưới một lần, đối thoại văn
chương với nhà thơ Trần Đăng Khoa, chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa, nhận định,
Bằng Việt là một trong số ít người ở xứ ta nếu không muốn nói là số một, dịch
thơ nước ngoài hay nhất. Dịch văn học đã khó rồi, dịch thơ lại càng khó hơn, bởi
không chỉ giỏi ngoại ngữ mà cũng phải rất giỏi tiếng mẹ đẻ (ở đây là Tiềng Việt).
Bằng ngôn từ đẹp, trau chuốt, giàu hình ảnh và nhạc điệu, Bằng Việt đã “Bằng
Việt hoá” những Olga Bergol, Exenin, Pauxtovsky, Nazim Hicmet và tất thảy
các nhà thơ thế giới mà ông đụng đến… Chất thơ ấy được người ta chấp nhận và bị
nó ru ngủ khi nào không hay. Quan trọng là, sau mấy chục năm trời, giờ đọc lại
những bài thơ Bằng Việt dịch ngày ấy vẫn thấy hay. “Trên má mơ hồ tơ nhện
bay giăng/ Khe khẽ như không, nhẹ nhàng phơ phất/ Lanh lảnh bầy chim đi muộn nhặt/
Hoa cuối mùa sặc sỡ đến âu lo…”, hay là “Sao ơi sao sắp rụng vào đêm/ Ta
biết lắm thời gian đang vĩnh biệt/ Nhưng đến bây giờ ta mới biết/ Yêu thương,
giận hờn, tha thứ, chia ly” (Mùa hè rớt, Olga Bergol) là những câu
thơ như thế. có sức sống mãnh liệt và dai dẳng, phần lớn nhờ bản dịch tuyệt vời
của Bằng Việt.
Nhân đây, tôi muốn nhìn nhận, lý giải
hiện tương Olga Bergol qua những bản dịch thơ của Bằng Việt, lại được bạn đọc
yêu thích ở Việt Nam một thời gian dài, khiến nhà thơ này thành nổi tiếng, mặc
dù thực tế ở Liên Xô và sau này ở nước Nga bà chỉ nhà thơ tầm trung, bậc thường
ít được biết đến. Trước hết, phải khẳng định, bản dịch thơ của Bằng Việt hay,
ngôn ngữ trau chuốt, đẹp và giai điệu du dương, song không thể bỏ qua sự may mắn
ấy là thời điểm ra đời của bản dịch nâng hiệu ứng hơn lên. Đấy là những năm tháng
cuộc chiến tranh chống chống Mỹ Ngụy thống nhất nước nhà đang độ cao điểm, khi
mà các thế hệ thanh niên, sinh viên ở ta hừng hực khí thế xung phong ra mặt trận
chiến đấu với biết bao hoài bão, lý tưởng về sự cống hiến, hy sinh cùng khát
khao cháy bỏng về một tương lai tươi sáng,… Thế nên, những vần thơ đầy mộng mơ
và đẹp đẽ ấy (cùng với bài thơ Đợi anh về của K. Simolov qua bản dịch của
Tố Hữu, rồi các ca khúc Nga như Bài ca thanh niên sôi nổi, Chiều hải
cảng, Ca-chiu-sa….) như một sự trợ giúp, một liều thuốc tinh thần
nâng đỡ, chắp cánh cho cả một thế hệ. Ấy là sự may mắn do thời cuộc mang lại
không dễ gì có được. Kết quả thì đã rõ, cả tác giả và người dịch đều thành
danh.
Nhớ về quá khứ để có một cái nhìn bao
quát về con người thơ Bằng Việt, dịch thuật và sáng tác nói chung. Bẵng đi nhiều
năm, tôi không chú ý đến thơ Bằng Việt nữa. Bởi nhiều lẽ, tôi tốt nghiệp đại học
vào Nam nhận việc, rôi lang bạt gần chục năm lại ra Bắc làm báo, kiếm ăn với lo
toan thường nhật. Thêm nữa, khi ấy có hàng loạt cậy bút thơ trưởng thành từ chiến
tranh, sau Phạm Tiến Duật là những Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Vương Trọng, Nguyễn Đức
Mậu, Thanh Thảo, Phạm Ngọc Cảnh, Lâm Huy Nhuận, Hoàng Nhuận Cầm… đem đến luồng
sinh khí mới cho thi ca Việt, ít nhiều lấn át chất thơ hàn lâm và lãng mạn hơi
hướng tiểu tư sản một thời. Và lẽ dĩ nhiên, thơ Bằng Việt không thuộc luồng khí
mới mẻ đó. Và chẳng rõ, luồng sinh khí thơ mới mẻ đó có tác động đến Bằng Việt
hay không, song ông cũng không thể sáng tác như trước nữa? Ở vào thời điểm đó,
những năm cuối của thế kỷ 20, thực tế cuộc sống thiếu thốn, khốn khó khiến người
ta không thể sống bằng khát khao lý tưởng hão huyền mà phải vập mặt vào chuyện
cơm áo gạo tiền của cuộc sống hàng ngày trong cơn bĩ cực. Tôi nghĩ, Bằng Việt
có lẽ không quen với bầu không khí này, song ông chẳng thể mãi bay bổng phiêu
du với những vần thơ êm ái ru rín như ông từng dịch và sáng tác ngày nào. Thơ Bằng
Việt vốn cấu tứ không rõ, được kết dính bởi chất trữ tình cùng giai điệu đẹp và
ngôn từ trau chuốt, nên khi mất những yếu tố này thì Băng Việt không còn là
mình nữa. Phải vậy, cái sự “mất mình” của ông là đây chăng?
Quả vậy, sau
này, tuyển tập thơ thời kỳ đổi mới của Bằng Việt cho thấy rõ điều này. Không thể
không ghi nhận ý thức và dụng tâm đổi mới của Bằng Việt, song người ta không thấy
ở thơ ông một diện mạo mới của sự sáng tạo mà chỉ thấy ở đó sự gượng gạo như cố
tình làm khác đi mà thôi. Chẳng rõ, ông có ý thức hâu hiện đại như xu hướng xã
hội đương thời hay không? Thơ ngắn, nghèo nhạc điệu nên ngôn từ suồi suội chuội
đi, chẳng hồn vía gì mà ý tứ thì không rõ, còn triết lý cũng vụn. Cảm giác như
ông quên việc cấu tứ một bài thơ, bởi bấy lâu
ông chỉ quen đến thành quán tính làm đẹp những vần thơ bằng tiếng Việt từ
những bài thơ hay có sẵn của những tác giả nổi tiếng. Có cảm giác, thơ thời kỳ
đổi mới của ông cứ nằm đâu đó bên ngoài cuộc sống. Lại như, sự nổi trội và
thành công của dịch thơ khiến Bằng Việt như người đi trên mây và ông không muốn
xuống và cũng không biết xuống mặt đất bằng cách nào. Ngỡ có một Bằng Việt hoàn
toàn khác, chẳng dính líu gì đến Bằng Việt xưa, mà cũng chẳng thấy một sự tiếp
biến nào của hai thời kỳ. Song ông cũng không thể viết như xưa cũ, nên thành ra
“đi mắc núi trở lại mắc sông”. Hơn ai hết, hẳn ông tự hiểu tình trạng
này của mình. Có thể nói, Bằng Việt đã mất mình với phần thơ sau này. Thực
tình, tôi cứ mong rằng mình kém cỏi nên chưa hiểu dụng tâm đổi mới của Bằng Việt,
cũng như việc chưa tiêu hóa được các tác giả hậu hiện đại ở ta và hy vọng đến một
ngày nào đó ngộ ra chăng?
Bằng cớ, mới gần đây, Bằng Việt gửi đến
Tạp chí Nhà văn & cuộc sống bài thơ “Đọc lại Dế mèn phiêu lưu
ký”, khi biên tập xếp số, tôi thấy bài thơ là lạ, khác với những bài
thơ đổi mới sau này của Bằng Việt. Hơi thơ cu cũ, ngôn từ khang khác. Bài thơ
như bị chia thành hai mảnh; Mảnh đầu đặc cũ “Một chút gì trong vắt, quá mong
manh/ Như dĩ vãng xa xưa thức dậy/ Bỗng phấp phỏng yêu đời biết mấy/ Nhớ về tuổi
thơ, những vầng sáng lạ lùng/ Nhớ da diết một hang rào dâm bụt/ Một góc bình
yên, thu vén bên trong…” Những khổ thơ sau, hơi thơ vẫn cu cũ nhưng ngôn từ
không cũ mà cũng chẳng mới, lại có phần lộ cộ không yên vị, thiếu trau chuốt.
Tôi đem điều này hỏi Bằng Việt. Ông ngẫm nghĩ chút, bảo: “Cậu thấy thế à? …
Tinh đấy. Bài thơ này, mình khởi thảo từ cuối những năm 70, nhưng thấy không ổn
mình để lại. Quãng những năm hai nghìn mình viết lại nhưng vẫn giữ khổ thơ đầu.
Nhưng rồi vẫn chưa ổn nên mình không đưa vào tập nào cả. Gần đây, mang viết lại
nhưng vẫn giữ nguyên khổ thơ đầu.”. Bằng Việt nhìn xa xôi đâu đó. Có lẽ,
câu chuyện đưa ông về dĩ vãng, một thời vàng son của chính mình và các bạn thơ
ngày ấy?...
Biết là ông vẫn chăm dịch thơ. Nghe
nói, ông sử dụng được mấy ngoại ngữ. Không chỉ dịch xuôi, Bằng Việt còn dịch
ngược, ví như ông dịch thơ Nguyễn Đình Thi sang tiếng Pháp. Chẳng rõ chất lượng
ra sao, nhưng thực tâm, tôi không mấy tin. Chỉ cảm phục nỗ lực và sự cần mẫn
theo đuổi thi ca của một người cả đời mải
miết đi tìm cái đẹp. Mải miết đến quên mình. Chí ít, khi dịch thơ, ông vẫn có
thể “Bằng Việt hoá” thơ thiên hạ, bởi đấy là sở trường của ông,
lĩnh vực đã làm nên tên tuổi và sẽ vẫn tiếp tục lưu giữ tên tuổi ông trong lòng
người yêu thơ xứ Việt mình !?...
Giờ đây, dịch thơ, tôi nghĩ, vẫn là
nơi nương náu tốt nhất của hồn thơ Bằng Việt?!... Những mong còn được đọc những bài thơ dịch
tuyệt vời của ông…
ĐĂNG QUANG TÌNH
Bố Bản người và văn
Dân báo chí ở Đài Tiếng nói Việt Nam
(VOV), thế hệ sinh vào những năm tám mươi trở về trước, hễ nhắc đến nhà báo Đặng
Quang Tình đều gọi ông bằng một cái tên dân dã trìu mến là Bố bản.
Sở dĩ vậy, là
bởi, nhà báo Đặng Quang Tình có rất nhiều năm làm công việc Phát thanh Dân tộc
và từng là Trưởng ban Phát thanh Dân tộc đầu tiên từ khi ban biên tập này được
thành lập. Hơn nữa, còn bởi, dáng vẻ bên ngoài giản tiện, phong cách của người
đã có nhiều năm sống và làm việc với người
dân tộc thiểu số. Có thể nói, nhà báo Đặng Quang Tình là một trong số ít người ở
xứ ta am hiểu và viết xuất sắc về cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam cả
lĩnh vực báo chí và văn chương. Bằng chứng, trong quá khứ, khi còn sung sức, Đặng
Quang Tình đã từng bốn lần đoạt giải cao trong các cuộc thi văn chương danh giá
ở xứ ta với ba lần ở thể loại truyện ngắn và một lần ở thể loại bút ký mà nội
dung các sáng tác này của ông đều về đề tài miền núi dân tộc thiểu số...
Tư cách một nhà văn và những giải thưởng văn học,
Mặc dù cho đến thời điểm Đặng Quang Tình ở độ
tuổi gần chín mươi, ông vẫn chưa là hội viên của bất kỳ một hội nhà văn nào.
Ông sống ở Hà Nội cùng các con, sau khi nghỉ hưu tại Đài Tiếng nói Việt Nám
(VOV) đã hơn hai chục năm nay. Thường người cầm bút như ông, đều là hội viên của
vài ba hội danh giá, ví như hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam chẳng hạn. Nghe nói, lâu lắm rồi, Đặng Quang Tình từng có đơn gia nhập
Hội Nhà văn Việt Nam và hiện hồ sơ công tác hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam vẫn
còn lưu giữ lý lịch trích ngang của ông. Song hằng năm, mỗi đợt kết nạp, người
ta dường như đã quên tên ông thì phải?...
Đặng Quang
Tình không hài lòng về việc này thì có, song ông không vì thế mà sốt ruột, hay
tiếng bấc tiếng chì trách cứ. Với ông, đơn giản, khi còn cảm hứng và sức lực,
viết được gì thì viết thôi. Chẳng vậy mà, trước lúc nghỉ hưu, ông mới chỉ có
duy nhất một tập truyện ngắn là Hoa rừng (Nxb Tác phẩm mới, 1986) và một số truyện ngắn, bút ký in trong các
tuyển tập của một số nhà xuất bản Hội Nhà văn, Giáo dục, Văn hóa, Dân tộc, Lao
động và Hà Nội... cùng những sáng tác đăng tải rải rác ở các báo Văn Nghệ, Người
Hà Nội, Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh v.v...
Sau khi nghỉ
hưu, Đặng Quang Tình cho xuất bản tập sách thứ hai, đó là tập truyện Trăn
trở (Nxb Lao động, 2001), và
rồi bất ngờ ông tăng tốc. Chỉ trong vòng mười lăm năm sau, ông cho ra đời các
tiểu thuyết Hướng về Đông (Nxb Lao
Đông 2009). Những cánh chim bạt gió (Nxb
Hội Nhà văn 2011), Âm thầm (Nxb Lao Động 2015) và Tập truyên ngắn Một thời giông bão (Nxb Hội Nhà văn 2010). Như vậy, ông viết
còn sung sức hơn thời kỳ còn công tác. Với ông, dường như khi nghỉ hưu, hàng
ngày không phải bận rộn với công việc quản lý báo chí, những phẩm chất sẵn có
trong mình, ấy là vốn tư liệu sống của một người nhiều năm lăn lộn làm báo và
bút pháp văn phong một nhà văn đã được
khẳng đình, chỉ cần ngồi vào bàn là nên tác phẩm. Quả là, một người từng trải,
đi nhiều, hiểu nhiều, vốn sống ngồn ngộn mà thời gian lại thiếu, thì khi có, những
đứa con tinh thần cứ theo nhau mà ra đời.... Nếu chỉ tính số đầu tác phẩm, thì
quả là Đặng Quang Tính chưa phải nhiều, nhưng dấu ấn văn chương của ông lại khá
đậm nét...
Cuộc thi truyện
ngắn của Báo Văn nghệ (1974-1975),
là cuộc thi viết kéo dài cả trước và sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước,
vậy mà Đặng Quang Tình đã đoạt giải Nhất với truyện ngắn “Trên vành chảo Điện Biên”. Kế tiếp, cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ (1978-1979), thời gian đó
xảy ra cuộc chiến trang biên giới phía Bắc chống quân bành trướng Trung Quốc, Đặng
Quang Tình lại giành giải Nhất với truyện ngắn “Ông Thào”. Như vậy, ông liên tục đoạt giải cao nhất của hai cuộc
thi văn học danh giá liền nhau, mà hiếm có, đúng ra, chưa có cây bút nào ở nước
ta đạt được. Mảng đề tài cùng là miền núi và dân tộc thiểu số, nhân vật là người
Mông, người sống ở vùng rùng núi nước ta. Dù trong thời kỳ nào, làm cách mạng,
kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng bản làng phát triển kinh tế, chống giặc
là những người đã từng là bạn bè anh em, thì người Mông nói riêng và người các
dân tộc thiểu số nói chung đều nhận thức phân định rõ ràng, bản lĩnh vững vàng,
hiểu rõ đúng sai và cương quyết đấu tranh bảo vệ làng bản, đất nước. Ở mảng đề
tài này, thêm một lần nữa, Đặng Quang Tình khẳng định tài năng và sở trường của
mình, ông lại thành công với truyện ngắn “Lính
cối” giành giải Ba cuộc thi truyện
ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội
(1983).
Có thể nói, ở
thể loại truyện ngắn trong văn học hiện đại nước nhà, đặc biệt ở mảng đề tài về
dân tộc và miền núi, Đặng Quang Tình đã khẳng định vị trí hàng đầu của mình và
là một tên tuổi không thể không nhắc đến. Sở dĩ, Đặng Quang Tình gặt hái được
nhiều thành công ở mảng văn học miền núi dân tộc như vậy, trước hết là có vốn sống,
sự hiểu biết sâu rộng về mảng đề tài này nhờ nhiều năm ông lăn lộn ở miền núi
phía Bắc dù ở quân ngũ hay làm báo. Ông thạo địa lý, lịch sử vùng đất, hiểu tâm
lý và phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số nơi đây. Cái chính, ông phải
rất yêu con người và cuộc sống của họ ở vùng đất này thì mới thể hiện một cách
chân thực và lãng mạn trong những tác phẩm văn học của mình. Ở đây, phải nhắc đến
một thuận lợi riêng có của nhà văn Đặng Quang Tình.
Ông quê Vụ Bản, Nam Định, nhưng gia
đình ông sống ở Lào, ông được sinh năm 1934 tại Viên-chăn. Khi về nước, ông
tham gia quân đội, nhiều năm sống ở vùng miền núi phía Bắc. Chuyển nghề làm
báo, ông có nhiều năm là phóng viên của Đài phát thanh Tây Bắc (khi đó thuộc khu tự trị Thái Mèo) đóng
tại Sơn La. Khi đài phát thanh này bị giải thể, ông cùng một số đồng nghiệp được
điều về Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) thì
Đặng Quang Tình tiếp tục theo dõi và quản lý màng nội dung về miền núi, dân tộc
thiểu. Việc am tường về một mảng nội dung, cộng thêm sự sâu sát địa bàn, chất
nhanh nhạy của một người làm báo, không những giúp cho ông làm tốt công tác quản
lý, biên tập mà thêm lần nữa, làm nên thành công trong sáng tác văn học. Nhà
văn Đặng Quang Tình đã đoạt giải Nhì cuộc thi viết ký do Hội Nhà báo và Hội Nhà
văn Việt Nam phối hợp tổ chức năm 1995 với bút ký Ba lần lên Sa Dung, thêm phần khẳng định sự sát giải (cứ dự thi là đoạt giải) của ông.
Thời còn công
tác, Đặng Quang Tình viết ít, khá chắt lọc, ông chỉ xuất bản tập truyện ngắn Hoa rừng (NXB Tác phẩm mới, 1986), và
mãi nhiều năm sau, khi đã về nghỉ hưu, ông mới xuất bản tập truyện thứ hai của
mình, Trăn trở (NXB Lao Động, 2001).
Rồi từ đó, có thời gian suy ngẫm, ông làm một mạch, lần lượt cho xuất bản 4 đàu
sách, đó là các tiểu thuyết Hướng ve Đông
(NXB Lao Động, 2000). Những cánh chim bạt
gió (NXB Hội Nhà văn, 2011) và Âm thầm
(NXB Lao Động, 2015), và tập truyện Một
thời giông bão (NXB Hội Nhà văn, 2010).
Ào ạt với một
sê-ri tiểu thuyết như vậy, tuy nhiên, chúng không để lại dấu vết gì đáng kể, nếu
không muốn nói là lụt đi giữa biển sách xuất bản hàng năm. Tôi nghĩ, lý giải điều
này, có vài ba lý do...
Trước hết, tự
thân, sáng tác các tiểu thuyết này, nhà văn Đặng Quang Tình ý thức viết như một
nhu cầu giải tỏa bản thân, khi có điều kiện về thời gian và sự từng trải vốn
có. Sự thôi thúc viết ra không là phải là nuốn tìm tòi, đổi mới bút pháp, mà
như thể, nếu ngần ngại hay đắn đo thì rất có thể, chúng sẽ chẳng bao giờ có mặt
trên đời... Cảm giác ông viết như sự trải lòng, kể lại những chuyện mình từng sống,
đã trải qua, từng biết... Viết như sự tiết kiệm, tận dụng cho hết vốn sống, tư
liệu mình có... Đơn giản vậy, nên khi ra sách, ông tặng bạn bè, người thân,
không giới thiệu, quảng bá này nọ. Xem như mình đã làm xong công việc tự đặt ra
cho mình,...
Góc độ khách
quan, thời kỳ này, đã có sự chuyển biến cơ bản trong lĩnh vực xuất bản và sáng
tác văn học nước nhà. Trước hết, việc tư nhân tham gia vào lĩnh vực xuất bản đã
tác động mạnh đến thị trường và qua đó ít nhiều làm thay đổi nhu cầu và thị hiếu
đọc sách của công chúng. Hàng năm, các đầu sách về lĩnh vực kinh tế, khoa học
công nghệ, văn hóa nghệ thuật, tâm linh ra ào ạt, chiếm lĩnh thị trường, lấn át
sách văn học. Và riêng mảng sách văn học, các tác phẩm thuộc diện kinh điển được
tái bản tràn lan, khiến các tác giả trong nước, muốn được bạn đọc chú ý thật
không dễ, vì ngoài nội dung đề cập phải thuộc vấn đề nóng, còn cần thêm các
chiêu trò PR này nọ. Trong bối cảnh như vậy, các tiểu thuyết của nhà văn Đặng
Quang Tình bị lút chìm là đương nhiên.
Còn một lý do
nữa, theo tôi, sở trường của nhà văn Đặng Quang Tình là truyện ngắn. Ở đấy, ông
chặt chẽ, dồn nén trong việc tạo không gian truyện, cài dặt chi tiết tài tình
và ngôn ngữ hội thoại sắc sảo. Tiếc là, nhưng ưu điểm này ông chưa mang được
sang tiểu thuyết,...
Đặng Quang Tình, nhà báo – bố bản,
Tháng 10 năm
1987, tôi cầm quyết định về làm biên tập
viên của Ban Thính giả Đài Tiếng
nói Việt Nam (VOV), thì khi đó Đặng Quang Tình làm Trưởng ban. Trước đó không
lâu, ban biên tập Thính giả được
thành lập vào ngày 13.8.1987, Đặng Quang Tình được điều từ Ban biên tập Đối nội sang làm trưởng ban mới. Như vậy, ở vào thời
điểm ấy, ông là hạng sừng sỏ ở Đài rồi. Nhớ lại, khi đó, đất nước đang bước vào
thời kỳ đổi mới. Tổng bí thư Đảng là đồng chí Nguyễn Văn Linh dẫn dắt công cuộc
đổi mới với hàng loạt chủ trương và công việc cụ thể, trong đó có một việc nóng, ấy là Nói và Làm ( N & L ), được cập nhật trên báo chí (chủ yếu trên Báo Nhân dân và Đài Tiếng
nói Việt Nam). Ban Thính giả Đài TNVN được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu
này. Phòng tiếp dân của Đài luôn chật khách, họ là các thính giả từ khắp nước,
qua gửi đơn thư, hoặc trực tiếp đến phòng tiếp dân, đưa đơn thư, yêu cầu, khiếu
nại này nọ. Khi ấy, tiếp dân là công việc cực nhọc nhất, bởi lượng công dân
hàng ngày đến rất đông. Người tiếp dân phải có tính kiên nhẫn, ôn hòa, sự hiểu
biết cần thiết và quan trọng phải biết ứng xử nhanh trong các tình huống bức
thiết nếu có, để giải thích và hạ hỏa, sao cho thính giả-công dân cảm thấy thỏa
mái và được tôn trọng. Chỉ cần sơ suất trong nói năng rất có thể làm họ nổi
nóng, to tiếng, thậm chí gây sự ngay tại chỗ. Đã từng xảy ra trường hợp thính
giả mang đơn đến khiếu kiện, khi được nhà Đài giải thích là sẽ chuyển nội dung
đơn thư đến cơ quan có thẩm quyền, thị vị thính giả nọ bức xúc, dọa nếu không
được giải quyết ngay sẽ tự sát tại phóng tiếp dân. Là người từng có nhiều năm
làm công tác Đảng, nên trưởng ban Đặng Quang Tình trong các buổi giao ban luôn
nhắc nhở các nhân viên thuốc cấp của mình hết sức lưu tâm, cẩn trọng lời ăn tiếng
nói khi tiếp công dân. Ngày đó, tôi cũng phải trực tiếp dân, tháng một tuần nên
thấu hiểu điều này... Thực tế, thời lượng phát sóng dành cho chuyện mục Tiếp chuyện bạn nghe đài chỉ hạn định
trong khung chương trình hằng ngày, mà số lương đơn thư lại quá nhiều, nên Trưởng
ban Đặng Quang Tình đã tìm ra một giải pháp khả quan và hữu hiệu khác. Ấy là
trên cơ sở nội dung đơn thư của thính giả, lựa chon vấn đề, nội dung cụ thể đưa
vào công văn gửi đến cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết và trả lời công
văn của nhà Đài, để Đài trả lời thính giả. Như thế, hiệu quá công việc khá cao.
Tôi không thể nhớ nổi hàng trăm, hàng ngàn những đơn thư được giải quyết bằng
cách này trong những tháng năm ấy, song có một trường hợp thì tôi nhớ. Đó là
trường hợp của nhà báo nọ. Anh ta bị xem xét trong một vụ việc cụ thể, bị quy tội
và đã phải ngồi tù mấy năm, rồi được xem xét lại. và được thả tù. Tuy nhiên, khi quay lại cơ quan cũ
thì không được cơ quan này bố trí công việc. Anh ta mang đơn đến Đài, công văn
gửi cơ quan cũ của anh ta do trưởng ban Đặng Quang Tình ký. Một thời gian sau,
khi được cơ quan cũ xem xét, bố trí công việc, anh ta đã quay trở lại Đài báo
tin vui và nói lời cảm ơn. Được biết, sau đó nhà báo này trở thành người làm
báo giỏi. hanh thông trên con đường sự nghiệp tiếp theo của mình. Khi đã nghỉ
hưu, có lần tôi kể lại chuyện này với nhà văn Đặng Quang Tình, ông cười bảo “Ngày ấy, thấy cậu ta ít nhiều bị oan, mình
bênh vực được thì làm thôi...”. Lý lẽ đơn giản vậy.
Sau một thời
gian ở Ban Thính giả, một ban biên tập mới được thành lập, Ban Phát thanh Dân tộc, Đặng Quang Tình được
điều làm trưởng ban này, bởi ở cơ quan thời điểm ấy, không ai cớ sự hiểu biết
và kinh nghiệm về lĩnh vực dân tộc miền núi hơn ông. Đặng Quang Tình làm trưởng
ban Phát thanh Dân tộc, càng củng cố thêm biệt danh Bố Bản, cho đến lúc nghỉ hưu. Từ ấy, mỗi khi nhắc đến Bố Bản, thì người nhà Đài hầu như ai
cũng hiểu đó là nhà báo, nhà văn Đặng Quang Tình.
Chuyện vào Hội Nhà văn.
Nhà văn Đặng
Quang Tình có đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam từ thời ông còn làm việc và nổi
danh làng văn ta với mấy giải thưởng liên tiếp về truyện ngắn. Nhưng không hiểu
sao, danh sách hội viên được kết nạp vào Hội hàng năm không có tên ông. Mỗi khi
có ai đó nói với ông về chuyện này, ông đều cười bảo “Nếu không là hội viên mà không viết được văn thì tớ mới buồn... chứ
không là hội viên mà tớ vẫn viết đều thì có gì mà buồn...”. Nói vậy thôi, chứ tôi hiểu, trong lòng, ít
nhiều vẫn gợn lên những suy tư .... Là tôi cứ nghĩ thế, bởi cái tâm trạng “cuời như thầy khóa hỏng thi” vốn thâm
căn trong con người ta, nhất là các quốc gia châu Á có bề dày khoa bảng như
Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và xứ Việt mình,... Miếng giữa làng kia mà!...
Khi nhà văn Đặng
Quang Tình nghỉ hưu, chuyện ông vào Hội Nhà văn xem như bị lãng quên. Thi thoảng,
mùa kết nạp hội viên, có người nhắc đến tên ông, không phải là sự quan tâm xem
ông có vào Hội hay không, mà chỉ để mang ra so sánh với nhà văn này nhà văn
kia, rằng cái tay ấy kém thế, có mà xách dép cho ông, thế mà cũng vào Hội đợt
này.... Vậy đấy!...
Lâu rồi không
ai nhắc đến ông nữa, xem như ông không tồn tại trong làng văn này. Thế mà, khi
chẳng mấy ai nhớ đến ông thì Đặng Quang Tình lại được công nhận là hội viên Hội
Nhà văn Việt Nam!... Chuyện này có nguyên do của nó. Số là, khi nhà thơ Trần
Đăng Khoa còn tại vị chức danh Phó Bí thư Đẳng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam, kiêm
nhiệm Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà văn Nam, đôi ba lần trong câu chuyện văn
chương, tôi nhắc ông rằng còn có một nhà văn tên Đặng Quang Tình với nhiều giải
thưởng sáng tác văn học danh giá, xứng đáng được kếp nạp vào Hội Nhà văn Việt
Nam. Trần Đăng Khoa công nhận điều đó, và quả thật. trong mấy kỳ kết nạp hội
viên (2017, 2018), ông có nhắc đến trường hợp nhà văn Đặng Quang Tình bị bỏ
quên, trong cuộc họp của Ban thường vụ Hội Nhà văn. Mùa kết nạp hội viên năm
2019, khi họp Ban chấp hành Hội để bỏ phiếu kếp nạp hội viên, nhà thơ Trần Đăng
Khoa lại nêu trường hợp của Đặng Quang Tình, một cây bút văn xuôi lâu năm đã từng
hai lần đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn Nghệ liên tiếp và cũng
đã có hồ sơ xin gia nhập từ rất lâu. Để thêm sức nặng cho đề xuất của mình, nhà
thơ Trần Đăng Khoa còn nêu ra hai trường hợp đáng tiếc khác cũng công tác ở Đài
Tiếng nói Việt Nam cùng Đặng Quang Tình dù họ có đơn xin gia nhập hội song đến
khi mất vẫn chưa là hội viên, ấy là các nhà thơ Trần Ngọc Thụ và Nguyễn Huy
Dung. Hội đồng gật gù đồng tình, nhưng lại hiểu nhầm là nhà văn Đặng Quang Tình
cũng đã mất như hai nhà thơ kia. Có lẽ vậy, mùa kết nạp năm 2019, nhà văn Đặng
Quang Tình được Ban thường vụ Hội nhất trí công nhận là hội viên của Hội bằng
quyết định số... nhưng nhầm tưởng ông đã
mất. Vậy nên, năm 2020, Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10 diễn ra, tài liệu
xuất bản phục vụ đại hội, có tập NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI cấp cho các hội
viên. Phần về nhà văn Đăng Quang Tình, thể hiện sự hiểu nhầm này. Rẩm riu nghĩ.
không sao cả, thói đời biết đâu đấy, nếu biết chắc là ông còn sống, thì chưa rõ
sẽ ra sao…? Buồn cười đấy nhưng mà cũng may đấy!
Một lần, ông gọi điện cho tôi với tâm trạng
vui vẻ. Dường như ông muốn chia vui cùng tôi, bảo “Rốt cuộc, thế cũng là được. .. Dẫu chẳng để làm gì, nhưng thế cũng là sự
ghi nhận công sức lao động văn chương cả cuộc đời mình.”. Rồi ông nói về sự
nhầm lẫn người ta tưởng rằng ông đã mất khi công nhần ông là hội viên. Tôi cười
cầu tài, còn ông lại cười rất chi là sảng khoái: “Tớ gần chín mươi rồi... rủa tớ chết à... còn lâu nhớ... Tớ sẽ sống đến
trăm tuổi!...”
Những tưởng thế nhưng rồi Đặng Quang
Tình cũng chỉ hưởng dương thêm vài ba năm nữa. Ông về cõi hạc khi chạm ngưỡng
chín mươi.
ĐỖ CHU
đời văn chia hai nửa
Đỗ Chu là nhà văn sớm thành danh và
ông được hưởng lộc văn chương đến già, tôi nghĩ thế.
Ngay từ khi mới cầm bút viết văn ở độ
tuổi ngoài đôi mươi, Đỗ Chu đã nổi tiếng là cây truyện ngắn có phong vị riêng,
mà thời ấy người ta gọi là chất “lãng mạn
cách mạng”. Các truyện ngắn của Đỗ Chu như Hương cỏ mật, Phù
sa, Ráng đỏ, Mùa cá bột ... ra mắt là được bạn dọc
mê mẩn, yếu mến. Thời ấy, tôi cũng là một trong vô vàn người thích văn Đỗ Chu.
Không những thế, các đồng nghiệp viết văn khác vừa ghen tị vừa ao ước viết được
một truyện ngắn như Đỗ Chu. Viết văn được như vậy thật sướng!
Và có thế nói, trong các nhà văn
đương đại Việt Nam, không một ai có được sự may mắn, suôn sẻ như Đỗ Chu, viết
ra đến đâu được đón nhận và ca ngợi đến đó. Cứ thủng thẳng nhẹ nhàng mà gặt hái
các giải thưởng văn chương (Giải thưởng
Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật). Thử hỏi có mấy
ai? Rồi đến khi cao tuổi, sau khi có đủ các giải thưởng thì ông luôn có chân
thành viên trong các Hội đồng xét giải thưởng này nọ. Oách chứ.
Nhưng... tôi nghĩ, phải từ tập truyện
vừa “Mảnh
vườn xưa hoang vắng” trở về sau, Đỗ Chu mới thật sự chạm đến thân phận
con người; cùng với đó, các tập tản văn và chân dung văn học tiếp sau này là “Tản mạn
trước đèn” và “Thăm thẳm bóng người” góp phần làm
nên một phong cách Đỗ Chu và bồi tụ cho sự nghiệp văn chương của Đỗ Chu dày dặn
thêm. Và dường như sau ngần ấy, Đỗ Chu cảm thấy đủ, hay ngại viết, hay là cạn vốn,
như đèn dầu hỏa ngắn bấc cạn dầu, phải chăng?
Đỗ Chu cũng không viết một cái gì dài
hơi trong suốt đời viết văn của mình. Sở trường của ông là viết ngắn. Tự nhiên,
tôi lại muốn mang ông ra đặt bên cạnh một đồng nghiệp lớp trên đất Kinh Bắc của
ông là nhà văn Kim Lân. Nói đến nhà văn Kim Lân, người ta không thể không nhắc
đến các truyện “Làng”, “Con chó xấu xí”, “Vợ nhặt”.
Chỉ ngần ấy thôi, nhưng tên tuổi nhà văn Kim Lân và các tác phẩm ấy có sức sống
mãnh liệt và dai dẳng, kể từ khi chúng ra đời cho đến tận bây giờ và còn sau nữa...
Với Đỗ Chu, tác phẩm thì dày dặn hơn Kim Lân đấy, song sức sống bền lâu hay
không thì chưa hẳn, còn phải chờ xem sao?...
Tại sao vậy? Đỗ Chu viết có phong vị,
kiểu như Thạch Lam xưa, văn ông cũng giàu chi tiết, có chuyện đấy, và người ta
thấy bóng dáng cuộc đời, đủ để suy ngẫm hay chiêm nghiệm, nhưng là những chuyện
vặt người thường. Phong vị thì có đấy nhưng tư tưởng thì dường chẳng mấy. Đỗ
Chu cũng không tạo ra được những hình mẫu, nhân vật điển hình kiểu như “Xuân tóc đỏ” của Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc của Nam
Cao, Chị Dậu của Ngô Tất Tố, Anh Pha của Nguyễn Công Hoan... hay Anh
Keng của Nguyễn Kiên, Lão Hàm của Nguyễn Khắc Trường,... Vậy người ta nói đến Đỗ
Chu thì lấy cái gì ra để nhớ? Cảm giác chung, Đỗ Chu cứ rỉ rả kể chuyện, đọc
thú vị đấy, nhưng ấn tượng để nhớ lâu thì chưa. Các nhân vật của ông nên hình
hài nhưng không được đẩy đến tận cùng, thành nửa vời? Song le, viết được như Đỗ
Chu thực không dễ chút nào. Có lẽ, ông là người có tài nhặt nhạnh may vá các mảnh
vụn cuộc đời thành tấm áo lành lặn chăng? Là tôi nghĩ vậy. Khó nhỉ.
Đấy là tôi chưa tính các tác phẩm từng
nổi đình đám thời Đỗ Chu mới xuất hiện (Hương cỏ mật, Phù sa, Mùa cá bột, Ráng đỏ...) mà sau
này nghĩ lại, thực ra là các câu chuyện kiểu người tốt việc tốt, hình mẫu chung
chung phổ biến một thời được tác giả tô vẽ bằng phong vị lãng mạn. Giờ đọc lại
chúng thấy nhạt và tầm phào, hay nói một cách hình tượng, hết tuyết như than để
ngoài mưa... Cùng phong vị nhưng không bằng những“Lặng lẽ Sa-pa” và “Trời
xanh mệnh mông” của Nguyễn Thành Long. Sở dĩ ngày ấy, Đỗ Chu được đón
nhận nông nhiệt từ các bậc đàn anh văn chương xứ ta là bởi người cầm bút trẻ thời
ấy chưa ai viết được như thế. Vậy là cũng xứng đáng. Có lẽ nhờ thế mà Đỗ Chu tự
tin lắm. Tôi từng được nghe một vài bậc đàn anh văn chương cùng trang lứa với Đỗ
Chu kể rằng, mỗi khi Đỗ Chu đến trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, đi lại nói năng chẳng
hề rụt rè như thường thấy ở những cây bút trẻ khác mà đầy vẻ chững chạc tự tin,
thậm chí có gì đó hơi khệnh khạng kiểu chàng Dế mèn trong truyện của cụ Tô Hoài. Có lẽ, thái độ đầy tự tin ấy sớm
có ở Đỗ Chu, nó bám lấy và theo ông qua Lớp bồi dưỡng sáng tác Quảng Bá, khi
ông làm Trưởng ban các nhà văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam và mãi đến tận bây
giờ khi thành bậc Trưởng lão làng văn Việt?
Đã có lần tôi liều nói trực tiếp với
Đỗ Chu như thế. Ông im lặng nhìn tôi trân trối, chỉ ầm ừ và nhát gừng nói sang
chuyện khác. Chẳng hiểu ông nghĩ gì. Tôi thây kệ, kiểu bất cần của kẻ chiếu dưới,
đàn anh có mẳng mỏ gì là chuyện thường. Vậỵ mà ông không mắng, nhưng có lần chỉ
đối thoại hai người, ông bảo tôi, kẻ cả “Này, tao bảo… nghề viết là cứ phải tạo được gì đó ấn tượng,
... phải có giọng điệu riêng”. Đúng quá rồi. Tôi vâng dạ, bởi ông dạy đúng,
những điều này thì các bậc đàn anh của ông như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan
Viên đã từng dạy thế. Tôi biết, Đỗ Chu chẳng đọc cái gì của tôi, nên có sách in
tôi cũng không tặng ông. Thế không phải tôi không tôn trọng ông vì tôi hiểu có
tặng thì ông cũng vứt xó hoặc cho ai đó bất kỳ mà ông gặp, bởi hình như ông không đọc ai, chẳng cần phải đọc
ai, một thói quen của người sớm thành danh và được thiên hạ nuông chiều, như
người ta vẫn đồn. Ông chỉ có nhu cầu viết và người ta phải đọc ông mà thôi.
Một thời hâm mộ văn Đỗ Chu nhưng phải
đến khi nhà thơ Trần Đăng Khoa về Tạp chí Văn nghệ quân đôi, tôi hay đến
thăm Khoa ở số 4 Lý Nam Dế mới được gặp
Đỗ Chu ở đấy. Trước đấy, Đỗ Chu xuất bản tập truyện vừa “Mảnh vườn xưa hoang vắng”,
tập có truyện này và truyện ‘Mê lộ”,
tôi đọc thấy thích. Đến khi gặp Đỗ Chu ở phòng Khoa, thấy ông nói chuyện thoải
mái, tôi bèn “vuốt râu hùm” đùa ông: “Em mua đọc và thích tập Mảnh
vườn xuwa hoang của bác lắm. Em đi tán gái, thấy cô này cũng hay đọc sách,
em lấy le, mạn phép bác, tặng cô ấy cuốn sách này của bác, lại còn khoe là được
bác tặng cho. Cố ấy là vợ em bây giờ. Oai như cóc chưa?”. Đỗ Chu cười độ lượng
bảo tôi là có tội với cô ấy, giờ hãy ra hiệu sách mua một cuốn về đây để ông ký
tặng thật, mang về đưa vợ tạ lỗi với cô ấy. Tôi làm đúng thế, về đưa vợ cuốn
sách có chữ ký tươi của Đỗ Chu. Vợ tôi cười bảo, biết tỏng từ lâu, rằng khi ấy
cũng đoán vậy nhưng không bóc mẽ, vờ như không để tôi vui thôi. Chuyện là thế.
Bẵng đi, sau thi thoảng gặp ông ở
quán cà phê. Biết ông ra liền mấy cuốn (“Tản mạn trước đèn”, “Thăm
thẳm bóng người”), tôi đều mua đọc và nhận thấy, một Đỗ Chu sâu lắng
hơn với thân phận con người, trên nền của một Đỗ Chu nhếnh nháng phù sa, màu mỡ
riêu cua ngày xưa. Thế là ông được chứ không mất gì. Có một thời gian dài, mấy
tờ báo Tết, cứ phải xin bằng được bài Đỗ Chu, bất kể thể loại gì, dài hay ngắn. Người ta mua cái tên ông lấy oai lấy
khước hơn là xem ông viết gì viết như thế nào. Cũng lại mừng cho ông,...
Dăn năm trở lại đây, tôi nghỉ hưu ở
Đài (VOV) làm biên tập cho tạp chí Nhà
văn & cuộc sống của Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Trần Đăng Khoa phụ
trách, tôi thường xuyên được tiếp chuyện Đỗ Chu dù ở trụ sở cũ 65 Nguyễn Du hay
khi tạp chí rời về số 9 Nguyễn Đình Chiểu. Ông đến thường xuyên, tháng dăm ba lần,
kề cà chuyện trò, thỉnh thoảng ra quán ăn trưa cùng chúng tôi. Gần ông, biết
thêm nhiều chuyện về làng văn. Ông chuyện nhát ngừng, chuyện nọ dọ chuyện kia,
nguyên chất kẻ cả, nhớ quên lẫn lộn. Người ta bảo và chấp nhận chất kẻ cả của
ông như tất nhiên phải vậy, bởi ông được quyền như thế. Kể cũng hay cái làng
văn xứ mình.
Vì nhà văn Đỗ
Chu hay đến toà soạn nên tôi cũng mượn cớ “gần
chùa gọi Bụt bằng anh” cứ búa xua “bác
bác em am” tràn cung mây. Có lần, tôi mạnh dạn bảo: “Bác ạ, sách của bác thì em chỉ tính từ cuốn Mảnh vườn xưa hoang vắng
trở về sau, bởi từ đây bác mới đụng chạm đến thân phận con người. Còn mấy tập
truyện ngắn đầu nhếnh nháng váng phù sa thì giờ, xin lỗi bác, em cóc đọc lại được...
Đấy là em chưa tính đến mấy cái truyện vừa gì đó của bác về chiến tranh chống Mỹ,
thường lắm...”. Là tôi mượn phép dân gian “gần chùa gọi bụt bằng anh”
thử phản ứng của ông. Đỗ Chu lại nhìn tôi trân trối, chẳng nói gì. Tôi hiểu Đỗ
Chu nghe không lọt nhĩ những điều đó nhưng thây kệ bởi mình nghĩ sao nói vậy,
mình có quyền phản biện các bậc đàn anh chứ. Khi viết văn là quyền của mình,
nhưng khi tung tác phẩm ra thiên hạ là trao quyền phán xét cho người đọc rồi. Rất
có thể, sự im lặng của Đỗ Chu thể hiện chất cao ngạo không thèm chấp vốn có của
ông chăng? Bởi nhiều năm nay, Đỗ Chu chỉ quen việc phán xét người khác, chứ đâu
quen người khác phán xét mình, lại trực diện thế này? Cái nhìn trân trối phải chăng hàm ý, nhà
ngươi biết được bao nhiêu mà dám phán xét ta? Hãy cứ viết đi đã xem mình hay dở
thế nào rồi sẽ phán xét người khác… Biết là liều đấy, nhưng tôi cứ xem như về
văn chương, có thể mình chỉ “cu li nhọ đít” trong mắt ông thì có liều chê
thêm lần nữa cũng chẳng sao,... Cứ như đá bóng vậy, chơi cửa dưới bao giờ cũng
dễ chơi hơn.
Một lần, mãi quá trưa ông mới ra về.
Tôi tiễn ông ra cửa, gọi thang máy cho ông. Nhưng rồi ông không đi, quay lại, gọi
tôi lại gần níu vai bảo: “Mày ạ, tao bảo nhé…văn chương người ta… không cần
phải viết nhiều, ít thôi, nhưng phải có dấu ấn của riêng mình…”. Câu này
thì ông đã dạy tôi đôi lần rồi. Có thể ông quên. Có thể như một thói quen. Và
chắc hẳn, ông cũng mang ra dạy nhiều cây bút khác nữa chứ đâu mình tội. Ông ngẩn
ngơ từ ban công tầng 5 nhìn xuống cổng Hội Nhà văn, lát sau rồi mới chịu ra về.
Ông vẫn đúng, tôi nghĩ, song có điều, ông dạy tôi mà cũng là tự nhủ và trấn an
lòng mình chăng? Ở vào cái tuổi U90 cũng có thể ngoái lại nhìn toàn bộ đời văn
của mình lắm chứ?!...
Giờ khi cao tuổi,
Đỗ Chu có vẻ hiền khô, không chấp những kẻ văn chương chiếu dưới nhưng thực ra ẩn
trong những câu nói rời rạc tưởng chẳng ra đâu vào đâu ấy vẫn nguyên vẻ cao ngạo
cũ. Nhà văn Tô Hoàng kể, ngày trẻ, Đỗ Chu đáo dể lắm. Rằng đã có lần, khi ông
còn là học viên Lớp Bồi dưỡng viết văn Quảng Bá, khi luận về “chất thép”,
về tính Mác-xít trong văn học, Đỗ Chu chộ cho nhà văn Vũ Sắc, cán bộ tuyên huấn
giảng dạy một phen “kinh hồn tang đởm”. Và cứ chiểu theo chuyện ấy thì
có vẻ Đỗ Chu đã sớm ngộ ra đường hướng của nghề viết để mà ông không bị sa lầy
vào những định kiến cố hữu thủ cựu chăng, để ông đắm mình vào các thân phận người
của nửa sau đời văn ?,…
Lâu rồi không
thấy Đỗ Chu lai vãng đên Hội nên cũng chẳng thế ghé qua Tạp chí chúng tôi uống
trà chuyện vãn. Người ta bảo ông đã lẫn, đi ra ngoài là quên đường về nên người
nhà không để ông đi lại tự do như trước đây nữa.
Vắng bóng ông,
tôi lại hay nghĩ về dấu ấn văn chương ông!...
Nghe đâu,
trong một lần xuất hiện trên mạng xã hội, nhà văn Đỗ Chu “đe” rằng, trước khi về
cõi hạc, thế nào ông cũng có một cái gì đấy tầm cỡ “kinh thiên động đia”. Mong
là ông sẽ cho ra một tác phẩm để đời như lời ông đã hứa !?...
KIM LÂN
bóng dáng cuộc đời
Tôi đặc biệt chú ý đến một chi tiết
trong bài viết của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh về nhà
thơ Tố Hữu. Ấy là vị giáo sư này kể về “cái sự hách” củaTố Hữu khi nhắc
nhở nhà văn Kim Lân ít viết, đúng ra là không chịu viết (Tố Hữu bảo Kim Lân
“Dạo này viết ít quá đấy”, Kim Lân chống chế “Bác lại phê bình em rồi”,
sau này Kim Lân còn kể “Có vậy thôi, nghĩ mà sợ quá”…). Việc này, nếu
chính xác thì tôi nghĩ, ở đây có mấy vấn đề: thứ nhất, Tố Hữu hách quá, dĩ
nhiên, vị trí, vai trò, tính cách cho ông cái quyền ấy; thứ hai, Kim Lân, nói
là buột miệng, nhưng ông nhà văn này thật sự khôn khéo và nhanh trí ma lanh,
nói toạc ra cái hàm ý nhắc nhở phê phán của bề trên một cách nôm na đầy thân
tình như anh em trong nhà với nhau; thứ ba, tiếng là sợ nhưng thực ra ông nhà
văn này không mấy sợ, bởi những gì mình đã viết (Vợ nhặt, Làng…) đều được
cả cấp trên và bạn đọc khen ngợi, mà mình cũng sai quấy gì đâu, còn như ít viết
thì chưa phải là tội tình gì cả, chẳng qua chưa viết đó thôi, mọi sự vẫn đang
là sự chờ đợi kia mà; thứ nữa, ông nhà văn diễn giỏi cực, nên nhớ thời trai trẻ
Kim Lân từng diễn tuồng (bút danh Kim Lân là ông lấy theo tên một
nhân vật trong tích tuồng cổ Sơn Hậu mà ông yêu thích hoặc từng diễn, Đổng
Kim Lân, và cái tài diễn của ông còn được thể hiện ở vai Lão Hạc phim “Làng
Vũ Đại ngày ấy”, vai Lý cựu phim “Chị Dậu”). Quả vậy, Kim Lân đã
thoát ra khỏi cái bóng khổng lồ của nhà thơ Tố Hữu một cách tài tình.
Nói lại hi tiết này, thực tình tôi đặt
một nét bút mạo muộn và hơi liều với ý định phác thảo nhà văn Kim Lân theo những
gì tôi nghĩ về ông.
Tôi chưa có cái may được hầu chuyện
Kim Lân mà chỉ đôi lần diện kiến ông theo dạng “kính nhi viễn chi”, nhìn
từ xa mà kính. Nhà ông ở trong ngõ Hạ Hồi, Hà Nội, cơ quan tôi, Đài Tiếng nói
Việt Nam thì chiếm cả dãy phố Bà Triệu kéo dài từ số nhà 37 đến 45 cách ngõ Hạ
Hồi chút ít. Thế nên tôi mới tình cờ chạm mặt ông khi bát phố. Lần đầu, ông đi
dạo loanh quanh ngay đầu ngõ nhà mình, khi ngang qua chợt nhận ra Kim Lân, ông
đang nói chuyện với ai đó, tôi có chút ngỡ ngàng, muốn nhìn lâu nhưng ngại nên
cách xa một đoạn tôi dừng lại quan sát. Ông nói chuyện đấy nhưng mắt vẫn quanh
quất nhìn phố và hình như cái nhìn của ông chạm ánh mắt ngưỡng mộ của tôi khiến
tôi ngại mà rời đi. Lần sau, tôi vừa băng qua đường đoạn ngã tư phố Bà Triệu-Trần
Hưng Đạo, chạm ngay ông gần cổng cơ quan trung ương Đoàn thanh niên, tôi lúng
búng chào không thành tiếng. Ông mặc bộ đồ ta nâu chậm rãi bách bộ một mình.
Tôi lưỡng lự định dừng lại bắt chuyện nhưng cảm giác như ông không tương tác gì
với mình nên thôi. Kim Lân không biết tôi là ai, dĩ nhiên thế, và rất có thể
ông xem như bao nhiêu người khác, tình cờ gặp ông, nhận ra ông, nhìn ông ngưỡng
mộ, lại có gì đấy lạ lẫm mà gần gụi?...
Ngưỡng mộ, lạ lẫm nhưng thân quen gần
ũi, là tâm trạng của tôi khi ấy. Chẳng hiểu sao, cả hai lần tình cờ chạm mặt
ông tôi đều muốn tiếp cận, làm quen nhưng rồi ngần ngại lại thôi? Phải chăng,
Kim Lân không phải là người quảng giao, kiểu đi đây đó, xuất hiện chỗ đông người,
ai cũng biết như Tô Hoài, Hoàng Cầm… hay những nhà văn nhà thơ đàn em như Phạm
Tiến Duật, Đỗ Chu, Vũ Quần Phương… thêm nữa, ông viết ít, không tập sách này bộ
sách ra mắt gây xôn xao văn đàn, ấy là sự lạ lẫm? Còn cảm giác thân quen gần gũi
với giới cầm bút và bạn đọc nói chung, ấy là các tác phẩm của Kim Lân (Làng,
Con chó xấu xí, Vợ nhặt…) được đưa vào sách giáo khoa, chương trình giảng dạy,
đề thi các loại, được các nhà nghiên cứu phân tích mổ xẻ, các nghiên cứu sinh
làm đề tài thạc sĩ, tiến sĩ này nọ từ nhiều năm nay cho đến bây giờ và sau nữa.
Sự ngưỡng mộ ư, con người khép kín và có gì đó bí hiểm Kim Lân (mấy người biết
tên thật của ông là Nguyễn Văn Tài) lại xuất hiện trước công chúng dưới
hình thức tài tử xi-nê, vai lão Hạc (phim Làng Vũ đại ngày ấy) và
vai Lý cựu (phim Chị Dậu). Xem phim, khán giả tò mò xem ông diễn là
chính, hơn là xem nhân vật, ở đấy người ta còn bắt gặp con người và cảnh sắc
nông thônViệt Nam thân quen gần gũi từng tồn tại bao đời nay… Kim Lân, với ngần
ấy, thử hỏi sao không ngưỡng mộ được. Chưa hết, ông còn là thân sinh của các hoạ
sĩ tài danh nổi như cồn là Thành Chương, Nguyễn Thị Hiền,…
Nói đi là thế để nói lại, một việc đã
qua. Ấy là đợt xét tặng giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về lĩnh
vực văn học nghệ thuật gần nhất, Kim Lân trượt giải thưởng Hồ Chí Minh, vì lý
do, các tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu của Kim Lân đã được sử dụng để xét tặng
giải thưởng Nhà nước cho ông thời gian trước rồi, trong khi ông không có tác phẩm
mới nào sau đó cộng thêm cho nặng ký đặng xét trao giải thưởng Hồ Chí Minh lần
này. Nói vậy không sai song cũng chưa hẳn đúng. Nếu đem đối chiếu với quy định
tiêu chí xét giải hiện hành thì là vậy, nhưng điều đáng bàn trong trường hợp cụ
thể là Kim Lân, với các tác phẩm xuất sắc đã có của mình (từng sử dụng làm
căn cứ khi xét tặng giải thưởng Nhà nước cho ông trước đó) vẫn có sức sống
mãnh liệt, hiện tại vẫn đang được đưa vào các bộ sách giáo khoa, được giảng dạy,
được trích dẫn sử dụng làm đề thi tốt nghiệp, thi tuyển đại học, thi học sinh
giỏi… Trong khi, có nhà văn, được trao giải thưởng Hồ Chí Minh đợt này, đành rằng
xứng đáng, nhưng cả tác phẩm (sử dụng
xét trao giải thưởng Nhà nước) cùng các tác phẩm cộng thêm để xét giải thưởng
Hồ Chí Minh đợt này nếu đem đặt cạnh các tác phẩm của Kim Lân thì không khó để
nhận thấy non hơn về độ sâu sắc nội dung và nghệ thuật biểu đạt cùng sức bền
theo thời gian. Dĩ nhiên, mọi sự so sánh đều là tương đối. Vấn đề, tại sao các
cấp Hội đồng xét duyệt không vận dụng linh hoạt các tiêu chí cố định với thực tế
cuộc sống, khi mà nhà văn Kim Lân hoàn toàn xứng đáng nhận giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học nghệ thuật. Đành rằng, số lương tác phẩm nhiều hay ít cũng là một
tiêu chí để xét giải nhưng tôi nghĩ nó không mấy quan trọng khi đem so với tiêu
chí về sức sống của tác phẩm. Thực tế cho thấy, ngay trong văn học hiện đại ở
ta có một số trường hợp đặc biệt về sức sống lâu bền của tác phẩm, vi như nhà
thơ Vũ Đình Liên với bài thơ “Ông Đồ” của mình hay như nhà thơ Chính Hữu
với tập thơ “Đầu súng trăng treo”. Với nhà thơ Vũ Đình Liên, hẳn
ông có nhiều thơ và ngay như đề tài ông đồ nghe đâu ông cũng có vài ba bài,
song chỉ duy nhất một bài đứng được mà
còn mãi cùng thời gian; Còn nhà thơ Chính Hữu, mỗi tập thơ mỏng vỏn vẻn vài chục
bài nhưng hầu hết các bài trong tập thơ ấy đều đứng được và nhiều bài hay. Thế
nên, tiêu chí chỉ là cái khung chung khoanh lại để bình xét chứ không phải là một
cái khuôn cứng nhắc đặng cho sản phẩm vào không khớp thì bỏ ra,…
Đặt vấn đề này, tôi muốn so sánh,
đúng ra là dẫn một trường hợp khác, bởi mọi sự so sánh chỉ là tương đối, khi Hội đồng xét tặng biết vận dụng một cách
linh hoạt các quy định cứng về tiêu chí và thực tế đời sống để xét tặng danh hiệu
nghệ sĩ nhân dân (NSND) cho nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết. Tôi nhớ, thời điểm
đó, tôi làm công tác tổ chức cán bộ ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) nên đơn vị
tôi chịu trách nhiệm đứng ra tổ chức cho Hội đồng cấp cơ sở bình xét, bỏ phiếu
đề nghị công nhận danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (NSUT) và Nghệ sĩ nhân dân cho các
nghệ sĩ từng công tác ở VOV, trong đó có nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết. Căn cứ
theo quy định hiện hành của ngành văn hoá thì có tiêu chí nghệ sĩ phải đoạt được
số lượng huy chương vàng, bạc gì đó ở các hội diễn hay liên hoan nghệ thuật
ngành nghề v.v… Nếu rập khuôn vậy thì nghệ sĩ Trần Thị Tuyết không đủ tiêu chuẩn,
bởi ở vào thời kỳ hoạt động nghệ thuật của bà, lấy đâu ra các loại huy chương
như thế, trong khi, nói đến nghệ thuật ngâm thơ thì ai cũng biết nghệ sĩ Trần
Thị Tuyết là số một ở nước ta suốt một thời gian dài. May mắn thay, phần lớn
các thành viên của Hội đồng bình xét đều thống nhất cho rằng, nghệ thuật ngâm
thơ tuyệt đỉnh của nghệ sĩ Trần Thị Tuyết được công nhận và ghi nhớ, hay nói
cách khác là sống trong lòng khán thính giả cả nước cùng kiều bào ở nước ngoài.
Hội đồng cấp cơ sở đã thống nhất ý kiến này để dề nghị lên Hội đồng cấp trên. Lại
may nữa, Hội đồng bình xét cao nhất đã chấp nhận sự vận dụng linh hoạt của Hội
đồng cấp cơ sở, quyết định công nhận danh hiệu NSND cho nghệ sĩ ngâm thơ Trần
Thị Tuyết.
Lại nữa, điều tôi dẫn ra đây là muốn
nhấn mạnh, việc bình xét danh hiệu này nọ hay tặng giải thưởng nọ kia, khi tiêu
chí bình xét vừa mang cả yếu tố định tính và định lượng, thì khi thực hiên,
chúng ta cần sự linh hoạt trong vận dụng các tiêu chí có sẵn trong những trường
hợp cụ thể, bởi các tiêu chí ấy chưa hẳn là chuẩn mực chính xác, chưa phải là sự
toàn bích, đấy là chưa nói đến chúng luôn tỏ ra lạc hậu với thực tiễn cuộc sống.
Thực lòng, tôi muốn giải mã hiện tượng
Kim Lân ở góc độ sức viết, dúng ra là đi tìm câu trả lời tại sao Kim Lân ít viết.
Một cây bút sớm thành danh như ông, lại trải qua một quãng thời gian dài đất nước
vừa xậy dựng vừa chiến tranh, thực tiễn cuộc sống ngồn ngồn như thế, chẳng lẽ,
ông không động lòng sao? Phải vì điều gì chứ? … Thực khó lắm thay. Chỉ ông hiểu
lòng ông thôi.
Trở lại chuyện về nhà văn Kim Lân. Với
riêng tôi, ông cứ thấp thoáng đâu đó mà lại hiển hiện trước mắt, ông lạ lẫm và
kỳ bí đấy nhưng lại hết sức thân thuộc gần gụi, ông ẩn hiện, tỏ mờ như bóng
dáng cuộc đời vậy,…
Năm 2020, Hội Nhà văn Việt Nam cùng
gia đình ông tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Kim Lân tại trụ sở của Hội
ở số 9 phố Nguyễn Đình Chiểu. Các tham luận hé mở thêm nhiều góc cạnh, chi tiết
cuộc đời và văn chương của ông. Thú vị đấy, nhưng với tôi (và có thể nhiều
người khác nữa), độc đáo và thú vị nhất là hàng trăm bức ảnh chân dung Kim
Lân, với người thân, với bạn văn, bạn bè
ở nhiều góc độ, thời điểm, của nghệ sĩ nhiếp ảnh tài ba Nguyễn Đình Toán trưng
bày, cho thấy một Kim Lân đa chiều, độc đáo đấy mà hết sức bình dị ở mọi phương
diện cuộc đời,…
Tôi tin, không bao lâu nữa, Kim Lân sẽ
được Nhà nước ta truy tặng giải thưởng cao nhất về văn học nghệ thuật với những
gì ông đã cống hiến cho văn học nước nhà. Nếu được vậy thì thật quý, song hơn hết
là hình bóng ông cùng các tác phẩm giá trị mà ông để lại sẽ còn mãi với cuộc đời
này !...
LÊ ĐÌNH CÁNH
tủm tỉm người và thơ
Một chỗ trong chiếu thơ Lục bát
Ấy là cái chiếu thơ lục bát Việt Nam thời nay, mà tôi xin
được trải ra, để mời mấy nhà thơ vào ngồi, mỗi người một góc, mà ở đó có nhà
thơ Lê Đình Cánh.
Trong bài viết Chính danh gọi Tễu, hay chân dung nhà thơ Phạm Công Trứ, tôi đã mạo
muội, từ nhận định mang tính cá nhân, xin trải ra cái chiếu thơ lục bát hiện
tại xứ ta và mời bốn nhà thơ vào ngồi, ấy là: Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn.
Nếu định danh vậy, có nghĩa là, với Lê
Đình Cánh, chí ít, phải thành danh với Thơ,
mà cụ thể lại là Thơ lục bát.
Nói vậy, cũng đồng nghĩa với việc,
trong giới văn chương Việt Nam hiện đại, người ta biết đến tư cách nhà thơ của
Lê Đình Cánh, mặc dù, theo liệt kê, đến nay, trong tổng số 11 tác phẩm in
riêng, thì có 4 tập thơ, mà có tới 7 tập bút ký văn học; và tập thơ đầu tay Đất
lành do NXB Thanh Niên ấn
hành năm 1986, lại ra sau tập bút ký văn học Vùng đất sẽ có tên (NXB Thanh Hóa, năm 1985).
Với riêng tôi, biết đến tên tuổi nhà
thơ Lê Đình Cánh, ấy là khi ông được giải thưởng cao cuộc thi thơ của Báo Văn
Nghệ (năm 1976) với 2 bài thơ “Mẹ ra Hà Nội“ và “Trên cao nguyên Tà Phình”. Câu thơ “Lên thang chẳng dám bước dài/ Vào khu tập thể gặp ai cũng chào“
(bài Mẹ ra Hà Nội) và câu “Nắng lành như mắt cừu non/ Long lanh sương
sớm như còn ngậm trăng“ (bài Trên cao
nguyên Tả Phình), ấy là những câu thơ hay, mà sau này, mỗi khi nói đến Lê
Đình Cánh và thơ của ông, người ta đều nhớ... Thậm chí, trong vài cuộc trà dư
tửu hậu, cao hứng văn thơ, có ai đó đã đưa ra nhận định, rằng đấy là những bài
thơ, câu thơ đã đóng đinh nhà thơ Lê Đình Cánh vào nền thi ca Việt Nam hiện
đại...
Theo tôi, một khi xếp nhà thơ Lê Đình
Cánh ngồi vào một góc chiếu thơ lục bát hiện tại xứ ta, thì có nghĩa, thơ thể
lục bát của ông phải nhiều, phải nhuần nhuyễn, tài tình, chứ đâu riêng chỉ vài
ba bài thơ, câu thơ ấy. Để đóng đinh được Lê Đình Cánh gắn chặt vào nền thi ca
Việt Nam hiện đại, phải cần nhiều “đinh”
hơn thế. Chẳng qua, mấy bài thơ, câu thơ nọ, là dấu ấn đầu tiên khiến người ta
bắt đầu nhận diện ra riêng một Lê Đình Cánh, trong số rất nhiều nhà thơ và
người làm thơ ở xứ ta mà thôi.
Vậy, cùng với “Mẹ ra Hà Nội“ và “Trên cao
nguyên Tà Phình”, Lê Đình Cánh còn có những gì? Chắc chắn, ông còn có nhiều
bài thơ khác, đặc biệt là thơ lục bát hay. Thực ra, nói rằng ông có một chỗ
trong cái chiếu thơ lục bát thời nay, chỉ là một cách nói vui hình tượng, chứ
lâu nay, Lê Đình Cánh đã thành danh với thơ lục bát. Người ta viết về ông với
thể thơ này rất nhiều, những đánh giá, nhận định thế nọ, rồi trích dẫn thế kia,
tất cả đều nhằm minh chứng một điều, ông đã thành công, đắc địa với thơ lục
bát...
Mặc dù không muốn nhắc lại bài này bài
nọ, trích dẫn những câu thơ lục bát hay của ông mà nhiều người khác đã nhắc,
song cũng không thể không làm cái việc ấy. Thôi thì, tôi xin nhặt nhạnh theo
cái nhìn của mình vậy. Ngay như, trong bài thơ “Mẹ ra Hà Nội’, cùng với câu thơ mọi người đã nói, còn có các câu
thơ khác hay không kém, như : “Khoác vai
mẹ chiếc đãy nghèo/ Năm xưa thắt lại bao điều dắng cay” và “Sào tre đêm gõ nhịp gày/ Ba khoang đò dọc
chở đầy ước mong”.
Tựu chung, có thể thấy, thơ ông luôn cấu tứ chặt chẽ, lập ý
rõ ràng
Về tính chất, đầy sự hóm hỉnh, dí dỏm, cái tưng tửng, têu
tếu, ít nhiều lạc quan, ở đây là sự lạc quan có trách nhiệm, kể cả những bài
thơ gam buồn; không có cái buồn da diết, bi lụy.
Về hình thái, lục bát nhuyễn, cả ngôn từ và nhịp điệu, câu
chữ chắt lọc, tinh tế, linh hoạt, hoán đổi ...
Vậy là, khi mang những nhận định trên
mà áp vào thơ ca nói chung, nhất là thơ lục bát của Lê Đình Cánh, sẽ thấy ông
có khá nhiều bài thơ, câu thơ hay. Theo tôi, cùng với những bài thơ hay, từng
được giải, làm nên tên tuổi Lê Đình Cánh như: Mẹ ra Hà Nội, Trên cao nguyên Tà Phình, Một mình anh đi, Trăng nở nụ
cười,... còn có những bài thơ hay khác như: Quán Sứ bên này, Đền thờ hạt lúa, Em đi, Ai mua chổi rơm, Lời thề cỏ
xanh, Chợ Mơ, Gọi đò, Chùa Bà Đanh, Ga
Vinh, Về hưu, Tiểu sành, Sông Cầu chày, Sương sa trắng đầu, Đêm sông
Chùy, Cõi xưa, Bến quê, Trở lại Ba Lòng,
Rượu tăm, Một nửa, Nỗi oan Thị Màu, v.v...
Cũng theo đó, người ta có thể tìm thấy
rất nhiều những khổ thơ, những câu lục bát hay rải rác đâu đó ở các bài thơ,
dọc quá trình sáng tạo thi ca của Lê Đình Cánh.
Xin được viện dẫn, như :”Mải lo cơm đủ áo lành/ Còn
đâu lúc rỗi để thành vọng phu” (Gió đất); “Ở rừng từng hát ru nhau/ Lá tràu chị héo, quả cau em già” (Em đi);
“Tình yêu như thể chơi đề/ Đợi con độc
đắc lại về trắng tay...”. “... Đố ai hết nợ đàn bà/ Để tôi cắt tóc bỏ nhà đi tu “ (Chợ
tình); |”Chốn quê vẹo cột vênh kèo/ Ốc cam phận ốc lại đèo kiếp rêu” (Chợ
người); “Xế tà tháp lặn vào mây/ Vầng trăng chính sử hao gày hoàng hôn”
(Lời xưa); “Sau già là cõi xa xăm/ Nén hương đỏ lửa mỗi năm đôi lần.” (Hỏi
đất); “Giếng làng mưa bão vẫn trong/ Chợ quê rớt già vẫn đong đếm đầy” (Thú
quê); “Đao đình cong nỗi phế hung/ Một thời lá rụng dửng dưng sân chùa”
(Phận rùa); “Tuổi già như thể nắng hanh/
Vừa long lanh sớm. Đã mong manh chiều”
(Về hưu); “Ơi người áo mũ cân đai/ Nắm xương có xếp vào hai tiểu sành”
(Tiểu sành); “Nắm tay củ ấu vẫn tròn/
Người ơi vẫn ngọt bồ hòn trên môi”
(Chợ Mơ); “Giả vờ có ngủ được đâu/ Nằm
chong chong mắt lâu lâu lại ngồi” (Ngủ nhờ); “Ngày xưa xe lộn về Bần/ Mấy
phen tuột xích quãng gần Khoái Châu” (Về Phố Hiến); “Nẻo đường bồ bịch cong cong/ Vừa
lo thoát khỏi. Vừa mong nhảy vào...” (Nẻo đường cong cong); “Bắt chồng em có chọn anh/ Như kim chọn chỉ vá lành áo nâu/ Như là đồng đất chọn trâu/ Nương cao cũng kéo ruộng sâu cũng cày/ Chọn anh như cối chọn chày/ Canh khuya giã sắn rạng ngày đâm ngô”
(Bắt chồng); “Thân cò trở lại nghề nông/
Rời cây súng biết tay không có gì/ Mấy đồng hưu trí thấm chi/ Cảnh nhà vơi bát lắm khi mụ người” (Anh
lại đi cày); “Nứa mai thưng hở vách lều/
Rừng khô xao xác nai kêu lẻ bầy/ Mưa bay như thể sương dầy/ Sàn khuya thương ngọn nến gày lắt lay”
(Gặp ở Mường Tè)...
Vẫn còn khá nhiều những câu thơ, khổ thơ lục bát hay như
thế. Và nếu chỉ nghĩ, nhà thơ Lê Đình Cánh có riêng “chiếc đũa thần“
mặc sức điều khiển thơ lục bát tài tình như vậy, thì không hẳn. Ở những bài thơ
không phải lục bát, bắt gặp đó đây những bài thơ, câu thơ hay không kém. Vẫn
chất suy tư thế sự, vẻ hóm hỉnh, tinh quái, ý thức trách nhiệm với đời, khiến
người ta phải suy nghĩ, day dứt...
Chẳng hạn, như: “Thế
cờ nghiêng về đâu/ Pháo mã thành vô
dụng/ Sĩ tượng thành thất sủng/ Tốt đen cười sang sông (Nắng Hàm Tân); “Ai biết được ma nào ăn cỗ/ Ai dại gì công bố chuyện đi đêm” (Vợ
Ba); “Gặp bạn tình lòng đã thấy no/ Rượu chưa nhắp lời đà có lửa/ Trưa đứng nắng bồn chồn vó ngựa/ Chợ lim rim một nửa sang chiều.” (Chợ
Bắc Hà); “Đường một chiều cứ thế tôi đi/
Tôi biết dại làm người nhụt chí/ Cái đáng vứt lại cất làm của quý/ Cái phải chôn đi lại để trưng bày”
(Đường Bà Triệu); “Đâu đá lát lên đền Tam
Tổng/ Lạnh khói hương thông thốc giữa
trời/ Hai hộ pháp vẫn muôn đời gác
cổng/ Ông Ác cười! Ông Thiện toát mồ
hôi.../ ... Tôi trở về tuổi trẻ chẳng
về theo/ Thời gian như nước ngầm băng
hoại/ Trái tim tôi càng sống càng
nghèo” (Quê ngoại); “Mùa khô Đồng Văn
trở gió/ Gió khê lời đá thở dài/ Gió như tiền vào nhà khó/ Một đời gió thổi trần ai” (Mùa khô Đồng
Văn) v.v..
Khi bắt đầu sang thời đổi mới, nhiều giá trị phong tục, tập
quán cũ dần mai một, mất đi, còn những giá trị mới hoặc chưa hình thành, hoặc
đã manh nha song còn chưa được khẳng định, xã hội sinh nhiều chuyện nhiễu
nhương, Lê Đình Cánh đã không bỏ qua. Vẫn bằng thể thơ lục bát từng khiến ông
thành danh ngày nào, giờ ông lại dùng “chiếc
đũa thần” của mình, khoắng một hồi, ra nhiều bài thơ hay về chủ đề mới này.
Có thể kể tên các bài thơ sau đây: Toa
máy lạnh, Hát Karaoke, Hồ Tây, Vàng xám, Qua cầu Long Biên,
Phố Làng v.v...:
Ví như: “Đèn mờ nửa
đỏ nửa xanh/ Để em đỡ trẻ. Để anh đỡ
già (Hát Karaoke); “Phố làng xóa sổ
nông dân/ Quán quê lai ghép công nhân
nửa mùa/ Lượn lờ chào bán gọi mua/
Dật dờ chai cốc được thua với đề”
(Phố Làng); “Mảnh bằng bán tận châu Phi/
Tiền lương đếm lại nhiều khi mủi long/
Ước mơ xé lẻ từng đồng/ Thương con liệt sĩ lấy chồng thương binh,/
Vết thương như kẻ vô tình/ Tấy lên những lúc gia đình ăn vay.”
(Vàng xám) v.v...
Dù thời trước hay thời nay, dù mảng đề tài nào, thể thơ
nào, thơ Lê Đình Cánh vẫn nguyên giá trị, những gì đã làm nên thơ ông, thành
danh cùng với ông, theo cách nghĩ của tôi. Quan trọng là, ông đã có ít nhiều
đóng góp cho sự phát triển của nền thi ca Việt Nam hiện đại, nhất là thể thơ
lục bát cổ truyền, riêng có của xứ ta !...
Hơn thế nữa, Lê Đình Cánh đâu chỉ có thơ...
Nhà thơ, khỏe viết văn xuôi.
Lê Đình Cánh được bạn đọc cả nước biết đến qua Thơ, đặc
biệt Thơ lục bát; bản thân ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với tư cánh nhà
thơ; còn công việc cơ quan, ông có nhiều năm là Trưởng phòng, Phòng Văn học
Thiếu nhi của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), song thể loại sung sức nhất của ông
lại là bút ký-ký sự-tản văn. Bằng
chứng, kể từ tập văn xuôi đầu tiên, Vùng đất sẽ có tên được NXB Thanh Hóa ấn hành năm 1985, cho đến
nay, tập văn xuôi mới nhất, Miền chầu văn do NXB Hội Nhà văn xuất bản cuối năm 2015,
con số đã là 7.
Không rõ, Lê Đình Cánh đã từng có ý định viết dài, như tiểu
thuyết, hay hồi ký hay chưa, song với văn xuôi ngắn, ông đẻ sòn sòn, cứ vài ba
năm một tập? Mặc dù, làm việc ở một đơn vị chuyên về văn học nghệ thuật, nhưng
lại thuộc cơ quan báo chí lớn của quốc gia, nên tự thân Lê Đình Cánh, với tư
cánh là một người cầm bút, thì dù đi viết bài như một phóng viên, ở nhà làm
biên tập viên, và cả khi chịu trách nhiệm xuất bản trong tư cách người quản lý (ở đây là chữ ký phát sóng), thì ông
luôn ý thức về tính thời sự vốn có của báo chí. Có lẽ vậy, để đáp ứng các yêu
cầu này, ông đã lựa chọn cách viết ngắn? Và như thế, cùng với Thơ, loại hình
văn học đã ám vào con người ông để thành nghiệp, ông sáng tác bút ký, ký sự văn
học và tản văn. Mà viết khỏe, lại đa dạng...
Mạo muội, tôi lần theo các trang văn xuôi của ông. Dù chỉ
có trong tay 3 tập: Đường xuân (NXB Quân đội
nhân dân, 2003), Nắng Nghi Sơn (NXB QĐND, 2013) và Miền chầu văn (NXB Hội Nhà văn, 2015), và khi đọc, cái kỹ, cái lướt, song tôi
nghĩ, chí ít cũng có thể khái quát để nhận diện một văn xuôi Lê Đình Cánh.
Thực ra, trong nhiều năm qua, Lê Đình Cánh viết bút ký, ký
sự, tản văn rải rác, đều tay, cả khi ông còn làm việc hay khi đã nghỉ hưu. Đa
phần, các tác phẩm văn xuôi của ông đều được đọc, phát sóng trên các Chương trình phát thanh Văn nghệ của Đài
Tiếng nói Việt Nam, hoặc trước hoặc sau, các tác phẩm này được đăng trên Báo Văn nghệ, các báo và tạp chí văn học
khác ở trung ương và địa phương. Vậy nên, cơ bản là tôi đã đọc, nghe các tác
phẩm văn xuôi của Lê Đình Cánh. Sở dĩ, hầu hết các tác phẩm văn xuôi của ông
được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tờ báo và tạp chí
chuyên ngành, trước hết, là do chất lượng và tính thời sự của chúng; thêm nữa,
uy tín của chính tác giả cũng góp phần vào. Mấy chục năm qua, phải chăng, không
riêng gì tôi, nhiều bạn yêu văn học nghệ thuật, cũng có thể nhận ra, cùng với lục bát thơ Lê Đình Cánh, còn có bút ký Lê Đình Cánh? Vậy nên, ông đã ít
nhiều thành công ở lĩnh vực văn xuôi thể loại này!...
Theo đó, tôi thử định dạng văn xuôi Lê Đình Cánh.
Thứ nhất, chiếm phần lớn
trong các tập văn xuôi của ông, ấy là bút ký, ký sự từ những chuyến đi. Lại
nói, những chuyến đi của Lê Đình Cánh. Thường là, phóng viên nhà Đài, đi công
tác theo sự phân công của cơ quan, hoặc theo lời mời của các cơ quan, ban
ngành, tổ chức, đơn vị nào đó, hoặc phối hợp từng nhóm phóng viên từ các cơ
quan báo khác nhau, hoặc đi ngẫu hứng theo ý thích, ý đồ riêng. Với Lê Đình
Cánh, ông từng đi theo tất cả cách thức
vậy, nhưng phần lớn là theo lời mời trân trọng từ phía các cơ quan, đơn vị bên
ngoài, bởi uy tín riêng ông có. Nếu là phóng viên thời sự, hay chuyên đề khác,
sau chuyến đi, sản phẩm sẽ là tin, là phóng sự thu thanh, là phỏng vấn, còn
ông, là bút ký, ký sự. Và một khi đã vậy, gì thì gì, khó tránh khỏi sự minh họa
chiều lòng nhau trong quan hệ chủ-khách. Lê Đình Cánh không phải là ngoại lệ,
tuy nhiên, ông luôn biết cách, mà theo lối nói chữ là “phản chủ vi khách“, ấy là biến
chủ thành khách, còn mình từ khách thành chủ, ở đây, nên hiểu là sự chủ
động trong thông tin, viết bài theo ý mình, tránh sự nể nang, lệ thuộc vào chủ
nhà, không mô tả cứng nhắc như báo cáo, không nói một chiều ... Đọc một loạt
các bài viết kiểu này, thấy được, Lê Đình Cánh đã khá khôn khéo, biết thoát
khỏi tính báo chí thông thường để gia tăng hàm lượng văn chương cho bài biết, hay nói cách khác, là ông biết đã mềm hóa bài viết bằng những thông tin
bên lề, từ sự lao động quá khứ, từ kiến thức của mình về thiên nhiên, địa lý và
lịch sử phát triển của vùng đất... làm phong phú cho bài viết... Ấy, cũng là sự
khác biệt của ông với nhiều cây bút chuyên ký sự khác cùng thời...
Thứ hai, Lê Đình Cánh hay
chọn cách thể hiện quan điểm, kiến thức, kiến văn của mình thông qua các tản
văn, tạp bút, luận bàn mang tính khảo cứu, nhân một sự kiện hay hiện tượng nào
đó, nhân dư luận xã hội này nọ, hoặc nhân câu chuyện đời sống xảy ra thường ngày...
Ta có thể kể tên một số bài viết dạng này, khá thành công, như: Hoa sen, Miền chầu văn, Vầng trăng Lũng
Nhai, Thị xã núi Thúy sông Vân, Ngàn Nưa, Nắng gió Kênh Than, Vài cách đến, Có
một thể thơ , v.v...
Ở dạng này, Lê Đình Cánh cho thấy kiến thức uyên thâm của
mình trong nhiều lĩnh vực, bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội; lập luận vấn đề
logic và khá linh hoạt. Thật khó khi muốn tranh luận hoặc bắt bẻ ông điều gì
đó. Thêm nữa, ngôn từ rất hoạt, cùng sự hóm hỉnh, dí dỏm trong cách chọn chi
tiết, trong hội thoại, trong vận dụng vốn dân gian như ca dao, tục ngữ, phương
ngữ, thành ngữ... đặng tạo ra diện mạo riêng cho các sáng tác của mình. Theo
tôi, chính những bài viết kiểu này, cơ bản làm nên một Lê Đình Cánh văn xuôi !...
Thứ ba, theo cách nói vui
cửa miệng của giới trẻ bây giờ, ấy là: Thích
thì viết thôi. Lê Đình Cánh có khá nhiều tản văn, tạp bút được viết với ý
muốn và tâm thế như vậy. Với ông, quả là, quan tâm thì viết, thích thì viết.
Vậy thôi. Có thể, viết ra để cho ai đó, cũng có khi, chỉ để trải lòng mình, để
nói ra bằng chữ nghĩa những điều mình nghĩ, mình hiểu. Với sự thôi thúc vậy,
nên trong các bài viết ở dạng này, tuy vẫn bời bời thông tin, kiến thức, song
giọng văn lại không tung tảy như vốn dĩ, mà cẩn trọng, có gì đó như ngầm phô
diễn sự hiểu biết, nửa lặng thầm gửi gắm thông điệp gì đó, chứa đựng ý thức
trách nhiệm với đời, cứ như ông tự nhủ lòng mình vậy. Điểm qua, thấy nhiều bài
hay, như : Nụ tầm xuân, Cây núc nác, Cò
lửa, Rau má ruộng, Chim rẻ quạt, Chuối hột, Bèo ong, Củ mài, v.v...
Và như thế, dù sáng tác văn xuôi ở dạng nào, nhà thơ Lê
Đình Cánh đã có những đóng góp đáng kể cho văn xuôi Việt Nam hiện đại ở thể
loại bút ký, ký sự văn học !...
Tủm tỉm Lê Đình
Cánh.
Dẫu biết đến tên tuổi nhà thơ Lê Đình Cánh đã lâu, nhưng
cho đến khi về đầu quân cho nhà Đài (VOV),
tôi mới giáp mặt ông. Khi ấy, đơn vị biên tập của tôi ở chung, gần nơi làm việc
của Ban Văn học nghệ thuật tại trụ sở
58 Quán Sứ. Tôi về Đài Tiếng nói Việt Nam từ mùa thu năm 1987, song phải hàng năm sau, khi làm thân với nhà thơ Trương
Hữu Lợi, tôi mới bén mảng đến Phòng Văn học thiếu nhi, mà lúc ấy, nhà thơ Lê
Đình Cánh làm Trưởng phòng (còn Trương
Hữu Lợi làm Phó trưởng phòng). Hồi đó, có thể nói, Ban Văn học nghệ thuật Đài TNVN, cùng với Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn VN), Tạp
chí Văn nghệ Quân đội và Tạp chí Văn
học (Viện Văn học Việt Nam) tạo thành tứ
trụ vững chắc cho cả nền văn học nước nhà tựa vào. Vì thế, ai đó theo
nghiệp văn chương, đều mơ ước được làm việc tại bốn cơ quan này. Với tôi, mới
tập tọng văn chương thơ phú, tuy cùng cơ quan, nơi làm việc lại gần nhau là
thế, nhưng đến khi theo nhà thơ Trương Hữu Lợi bước chân vào Phòng Văn học thiếu nhi, tôi vẫn khép
nép lắm. Song ngay từ lần gặp đầu tiên, thái độ cởi mở và cách nói năng hóm
hỉnh của Lê Đình Cánh, nhanh chóng làm tôi cảm thấy thoải mái, tự tin hơn. Tôi
nhớ, lúc ấy, biết tên tôi, ông còn phân biệt tôi với Lê Cảnh Nhạc, người trùng tên, một cây bút trẻ về văn học thiếu nhi
mới nổi. Ông còn bảo tôi, nếu có sáng tác gì về văn học thiếu nhi thì hãy đưa
ông và anh chị em trong Phòng xem, đặng sử dụng phát sóng nếu đạt yêu cầu. Được
lời như cởi tấm lòng, nên sau đó, tôi đã có một số tản văn, tạp bút, truyện
ngắn cho thiếu nhi được phát sóng, để sau này, tôi đủ để tập hợp thành một tập
sách có tên “Công cống mùa thu”, được
NXB Kim Đồng ấn hành năm 1999.
Đấy là những gì Lê Đình Cánh dành cho
tôi từ buổi ban đầu. Sau này, khi tôi có nhiều truyện ngắn được đăng trên Báo Văn nghệ, Báo Người Hà Nội, Văn nghệ
Tp.Hồ Chí Minh và một số báo khác, và cả khi tôi có vài ba tập truyện được
xuất bản, thì với Lê Đình Cánh, ông vẫn xem tôi là một cây bút có nhiều sáng
tác cho thiếu nhi. Ông khuyên tôi, dù có thế nào đi chăng nữa, cũng đừng quên,
đừng bỏ viết cho thiếu nhi, bởi đây là đối tượng đặc biệt đáng và cần văn học
dẫn dắt, như cái cách sau này, nhà thơ Phạm Hổ-ông trùm của văn học thiếu nhi
nước nhà đã khuyên nhủ tôi. Cũng chính nhà thơ Lê Đình Cánh đã lựa chọn, bảo
lãnh giới thiệu và động viên tôi tham dự một Trại sáng tác văn học thiếu nhi
của Hội Nhà văn Việt Nam. Và nhờ tham gia Trại viết đó, tôi được gặp gỡ, làm
quen với một số cây bút trong lĩnh vực này như Thai Sắc, Thái Chí Thanh, Hoài
Khánh, Lê Minh Hoài và một số cây bút trẻ khác... Hơn thế, tôi còn được tiếp
xúc, được nghe nói chuyện, và trao đổi với các nhà văn mà tôi vốn kính nể là
Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Phạm Hổ, v.v... Tôi đã viết về chuyện này trong chân
dung văn học “Phạm Hổ, người thắp lửa”,
nên không nhắc lại ở đây. Thành thật, tất cả những gì mà nhà thơ Lê Đình Cánh
từng ưu ái dành cho tôi, ngày ấy, bây giờ, tự thâm tâm, tôi biết ơn ông về hết
thẩy!...
Như tôi đã định tính, ấy là cái sự “tủm tỉm” của nhà thơ Lê Đình Cánh. Có
thể nói, Lê Đình Cánh là người lạc quan, và biết cách làm lạc quan cho người
khác, kể cả trong văn chương lẫn cuộc sống thường ngày. Có cảm giác, với ông,
trong công việc và đời sống, chẳng có gì là khó khăn đến mức không thể làm nổi,
việc khó đến mấy, rồi ra cũng có cách giải quyết của nó. Thế nên, không việc gì
phải khổ sở, bi lụy cả. Tiếp xúc với ông và đọc văn thơ ông, người ta thấy, sự
lạc quan thường trực nơi ông, qua cái cười tủm tỉm. Ngay cả trong khung cảnh
thật vui, chung và riêng, chẳng mấy khi, nếu không muốn nói là chẳng bao giờ,
thấy ông phá lên, cười ha hả, khoái trá... Lê Đình Cánh tư chất thông minh, bản
thân học chuyên Vật lý, rồi tham gia cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, thạo
tiếng Anh, thêm tu nghiệp báo chí, nên kiến văn phong phú, đa dạng. Trong công
việc và cuộc sống, tự thân, ông là người cẩn trọng, chu đáo, nhưng với người
khác lại dễ cảm thông, chia sẻ, nên chẳng bao giờ ông đao to búa lớn, mà giải
quyết mọi việc đều nhẹ nhàng, tinh tế, dễ chịu... Người sao, văn vậy, cứ cảm
giác như Lê Đình Cánh tủm tỉm cười trong mỗi bài thơ, câu thơ, câu văn, kể cả
khi bài thơ, tản văn ấy thuộc gam buồn đi chăng nữa. Vậy thôi, song khó lắm
thay. Người hóm hỉnh, hài hước như ông, trước hết là người thông minh, có phông
văn hóa cao, và nữa, biết cách không quan trọng hóa vấn đề. Đàm luận hoặc
chuyện phiếm với Lê Đình Cánh thật thích. Ông đọc nhiều, cộng thêm trí nhớ
tuyệt vời, nên khi đàm thoại, ông có thể viện dẫn “thiên kinh vạn quyển”. Có cảm giác ông như một cái kho chứa đựng
bao nhiêu thứ, khi cần thứ gì, cứ rút các ngăn kiến thức, vốn sống mà ra cả ...
Lê Đình Cánh biệt tài về thiên văn địa lý, lịch sử và vốn văn hóa dân
gian. Cùng với đó, chịu đi và đi nhiều,
chịu khó tìm tòi từ cuộc sống, nên ông rất thực tế, chứ không phải chỉ sách vớ
lý thuyết suông. Ông có thể kể vanh vách quy trình này, cách thức nọ để tạo
nên, làm ra các thứ... Ông có thể khiến người đối thoại với mình từ ngạc nhiên
này sang ngạc nhiên khác về sự am tường của mình. Tôi cứ rẩm riu nghĩ, Lê Đình
Cánh vốn cùng quê với Cống Quỳnh (người
được đồng hóa, gán với nhân vật Trạng
Quỳnh trong giai thoại dân gian), nên cảm giác, ông phảng chất Trạng Quỳnh trong người. Đặc biệt,
Lê Đình Cánh khi đàm thoại, ông hùng biện một cách hóm hỉnh, lập luận một cách
minh triết, ứng biến linh hoạt, diễn đạt mạch lạc, đầy sức lôi cuốn và có tính
thuyết phục cao. Ấy vậy, một khi đã đàm thoại cùng Lê Đình Cánh, thật khó mà
dứt ra được ... Người ta bảo, thường ở đời, được cái này thì hỏng cái kia, và
hình như trong văn chương cùng vậy; từng thấy nhiều người nói năng thì ậm ừ
song khi viết lại đầy ma lực, lại có người, tài nói năng khư khướu nhưng viết
ra thì nhạt toẹt,... Riêng với Lê Đình Cánh thì được cả đôi, ông đã mang được
cái duyên nói năng ngoài đời vào văn thơ của mình...
Vào một sáng cuối tuần cuối xuân Đinh
Dậu, tôi đến thăm ông, tại nhà riêng ở số 168 Đường Trường Chinh, Hà Nội. Từ
nhiều năm nay, gia đình ông sống tại biệt thự kiến trúc Pháp cổ này, ngôi nhà
do Nhà nước cấp cho ông nhạc (bố vợ)
Lê Đình Cánh, đại tá Đặng Tính, một sĩ quan cao cấp của Quân đội, huyền thoại
một thời gắn với Đường Trường Sơn, của cuộc chiến tranh chống Mỹ giải phóng dân
tộc thống nhất non sông ngày nào. Vài ba năm nay, gặp lại, thấy ông gày đi và
tuổi tác thêm một chút, song vẻ tinh anh trong ánh mắt nhìn, cùng nụ cười nửa
miệng thì vẫn đấy....
Sau những xã giao thông thường, bập
vào chuyện văn chương, thời thế, lại thấy ngay một Lê Đình Cánh ngày nào, như
khi ông còn làm việc sung sức. Và cũng ngay đó, tôi như lạc vào mê trận mà ông
giăng mắc trong những câu chuyện đời sống xã hội và văn chương, giữa hiện thực
và hoài niệm, giữa cái chung và cái riêng, giữa tôi và ông, và... Trí nhớ ông
vẫn tốt, minh mẫn và khúc chiết, cảm giác như ông chẳng quên một thứ gì. Quan
sát cách bài trí, nhìn ngắm những bức thư pháp đẹp do nhà thư pháp Lê Xuân Hòa,
vốn đồng hương, đồng họ, thủ bút tặng ông, rồi đó là chiếc xe đạp hiệu Pha-vô-rít, chiếc xe máy Honda DD đỏ ngày nào ông dùng để đi làm,
được xếp gọn gàng phủ bụi thời gian để chung nơi cất giữ các vật lưu niệm khác
từ thời là người của nhà Đài (VOV),
cho thấy, ông vẫn đang sống với quá khứ. Còn hiện tại, ở tuổi 76, ông sống
chung với các con. Thêm nữa, những phương tiện hiện đại như truyền hình cáp, vi
tính nối mạng đã giúp ông cập nhật thế giới hàng ngày.
Chuyện trò, vẫn thấy ở ông vẻ hóm hỉnh xưa. Biết là, mấy
năm gần đây, dần tuổi cao, bệnh tật, thêm nỗi ưu tư, cùng những lo lắng về sự
biến động ngoài xã hội, có lạc quan đến mấy thì cũng là sự gắng gỏi tinh thần
thôi. Phảng phất đâu đó trong cái nhìn xa xôi và nụ cười mỉm, cảm nhận nơi thẳm
sâu tâm can ông, nỗi buồn ẩn chứa, ý thức trách nhiệm với văn chương, với gia
đình, với cuộc đời này !...
Ra về, tự nhủ lòng, mình sẽ viết về ông sao đây ?...
May thay, trước khi vân du cõi hạc,
ông đã tận mắt đọc bài viết về ông của tôi và hài lòng lắm. Trước đó, ông tình
cờ đọc một số bài viết của tôi về nhà thơ này nhà văn nọ, ông nhắn qua nhà báo
Lan Hương, một thuộc cấp cũ của ông thời phòng Văn học thiếu nhi, mời tôi đến nhà ông chơi đặng viết chút gì đó. Lê
Đình Cánh bảo rất thích cách viết chân dung của tôi nên muốn có chút kỷ niệm giữa
hai anh em với nhau. Vậy nên, tôi có điều kiện trò chuyện để hiểu thêm đời và
văn chương của Lê Dình Cánh mà dựng chân dung ông,…
LÂM HUY NHUẬN,
lãng tử người, lãng tử thơ
Tôi biết đến cái tên Lâm Huy Nhuận bắt
đầu từ bài thơ Thung lũng tiếng chim đoạt
giải cao cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ khi cuộc chiến tranh chống Mỹ Ngụy chưa
kết thúc, cùng với người bạn thơ mặc áo lính với anh là Hoàng Nhuận Cầm. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, mãi cho đến
quãng năm 1978 tôi mới biết mặt Lâm Huy Nhuận, khi đó đang là sinh viên Hán Nôm
khóa 22 của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Số là, tôi có mấy người bạn học cùng khoa
với anh, hay rủ tôi sang chơi vào dịp cuối tuần nhân thể dự đêm thơ của trường ấy.
Ở vào thời điểm đó, Khoa Văn Đại học Tổng hợp hay tổ chức đêm thơ ở khu giảng
đường Mễ Trì, Hà Nội. Người đọc thơ thì nhiều, sinh viên có và cả những nhà thơ
bên ngoài cũng có, song nổi bật nhất thì chỉ có hai, ấy là Hoàng Nhuận Cầm và
Lâm Huy Nhuận. Giảng đường chật ních những người, đa số là dân Tổng hợp, cũng
có sinh viên của một số trường đại học khác ở Hà Nội mò đến dự, kiểu như mấy đứa
chúng tôi. Tôi nhớ, khi Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ, anh như người nhập đồng. Đám cử
tọa nữ sinh bên dưới nhiều đứa lén chấm nước mắt. Còn Lâm Huy Nhuận thi khác,
thơ anh không êm dịu, ru rín lấy nước mắt như thơ Hoàng Nhuận Cầm, mà câu chữ
có gì đó rổn rảng, tinh xảo. Thực ra, anh trình diễn thơ, giọng khỏe, điệu bộ
chân tay như diễn đạt ý tưởng. Nghe rồi, tôi thầm so sánh. Hoàng Nhuận Cầm, lời
thơ bộc trực, ý lộ, như chuyện kể giàu nhạc điệu, nên hiệu quả tức thì, dễ lay
động tuổi mới lớn đang yêu. Trái lại, Lâm Huy Nhuận chắt lọc, ẩn ý, câu chữ ấn
tượng nên dễ át người nghe, thoáng qua thì khó hiểu, sau xem lại bằng mắt mới
thấy từ, thấy tứ. Chính vì sự khác hẳn nhau, nên khi cả hai cùng xuất hiện trên
diễn đàn, đều nổi bật tuy hiệu lực trái nhau...
Bẵng đi, mãi
năm 1987, tôi về nhận công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, đã thấy bóng dáng
Lâm Huy Nhuận vật vờ đâu đó trong sân trụ sở 58 Quán Sứ. Thì ra, anh đã trở
thành biên tập viên của Ban Văn nghệ nhà đài mấy năm rồi.
Với Lâm Huy
Nhuận, để chơi được thì trước hết người đó phải ôn hòa và có sức chịu đựng, hoặc
không thì tính cách dữ dội cỡ tương
đương. Điều này, có lẽ nhiều người trong làng văn thơ, làng họa và cả những người
quen biết anh còn hiểu hơn tôi. Tôi chơi được với anh là nhờ chọn cách ôn hòa,
và dù nhiều khi có thể nói là chịu đựng, song cũng là phù hợp với tính cách
tôi.
Lâm Huy Nhuận
là người đa tài, chí ít trong bốn lĩnh vực: thơ- họa-
bốc phệ và xem mạch bốc thuốc
đông y.
Với thơ, đấy
là duyên nghiệp của anh. Lâm Huy Nhuận được bạn đọc, công chúng biết đến trước
hết là nhờ thơ. Thân sinh của anh là thi sĩ Yến Lan, con kỳ lân của nhóm Tứ
Linh đất Bình Định từ thời tiền chiến (Hàn
Mặc Tử-Chế Lan Viên- Yến Lan- Quách Tấn). Có lẽ Lâm Huy Nhuận chỉ thừa hưởng
ở cha mình cái gen thơ phú lãng tử, còn lại anh tự lập ngôn. Sớm nổi tiếng với
giải cao cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ khi còn là lính chiến với bài thơ Thung lũng tiếng chim, song nếu chỉ có vậy,
sẽ chẳng là gì cả. Sau khi phục viên, học ngành Hán Nôm -Tổng hợp Văn Hà Nội, rồi
về Đài TNVN, Lâm Huy Nhuận nhũng nhẵng làm thơ. Nói vậy bởi anh không bỏ mà
cũng chẳng ham. Khi đọc thơ thì trong đêm thơ sinh viên hàng mấy trăm người, đọc
cho dăm ba người xung quanh nghe, hoặc lúc say rượu chỉ đọc cho người bạn đối ẩm,
anh đều bốc như nhau. Đọc thơ thì vậy nhưng làm thơ không vậy, không bốc đồng
và cũng chẳng hề sốt ruột. Mặc ai đó thiên hạ làm thơ đăng báo và in tập như
điên, để rồi thành nhà này nhà nọ. Anh thì không. Chỉ làm khi có tứ, có cảm xúc
thật. Câu chữ , ý tứ chắt lọc lắm thay. Rồi ra cũng chẳng cần đăng báo. Thích
thì đọc bạn bè nghe chơi. Ai đó thấy thích bảo đăng thì đăng. Cứ nhũng nhẵng thế
hàng chục năm trời, đến nỗi bạn bè anh em sốt ruột hộ, và nghe nói cả Hội Nhà
văn cũng sốt ruột lây cho anh. Quy chế hội là chí ít phải ra tập, mà Lâm Huy
Nhuận chẳng chịu ra cho. Hội thì cứ chờ ra tập rồi mới giới thiệu kết nạp hội
viên. Mãi thì chuyện gì đến cũng phải đến, anh xuất bản tập thơ đầu tay "Chiều có thật " (NXB
Văn học, 1999), và sau đó trở thành hội viên Hội nhà văn. Với anh, chẳng có gì
khác trước, sống vẫn vậy và viết cũng vậy, thất thường, nhũng nhẵng và dai dẳng
!...
Với những người
không biết Lâm Huy Nhuận, quả là cầm tập thơ Chiều có thật mỏng mảnh với 62 bài, phần nhiều là thơ ngắn, sẽ chẳng
thể cảm sức nặng của nó. Bìa sách màu nâu nhạt do họa sĩ Phan Cẩm Thượng, bạn
anh, bỏ công vẽ, thoạt nhìn sơ sài, phải ngắm kỹ mới thấy sự độc đáo. Song sự độc
đáo chính lại ở ruột của tập thơ. Đọc qua thấy bài nào cũng được. Đọc nhẩn nha,
rồi ngẫm nghĩ, thấy lạ và hay. Hầu như, bài nào cũng có cái được, khi ở cấu tứ,
khi ở câu chữ , lúc là nhịp điệu, mạch thơ ... Có những bài hay như: Tự xông đất, Chiều thu, Mặt hồ, Váng sương, Và đôi lúc
... Song khi bảo phải chọn một bài thôi, thì thật khó. Nhìn chung, thơ Lâm Huy
Nhuận ngôn từ sắc lẻm và táo bạo, kiệm chữ, mà không gian vẫn hư ảo. Đọc rồi,
ưng hay không là tùy ở người, song bao giờ cũng đọng lại một cái gì đấy. Tôi
nghĩ, thơ Lâm Huy Nhuận được, và có chăng hơn ai đó, là nhờ đấy.
Tuy thơ làm
nên tên tuổi Lâm Huy Nhuận, song với anh thơ chỉ là non nửa, nếu không đả động
gì đến những cái tài khác.
Họa chẳng hạn.
Cũng như thơ, Lâm Huy Nhuận đều đối xử bạc bẽo như thế. Anh chơi với nhiều họa
sĩ, chẳng học họa ngày nào, thấy người vẽ
thì anh cũng vẽ. Khoái lên, điên điên lên thì vẽ. Anh chọn chất liệu bột
màu giấy dó là chính. Anh vẽ phố, vẽ người, vẽ con vật... Vẽ xong, xếp đồng giấu
sau tủ. Lâu lâu tự lôi ra ngắm, hoặc sau trận nhậu, tây tây lên, lôi bạn bè đàn
em về nhà và lôi tranh ra khoe. Vẽ thế, song xem tranh anh người ta thấy lạ, thấy
quái, rồi thì tìm thấy sự hợp lý trong cái lạ, cái quái, mà thích. Chơi họa
nghiệp dư song làng tranh gán gọi anh là ông "tôm ôm đá, cá trên mái nhà, đàn bà một vú, hổ tứ đuôi". Vậy
cũng đủ thấy tranh của Lâm Huy Nhuận không thường chút nào. Lý giải cho cái sự
không học mà vẽ của mình, hơn một lần Lâm Huy Nhuận tuyên bố rằng: "Có triết ở trong đầu, tự sẽ thấy bố cục, cấu
tứ, mảng mà ... mà thành tranh". Phải chăng đấy là tuyên ngôn nghệ thuật
của anh? Dân họa nể, chịu anh đến đâu thì có trời biết ...
Mặc dù lối sống
hơi bụi bặm, song tự trong máu, Lâm
Huy Nhuận là một người thấm đậm chất phương Đông, nho sĩ. Nhưng anh là nho sĩ của
thời đại mới. Chẳng thế mà một lần đến chơi thăm Tào Mạt, sau vài giờ đồng hồ
đàm đạo văn chương, kê đơn thuốc tiêu ung cho Tào Mạt, đường về, anh phán một
câu xanh rờn, nghe mà ái ngại: "Ông
này có chất nho sĩ, nhưng mà là hủ nho". Khoan bàn về việc đúng sai
khi nhận định Tào Mạt như vậy, song rõ ràng ở đây, Lâm Huy Nhuận nhận thấy anh
và Tào Mạt có nhiều điểm giống nhau, duy chỉ có điều, ông ôn nhu và kém lãng tử
hơn anh. Thực ra, Tào Mạt là người yêu nghệ thuật chèo và đã từng khởi xướng việc
cách tân chèo thì hẳn ông không phải là người cổ hủ, thậm chí về nghệ thuật còn
cấp tiến là khác. Có chăng, ông luôn biết
giữ sự mực thước mà thôi.
Nho y lý số, xưa nay các bậc túc nho đều
có. Lâm Huy Nhuận không phải và sẽ chẳng bao giờ là bậc túc nho, song anh khá
am tường về những lĩnh vực ấy. Anh có căn duyên với nghề thuốc. Lại cũng như họa,
không trường lớp, anh tìm thày theo học, rồi mầy mò tìm sách, vận dụng cái chất
triết, chất lý trong đầu và vốn chữ nghĩa Hán Nôm mà tự học thành nghề thày
thuôc Đông y, và cũng khá nổi tiếng. Đấy mới là cái nghề thực sự nuôi sống gia
đình anh. Chỉ thế thôi, anh đâu có ham tiền, ham làm giàu từ nghề thuốc, bởi
không, là trái với tính cách con người anh, trái với đạo nghề. Không những thế,
Lâm Huy Nhuận còn được nhiều người biết đến với tài bốc phệ, lấy quẻ tử vi, xem
tứ trụ. Nhiều lần anh giữ mục Thày thuốc
Đông y cho tờ báo này báo nọ. Rồi mỗi độ năm hết tết đến, bạn đọc lại thấy
những bài viết của anh dự đoán vận khí năm mới đó đây trên mặt báo. Còn với bạn
quen, người lạ, có lúc phải rợn người bởi lời phán về vận khí cá nhân mình khi
tình cờ gặp lúc anh nhập đồng. Đâu phải
với người khác, với chính bản thân mình, anh cũng vậy. Có một dạo, anh em cơ
quan và bạn bè thân quen bỗng thấy anh tuyên bố, rằng anh phải hành phương Nam thì mới hợp vận, hợp
cách của mình. Tưởng đùa vậy thôi, anh đùng đùng nộp đơn lên lãnh đạo xin vào
công tác ở văn phòng phía Nam. Và anh đi thật. Lúc ở gần, nhiều khi thấy bừng bực
về sự thái quá của anh, song anh đi rồi lại thấy thiêu thiếu văng vắng...
Lữ hành cô độc là tên một truyện ngắn của
tôi lấy cảm hứng từ Lâm Huy Nhuận, viết cách đây vài chục năm, được in trong tập
truyện đầu tay Đêm nguyệt thực. Bài
viết này về anh, tôi thích giữ nguyên cái tít ấy, bởi nó đúng với anh. Đa tài
và đa tình, song cô độc. Lâm Huy Nhuận sống ồn ào đấy, nhưng thực ra anh là người
lặng lẽ, thu mình, khó chia sẻ. Là gỗ quý nhưng vỏ nhựa độc, khó dùng. Tự thân
muốn làm gì thì làm, miễn là phải đạo. Cũng khá tự do, tự tại, ấy là sướmg,
song lại tự vây hãm mình hoặc làm người
khác khó gần, khó chia sẻ với mình. Cô độc là vì thế chăng?
Ngẫm cho kỹ,
thực ra từ mấy mươi năm trước, Lâm Huy Nhuận đã tự họa mình, hình và bóng, tâm
tư và tính cách : "Tự mình xông đất
cho mình/ Căn phòng vắng ngắt lặng thinh suốt mùa/ Tự đốt pháo, tự giao thừa/ Bắt
tay chúc tết như vừa thấy nhau/ Giật mình hai mắt trũng sâu/ Người trong gương ấy
còn đau hơn mình " (Tự xông đất).
Cũng chẳng rõ,
khi nào Lâm Huy Nhuận cho ra tập thơ tiếp theo. Thơ thì vẫn làm, nhưng người ta
nhắc đến anh như một thày thuốc đông y và có tài bốc phệ nhiều hơn. Dường như,
với thơ, anh đang nén đợi một điều gì đấy?!... Lãng tử người và lãng tử cả với
thơ thì biết đâu mà lần?
Và rồi, sau 23
năm ra tập thơ đầu, tập thơ thứ hai của Lâm Huy Nhuận đến tay bạn đọc. Tập thơ
“Mùi mưa sông mắt ướt” (NXB Hội Nhà văn , 2022) dày dăn với
132 bài. Vẫn nguyên tính cách Lâm Huy Nhuận, tên tập, tên bài là lạ. Thơ ngắn,
khá chắt lọc, ý tứ kín và giàu sức liên tưởng. Bảo hay thì chưa hẳn, nói dở
cũng chẳng phải. Lâm Huy Nhuận không tiến mà cũng chẳng lùi. Vẫn nguyên một cõi
thơ của riêng mình.
LÒ CAO
NHUM
Rượu núi ai rót mà say?...
Thế là nhà
thơ Lò Cao Nhum, người con của Bản Lác, Mai Châu đã ra đi mĩa mãi vì căn bệnh trọng.
Biết đến
tên và thơ Lo Cao Nhum thì từ lâu nhưng phải đến năm 2011, tôi mới giao du với
ông qua mạng Blog Tiếng Việt.
Tôi đi du
lịch Bản Lác cũng nhiều, nhưng cũng chỉ có một lần ghé thăm chơi nhà Lò Cao
Nhum. Ấy là khoảng mươi năm trước, vào dịp xuân, tôi cùng nhà thơ Trần Đăng
Khoa, nhà thơ Nguyễn Thanh Vân, nhà văn Nguyễn Trọng Huân và nhạc sĩ Phạm Quang
Hiển vô xứ Thanh chơi, thăm nhà của nhà
văn Trịnh Tuyên ở Cẩm Thủy, rồi quá bộ lên Bá Thước thăm nhà thơ Trương Thị
Màu. Tôi post ảnh lên mạng, nhà thơ Lò Cao Nhum biết tin bèn gọi điện nhắn là
khi về thì tiện đường vòng qua Bản Lác, Mai Châu ghé nhà ông chơi. Thế là đoàn
chúng tôi sang Mai Châu, đến Bản Lác ghé nhà Lò Cao Nhum. Có trà có rượu nên
không khí cuộc gặp thêm phần ấm áp, rôm rả, thơ phú dạt dào,...
Những lần
sau, ghé bản Lác, thì hoặc ông chơi xa vắng nhà, hoặc chúng tôi vội nên chỉ í ới
qua điện thoại dăm câu ba điều vậy thôi.
Trang cá
nhân của nhà thơ Lò Cao Nhum trên Blog Tiếng Việt lấy tên Rượu Núi, tôi đọc thơ ông chủ yếu ở đây. Thi thoảng thấy tên ông
trên báo này báo nọ thì bài đọc bài không, nên chẳng lạm bàn, song qua đó cũng
đủ để nhận diện, thấy được chất văn hóa bản địa (Thái và Mường) và dấu ấn bản tính nhỏ nhẹ rủm rỉm riêng có của Lò
Cao Nhum.
Lần giở từng
trang của nhà thơ Lò Cao Nhum trên Blog Tiềng Việt mà ông bỏ lửng, ngược thời
gian để nhận diện một Lò Cao Nhum, thơ và người. Trang cá nhân của ông lấy tên
RƯỢU NÚI, thì hẳn ông phải tâm đắc với bài thơ này và xem đó như sự đại diện
hay một tuyên ngôn về thơ, về quê hưởng bản quán và con người mình...
Hãy xem
cái cách Lò Cao Nhum, hay rộng ra là người Thái Bản Lác mời rượu bạn bè: “Rượu núi/ Bạn đến/ Mời
ngồi xếp bằng tròn giữa chiếu/ Chiếu
đan bằng tia mặt trời/ Bát rượu trăng rằm/
Mong hồn vía bạn đừng thất lạc/ Cầu cụ ông, cụ bà, cây si, cây đa/ Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến/ Ngửa bàn tay cũng da/ Úp bàn tay cũng thịt...”. Vậy thì đâu còn xa lạ
nữa, dù bạn là người Thái, người Mường, người Mông, người Kinh hay dân tộc nào
đi nữa thì bàn tay cũng da cũng thịt như nhau cả thôi.
Chỉ bằng một bài thơ “Rượu núi”
Lò Cao Nhum đã xóa nhòa đi cái khoảng cách về sắc tộc. về sự giàu nghèo, gần
xa, cũ mới,... Đấy là cái khéo riêng có của nhà thơ, ấy còn là văn hóa ứng xử của
người Thái và một số dân tộc thiểu số vùng cao...
Cảm
giác chung, Lò Cao Nhum cũng như các nhà thơ người dân tộc thiểu số vùng cao
khác (Y Phương, Pơ Sảo Mìn, Lò Ngân Sủn,
Mã A Lềnh...) yếu tố dân tộc bản địa rất rõ. Tất nhiên, mỗi dân tộc thiểu số
vùng cao, bản sắc văn hóa khác nhau đôi chút, song tựu chung, văn hóa ứng xử lại
khá giống nhau, ấy là sự hiếu khách và lòng tin ở còn người. Người Thái, người
Mường vùng Tây Bắc đều khá tinh tế và khéo léo trong ứng xử với khách. Bản
thân, tôi có nhiều năm ngang dọc Tây Bắc nên hiểu điều này. Giờ hãy xem Lò Cao
Nhum thưởng trà với bạn hữu ra sao: “Hương trà thơm thao thức/ Quyện vấn
vít mãi thôi/ Em nâng lời chén nước/ Sóng sánh vỗ lòng tôi/ Nhấp một ngụm thành
hai/ Nhấp hai ngụm thành mười/ Một đêm trà gió thức/ Chung chiêng lá trọn đời”.(Hương trà). Với cái phép nhân của lòng người “một thành hai, hai thành mười” ấy, mới thấy Lo Cao Nhum khéo và
cũng ngoa làm sao.
Nét văn hóa của
người miền núi đồng rừng, tục “bắt vợ” cũng được Lò Cao Nhum thi vị hóa: “...
Nghiêng lòng rình khe vách/ Ngả tim ngóng buồng trong/ Đâu là trời, là đất/
Đâu là vuông, là tròn./ Tiếng khèn hổn hển/ Khua lạo xạo con đường đá sỏi/ Bỗng
lách qua khe liếp/ Vồ dốc núi/
Chộp rừng rú/ Bế bổng thiên thần/ Nhẹ nhõm hòa vào sương ban mai” (Bắt vợ).
Văn hóa ứng xử
của người Thái, người Mường vốn tinh tế, phả vào người thơ rủm rỉm Lò Cao Nhum
nên đã khéo càng thêm khéo. Chuyện gia đình, có khéo ăn ở bao nhiêu cũng chẳng
thể tránh được những giận hờn, sứt mẻ. Nhưng với Lò Cao Nhum những lúc thế này: “Hơi tí em bỏ về bên ngoại/ Làm cơm canh, ấm
chén rối lên/ Bậu cửa vào vấp chân/ Khung cửa ra đụng trán/Thương cái bếp nguội
lạnh...”. Để vợ giận thì chỉ có thua và thiệt thôi, nên người thơ nhủ lòng
mình, cũng là cách lấy lòng vợ: “Thôi
cũng vì cái vung trót méo/ Cũng vì nắng quá mà mưa/ May mà vung còn dẻo/ May mà
vẹo lại tròn/ Bữa cơm trưa một mình/Anh còn so thêm đũa” (Mưa nắng nhà mình). Đến nước này thì gỗ
đá cũng tan thành nước, người vợ nào cũng đành cầm lòng, giận dỗi chi nữa. Nịnh
vợ giỏi thế, khó có ai hơn được Lò Cao Nhum. Thường ngày là vậy,nhà thơ nịnh đầm theo quán tính, nhưng
hễ có dịp thì tội gì mà không giả vờ có chút tị nạnh với chị em : “Làm phụ nữ thích thật/ Có ngày vui tháng ba/
Có ngày hoa tháng mười/ Làm phụ nữ vui thật.../
Làm phụ nữ sướng thật/ Bao nhiêu là tiếng khen/ Bao nhiêu là lời tán/ Ngọt
thơm suốt cả đêm..”, nhưng rồi vẫn nửa thương nửa răn dạy: “Ngày vui ngắn chẳng tày/ Về còn lo con nhỏ/
Còn trăm ngày giặt giũ/ Còn nghìn đêm khóc thầm./ Phụ nữ vốn rộng lòng/ Đàn ông
đừng hẹp bụng/ Phụ nữ đáng thưởng lắm/ Ngày nào cũng ngày hoa” (Thơ vui ngày hoa tặng cánh mày râu). Tị
nạnh như thế thì cũng là một cách lấy lòng người thôi. Khôn thế, có mà khôn hết
cả phần thiên hạ à ...
Những tưởng chỉ vui bàn chuyện văn hóa
dâ\n tộc, ứng xử cộng đồng làng bản, gia đình vậy thôi, chứ thực ra, nhà thơ
cũng thích bàn chuyện thế sự. Song chuyện thế sự có ghê gớm thế nào đi chăng nữa
thì cũng nhìn từ bản thân mình, từ người thân mà ra chuyện thiên hạ. Hãy xem Lò
Cao Nhum bàn chuyện thế sự ra sao? “Họ bảo
tôi đi đường ngược chiều/ Bị phạt là điều cầm chắc/ Chợt hiểu đấy là phép tắc/
Giống bản mình giăng bủa Ta leo... / Ngôi
nhà ta có nóc, có sàn/ Làm người không thể không phép tắc/ Phép tắc không thể
không chòi gác/ Cuộc đời có ngã ba, ngã bảy/Trong ta có đèn đỏ hay không...” (Ngược chiều).
Vậy thì lệ làng, phép nước cũng nhìn
nhận từ bản thân mình mà ra. Bố bản hay ai cũng thế cả thôi, cứ phải khép mình
mà tuân thủ suy ra phép công thì xã hội mới có trật tự chứ.
“Căn
phòng tôi một góc khói bay/ Tôi ngấu nghiến chợ chiều ùa đến/ Nhịp đời thường
cà chan nước mắm/ Không góc đêm chạm cốc bon che./ Căn phòng tôi chiếu rải
thênh thênh/ Ríu ran tiếng giao lưu đồng loại/ Nhịp nhàng tiếng đưa nia sàng sảy/
Nụ cười thơm lọt sàng xuống nia” (Căn
phòng tôi). Cái riêng đã thành chung rồi, chuyện của mình thành chuyện làng
xã, chuyện xã hội thôi. Thế sự với Lò Cao Nhum cứ thủ thỉ là vậy. Chẳng hơi đâu phải đao to búa lớn cả, chuyện
thế sự đơn giản là lời dăn con: “Rồi ngày mai con xuống núi/ Gặp phố phường
ngã bảy, ngã mười/ Gặp lòng người đỏ, vàng, đen, trắng/ Mỗi lần vấp, một bước
đi/ Sẽ sực nhớ người thầy trên núi.../ Ngày
mai con xuống núi/ Cùng tay nải hành trang đầu tiên/ Đi như suối chảy về với biển/ Chớ quên mạch đá cội nguồn.” (Ngày mai con xuống núi)...; Hay đâu như
chuyện ăn bát phở dưới phố: “Người Núi xa
bản Mỗ, bản Lác/ Đi phố xa cải tổ cái đầu?/ Sau hội Thơ, hội Văn, hội Bè, hội Bạn/
Muốn về lắm rồi/ Nhớ gà đồi…/ Thế là xong/ Người Núi làm sao biết được/ Mấy
trăm tấn gà mắc dịch om, lưu/ Bột rượu cồn nhập của Tàu pha nước/ Thơm lừng môi
– trôi xuống ruột: ngọt lừ!/ Ngon lỗ miệng – bụng đứ đừ/Ung thư, tắc ruột coi
như xong đời...” (Đau cái sự phở gà);
Hay đơn giản là nghe tiếng chim ngoại thành: “Lật chăn bên này/ Trở gối bên kia/ Tiếng chim cuốc/ Ven đầm sậy một khu
đô thị/ Đêm không vắng/ Mà thăm thẳm/ Chim gù đôi/ Như khoan vào đáy ruột.../ Lặng
nghe đêm sâu/ Tiếng chim đôi khi như nấc/ Tiếng chim thảng thốt/ Giữa chói
chang sức nén/Ngàn tấn bê tông...’ (Tiếng
chim cuốc been đầm ngoại thành): Hay là chút cảm xúc khi về Điện Biên thăm
Mường Phăng: “Chín sẽ quên và mười sẽ
quên// Nhưng không quên Pú Thẩu (*) Đại tướng/ Mùa hoa vông đếm hoa vông ngồi đợi/
Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi chờ mong./ Về Mường Phăng câu ca còn ngân/ Sáu mươi
mùa ve sôi chín núi/ Ngày noọng sao hát lời buộc trói/ Pú Thẩu về sợi chỉ về
theo...” (Câu hát Mường Phăng);
Rồi nữa, khi bố bản nhìn thấy cây thốt nốt bên bờ biên giới sinh ngẫm nghĩ: “Cây thốt nốt lắc lư vô tư nghiêng ngả./ Rễ
chùm uống nước ruộng này/ Uống nước ruộng kia/ Cỏ xanh cũng không chia/ Phương
này phía nọ./ Chàng trai Căm Pu Chia ruộng bên buông cày/ Cô gái Nam Bộ bên này
ngơi tay gieo sạ/ Dưới vòm râm thốt nốt/ Rôm rả mùa màng” (Cây thốt nốt giữa bờ biên giới); v.v...
Cứ rủ rỉ tâm sự như tự nói với chính mình, Lò Cao Nhum suy ngẫm và kể chuyện thế sự theo cách riêng của mình, chẳng
khác mấy việc hàng ngày ông tìm lối mòn
lên núi hay đi nương rãy,...
Như thế, cũng
không có nghĩa mọi việc phả vào nhà thơ đều đơn giản cả, không đa sự song ông
cũng ưa triết lý: “Ừ đời người mới đó buổi
mai/ Dăm chén rượu đã chạm chiều chạng vạng/ Nồng say mối tình không biết ngán/
Chẳng khỏa đầy nỗi hoảng hốt bâng quơ./ Ừ thì trời cho ta làm thơ/ Phơi phới đi
từ thiếu thời cắp sách/ Nhưng cũng khoác cho ta áo rách.../ Sáu mươi năm còn vá
đụp vá chằn...” (Những con giáp di);
“Ở trên núi có bấy nhiêu hộ/ Một phần ba
giầu có đỏ rừng,... / Một phần ba mới giầu nửa chừng/ Vừa ăn vừa dụm sinh dè sẻn,.../
Còn lại một phần ba liêu xiêu/ Gió tháng tám tốc cả lên rừng/ Đã thế sự nghèo
đuổi tận cùng/ Cáo hay bắt trúng gà kẻ khó” (Trên núi có ba loại người); “”Pù
Bin có sấm rền bất chợt/ Dội lên giấc ngủ giữa trưa mù/ Giấc mơ không thể mơ trọn
giấc... / Người Pù Bin lầm lỳ như núi/ Cao xanh trên sương gió, nắng mưa/ Người
rẻo cao tình bền củi lửa/ Râm ran cháy nỏ suốt bốn mùa (Ở đèo cao Pù Bin),... v.v...
Quả thật, đọc
thơ Lò Cao Nhum, những khi bắt gặp ông
triết lý, tôi cứ cười thầm, nghĩ bụng và hình dung, khi viết ra những câu thơ
mang tính triết luận như vậy, hẳn nhà thơ nhẩm bụng hay lẩm bẩm một mình “này, đừng có nghĩ là người vùng cao chúng tớ
ai cũng thật thà như đếm đâu nhớ,...?”. Song rõ là, cái kiểu triết lý như vậy.
chẳng giống người miền xuôi tẹo nào, vì nó vẫn rất chi là “thật thà đáng yêu”, hay chăng
người giả vờ “thật thà đáng yêu
“?...
Nhà thơ, ai mà
chẳng đa sự, đa tình. Âu cũng là cái cách nhà thơ tự đo-ping, gây cảm xúc để thành thơ?... Thứ tình cảm mà nhà
thơ Thuận Hữu đã buột miệng nói hộ thiên hạ chúng sinh ấy, chút ý nghĩ “ngoài
chồng ngoài vợ”. Giờ thì xem Lò Cao Nhum sóng sánh ra sao?
Lần giở thơ ông, bắt gặp một bài thơ của một bạn thơ giấu tên thật, ký bút
danh THỊ NỞ tặng thơ Lò Cao Nhum: “Quả
cuối năm ngọt đậm/ Hoa cuối mùa vẫn
hương/ Nắng cuối chiều như mật/ Đỏ thêm nét môi hường./ Thời gian ào suối lũ/ Cuốn mưa nắng từng ngày/ Muối đã mặn vẫn mặn/ Gừng đã cay
thêm cay./ Từ ngàn xưa đến nay/ Tình yêu là phép lạ/ Chỉ
một giọt trong ngần/ Cũng sánh ngang biển cả./
Cơn mưa rào mùa hạ/ Dào
dạt ướt vai anh/ Giấc mơ trưa có thật/
Một bờ vai xanh xanh”. Lại lần hồi cho rõ nguồn cơn, có một bài thơ của Lò Cao
Nhum, trước đó không lâu gửi tặng một
"người hôm qua" nào đó, đọc
rồi thì hiểu đây là bài thơ khởi từ phía
nhà thơ, khơi nguồn cho bài thơ hồi đáp của người bạn thơ giấu tên kia: “Không thể gọi người xưa/ Vì ngày mai còn nhớ/
Không thể gọi ngày cũ/ Bởi tình nào đã xa./ Mà thời hoa là hoa/ Đến mùa nở cứ nở/
Hương chắt chiu cho quả/ Ai hái trái vườn xưa?/ Kể gì thủa bâng quơ/ Gì nên ở
còn ở/ Thời gian ào thác lũ/ Cuốn mưa nắng từng ngày./ Chỉ lạ điều xưa nay/
Tiêu nghìn vàng không nhớ/ Hoa buổi đầu chớm nở/ Gió day dứt trọn đời” (Thơ gửi người hôm qua),....
Có thể, chỉ là võ đoán,
song tôi thấy thấp thoáng đâu đó bóng dáng cái người mà nhà thơ gọi là “người hôm qua” ấy, khi bắt gặp đôi ba lần
nhà thơ giới thiệu thơ của một “nàng thơ”
trên trang cá nhân của mình. Sự việc đó khiến tôi cứ liên tưởng, sâu chuỗi,...
rồi suy luận vậy thôi,... Âu cũng là để ta nhìn nhận con người thơ Lo Cao Nhum
thi vị hơn chăng ?...
Nhớ
về Lò Cao Nhum, không thể không nhớ đến bài thơ Rượu núi của ông. Nhưng Lò Cao Nhum còn có những bài thơ khác, ta
không thể bỏ qua để thêm phần rõ cái triết lý về nguồn cội sắc tộc, dấu ấn văn
hóa bản địa, chất Thái Mường hòa quện nhuần nhị trong con người và thơ ca của
Lò Cao Nhum (ông có cha người Thái mẹ người
Mường) : “Nhận ra anh em/ Nhận ra họ
hàng/ Nhận ra đồng tộc/ Khi nóc nhà có hoa khau cút/ Đấy là tin hiệu vui/ Tín
hiệu máu mủ/ Anh có thể cởi dép/ Rửa chân lên thang/ Tìm chỗ ngồi của mình nơi
góc chiếu,.../ Rồi anh ra đi/ Ngoái nhìn ngọn hoa mưa nắng/ Thơm thảo nơi mái
lá nhà sàn/ Văng vẳng níu chân lời hát/ Người ta chỉ muốn gần nhau thôi” (Nóc nhà ta có hoa khau cút); “Ông nội
tôi khai sinh miền đất/ Bắt đầu là gồng gánh núi non/ Ở trong núi có mồ hôi của
đá/ Trong đá kết tinh nỗi khổ/ Nỗi khổ ủ niềm khát khao/ Rồi ông vung dao phạt
quang mầm đói/ Ông chọc lỗ gieo hạt củ no/ Sự sống ấm chân trời hoang sơ,...”
(Ông nội tôi khai sinh miền đất); “Tao có chồng, mày đi bắt vợ/ Bao mùa vụ cắm
cúi đời nương,.../ Giờ mày năm chân, tao bảy tay/ Chuyện chồng vợ còn giấu vào
núi/ Tao nhớ mày gùi lưng lủi thủi/ Nén mũi kim thêu áo cho chồng,.../ Chợ tình
tâm sự mấy mươi phiên/ Yêu thương gập ghềnh còng dáng núi,...” ( Lời
chợ phiên). v.v....
Vậy
đấy, văn hóa bản địa, sắc tộc tháng ngày lẽo đẽo theo chân nhà thơ mang dấu ấn đời sống thường nhật, từ
nét hoa văn nhà sàn, chuyện cha ông khai sơn lập bản, nét ẩm thực bát rượu nắm
xôi, đến phong tục chợ phiên chợ tình,... với Lò Cao Nhum hòa quện, chung đúc
thành thơ mà nên giọng điệu của riêng
ông.
Cũng như một số nhà thơ dân tộc thiểu
số khác, có thể nói, Lò Cao Nhum ít nhiều góp phần công sức làm phong phú văn
hóa dân tộc mình.
Hơn cả, người ta ghi nhận nhà thơ Lò
Cao nhum ở điểm này.
Những ai, đã ít nhất một lần, như tôi từng nâng bát rượu núi ngồi khoanh
chân nơi sàn nhà Lò Cao Nhum ở Bản Lác, thì hãy thêm lần nâng bát rượu núi trên
tay, bởi Lò Cao Nhum đã mời: “... Rượu nhà tôi// Rượu buộc
chỉ cổ tay/ Thắp lửa tình chiêng, tình trống/ Đã uống vắt kiệt chum mà uống/ Đã
say đổ tràn tình mà say/ Nào bạn ơi/ Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời/ Chụm bền
ngọn núi/ Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.”...
Giờ đây,
.... Rượu
núi ai rót mà say?...
Khi mà, Lò
Cao Nhum đã rời bỏ mọi người, ngủ vùi giấc muôn đời nơi Xứ Mường đồng vàng, núi
xanh, mây trắng,...thả cho thơ mình mặc sức thung thăng !... ./.
NGUYỄN THÀNH LONG
Lại gần để nhìn xa,…
Lặng lẽ Sa pa
Thời hoa niên, đọc truyện
ngắn Lặng lẽ Sa- pa của nhà văn
Nguyễn Thành Long, tôi đã khóc, như sau đó tôi từng rưng rưng trước những trang
văn trữ tình và giàu tính nhân văn của Pauxtôpxky và Aimatốp. Truyện Trời xanh mênh mông, Nguyễn Thành Long
viết về chuyến đi thực tế của một nữ thi sĩ đến với một đơn vị hải quân đang
canh giữ vùng biển, vùng trời ở vịnh Bắc Bộ, càng làm cho tôi thêm yêu mến công
việc của họ. Tôi thầm mong được gặp ông, chí ít là để nói với ông rằng tôi say
cái chất thơ trong những truyện ngắn của ông chừng nào...
Một lần, khi nói chuyện với
nhà thơ Trần Phương Trà (Trần Nguyên Vấn)
tại sân 58 Quán Sứ, ông cho biết là sẽ cùng vài người nữa định đến thăm nhà văn
Nguyễn Thành Long và thế là tôi xin đi theo. Nhà ông ở thuộc một biệt thự cổ
kiến trúc Pháp, chung với mấy gia đình khác, theo kiểu tập thể. Chật hẹp, tối
tăm, chung đụng và dễ va chạm trong sinh hoạt là đặc điểm chung của hầu hết các
khu tập thể cán bộ viên chức Hà Nội một thời. Bước qua đống gạch vụn ngổn ngang
trước cổng số nhà 9 phố Dã Tượng, chúng tôi lần bước theo chiếc cầu thang gỗ ọp
ẹp lên tầng hai. Vợ ông và một cô con gái của ông cũng có nhà. Nhà văn đã quá
yếu sau gần mấy năm ốm liệt giường, nhưng để tỏ lòng mến khách, ông nhờ vợ đỡ
cố ngồi dậy. Trong số những người đến thăm ông hôm ấy chỉ có tôi là lạ, nên ông
hỏi tên tôi trước rồi mới hỏi thăm sức khỏe gia đình từng người. Một lượt như
thế, ông mệt quá thở dốc, nhờ vợ đỡ nằm xuống. Tôi nhìn chăm chăm vào thân hình
nhỏ thó xanh trong xanh bóng vì ốm lâu ngày và cớm nắng của ông mà thầm hỏi,
cái duyên đằm thắm và chất thơ bay bổng mượt mà trong mỗi trang văn của ông ẩn
chứa nơi nào ?...
Qua chuyện trò với vợ ông,
mọi người được biết là chính cái đống gạch vụn ngổn ngang nơi cổng số 9 Dã
Tượng kia là của gia đình ông. Đúng ra là, nhà ông và vài ba nhà khác hiện đang
sống chung số nhà 9 Dã Tượng đã cùng nhau xây mỗi nhà một gian bếp con con dưới
sân ngôi biệt thự ngay giáp với mặt đường, việc này bị xem là vi phạm nên Đội
quy tắc quận dỡ bỏ. Ông nằm nghe mọi người nói chuyện căn bếp, chỉ lặng lẽ đưa
mắt hết nhìn người này sang người khác, tuyệt nhiên không tham gia. Mấy hôm sau
sẽ diễn ra Đại hội nhà văn, mấy anh đi cùng muốn nhà văn Nguyễn Thành Long đến
dự, bởi các anh hiểu, rất có thể đối với ông thì đó là Đại hội nhà văn cuối
cùng, bèn đùa bảo: “Anh cố tới dự. Nếu Hội nhà văn thiếu xe đến đón thì bọn
em đưa anh đi bằng xe đạp. (vỗ vai tôi) Chú này đây còn trẻ khỏe, lại có xe
Phượng Hoàng chắc, bọn em sẽ nhờ chú ấy giúp một tay, thế nào cũng thồ bác đến
Đại hội được”. Ông cười, nhìn mọi người với vẻ biết ơn...
Lẽ dĩ nhiên, tôi không phải
giúp mấy anh ấy đưa nhà văn Nguyễn Thành Long bằng xe đạp, bởi Hội nhà văn rất
quan tâm, trân trọng dành hẳn một chiếc ô tô chuyên đưa đón nhà văn Nguyễn
Thành Long và một số văn nghệ sĩ khác già yếu suốt mấy ngày Đại hội. Sau lần
ấy, tôi cùng đồng nghiệp còn trở lại nhà ông vài lần nữa, và tất nhiên không
phải chuyện văn chương, mà là chuyện xung quanh căn bếp. Thực tình chuyện đơn
giản song xét về lý tình thì khó xử. Nguyên gia đình nhà văn Nguyễn Thành Long
cùng nhiều gia đình khác sống chung trong ngôi biệt thự thời Tây, hầu hết các
nhà đều không có bếp riêng, mà phải đun nấu ngay phòng ở. Cảnh ấy thật bức bối
khi ông ốm liệt giường hàng mấy năm trời, mà quanh năm suốt tháng, ngày vài ba
lần phải ngửi mùi bếp dầu. Bà vợ và cô con gái thương ông quá, nên mới có
chuyện cùng vài nhà khác cơi nới thêm căn bếp dưới sân chung giáp cổng. Nhà có,
nhà không, sinh chuyện kiện tụng, vì thế Đội quy tắc buộc phải dỡ bỏ nhất là
khi ấy thành phố còn chưa có phong trào nhà cơi nới, trổ cửa ra đường như sau
này, nên sự việc thường thành chuyện vi phạm nghiêm trọng làm vậy. Một lần, chỉ
có mình tôi với ông, nhà văn Nguyễn Thành Long bảo tôi, bằng giọng chân tình
gần như thì thầm và đứt đoạn: “Nghe nói,
em có viết văn... Hay lắm... nhưng khó lắm thay... Chân tình là điều cốt lõi...
Còn chuyện căn bếp... Mình biết bà ấy thương mình nên mới làm thế... nhưng mà
không sao, mình quen rồi... với lại, việc nước, việc xã hội thì phải lấy làm
trọng... Nếu sai thì thôi... phải biết chấp hành pháp luật chứ... đúng không
em?...”. Tôi rưng rưng xúc động trước sự chân thực, trong sáng của ông, và
chỉ dám chạm nhẹ bàn tay mình vào cẳng tay gầy tóp, xương xẩu của ông, để bày
tỏ sự đồng tình và lòng biết ơn, cảm phục!...
Rồi mọi chuyện qua đi. Sau
một chuyến đi công tác dài ngày trở về Hà Nội, tôi được biết nhà văn Nguyễn
Thành Long đã mất. Tôi tiếc không được tiễn biệt ông tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Chẳng biết ông có về chốn Lặng lẽ Sa Pa của ông không?...
Hiện thực Sa pa & Lý
Sơn mùa tỏi
Ngày còn đi học, tôi cảm nhận địa danh
Sa-pa thật xa xôi, lãng mn và đầy chất sách vở, ấy là sự ảnh hưởng bởi truyện
ngắn "Lặng lẽ Sa-pa” của nhà văn
Nguyễn Thành Long. Cái bầu không khí se lặng và sương khói hư ảo của dãy Hoàng
Liên Sơn; cái lạ lẫm kỳ bí của đời sống các dân tộc thiểu số sinh sống nơi đây;
và thêm, sự nhiệt tình tận tâm với công việc của những con người miền xuôi lên
đây, tất cả làm nên sự lôi cuốn, hấp dẫn của thiên truyện. Cái truyện ngắn ấy của
Nguyễn Thành Long càng về sau càng trở nên nổi tiếng, thành tác phẩm kinh điển
để các nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học ở xứ ta đưa vào giảng dạy trong hệ
thống văn học nhà trường, trong các khóa học dài hạn, hoặc lớp bồi dưỡng viết
văn xứ minh...
Với riêng tôi, Lặng lẽ Sa-pa không ngoại lệ, và tôi cũng ao ước được đặt chân đến
Sa-pa. Hơn thế nữa, được gặp gỡ hỏi chuyên nhà văn Nguyễn Thành Long, trong một
hoàn cảnh trớ trêu như tôi đã kể. Bằng chất giọng Quảng Ngãi đặc sệt, tuy hơi khó nghe song nhỏ
nhẹ thân thương, ông chỉ chen vào khi cần thiết trong câu chuyện của chúng tôi
với bà vợ ông. Thực ra, khi ấy, tôi và đồng nghiệp là những người được nhà văn
Đặng Quang Tình (khi đó là Trưởng ban Ban
thính giả của Đaì Tiếng nói Việt Nam), theo chỉ đạo của nhà văn Phan Quang,
Tổng giám đốc Đài, cử đến nhà ông để hỏi chuyện, tìm hiểu thực tế, tìm cách
giúp đỡ gia đình ông. Giờ thì là câu chuyện của cái lý, cái tình... Lẽ đương
nhiên, được cả lý cả tình là tốt nhất, còn không, thì phải để cái lý thắng cuộc.
Cũng trao đi đổi lại, song việc của gia đình ông lại thuộc về cái tình, rốt cuộc,
cũng không thể làm gì khác được...
Còn Sa pa, mùa hè năm 2004 tôi mới lần
đầu đặt chân đến. Lần đầu, lạ lẫm, thích thú, chộn rộn, nên ham nhìn, ham biết,
song chẳng mấy nhớ... Sau này, tôi chỉ còn ấn tượng về ngôi nhà thờ cổ nơi
trung tâm thị trấn trầm lặng trong cái lạnh và sương mù; rồi đó là những câu
chuyện hóm hỉnh về chuyện sinh con đẻ cái và những bài thơ ngơ ngác, ngộ nghĩnh
của nghệ nhân dân gian Giàng Seo Gà, người Mông; rồi nữa là hai cô gái phóng
viên trẻ trung xinh đẹp của VOV Tây Bắc, áo đỏ chói, đèo nhau bằng xe máy đổ dốc
diệu nghệ theo các con dốc ngoằn ngoèo, cua tay áo từ Sa pa về thị xã Lào Cai
trong trời mưa to đường trơn nhẫy...
Sau đó, nhiều lần tôi trở lại Lào Cai
và Sa-pa. Giờ thì nhà cửa đẹp đẽ khang trang hơn, nhiều khá khách du lịch đông
hơn, dịch vụ ăn uống cũng đầy đủ, sang trọng hơn. Ấn tượng nhất là những quán
cafe Wifi theo kiểu Tây, na ná kiểu quán cafe phố nhỏ, thị trấn nhỏ ở phương
Tây mà tôi từng thấy trong các chuyến công du nước ngoài. Lẽ dĩ nhiên, thoạt đầu
là để phục vụ khách Tây, rồi đó, nó cũng phù hợp với nét sinh hoạt mới của giới
chủ, giới trẻ xứ ta... Rồi đó, món ăn cá hồi sống kiểu Tây (loại cá hồi được nuôi
ngay tại Sa pa)... Nét văn hóa Tây pha trộn, song cơ bản vẫn là văn hóa bản địa
của người Mông, người Tày Nùng, người Giáy... Cũng không thể không nhắc đến những
phiên chợ Tình Sa pa tụ họp thường xuyên vào tối thứ bảy hằng tuần ngay trung
tâm trước của nhà thờ cổ. Thay vì, chỉ thuần các cặp trai gái người dân tộc thủ
thỉ bên nhau, còn có thêm các cặp gái Mông trai Tây thủ thỉ với nhau bằng tiếng
Anh...
Ôi, một Sa pa vừa lạ vừa quen của thời
mở cửa... Bầu trời trong đầy sao, phảng phất trong gió lạnh buổi khuya mùi ngô
khoai nướng, trứng nướng, mùi thuốc tắm thảo mộc từ hai bên đường lan tỏa... Xa
xa kia bên hồ nước, một cặp nam nữ đang đi nép bên nhau...
Lòng lại nhớ đến bầu không gian huyền
hoặc của một Sa pa trong truyện ngắn "Lặng
lẽ Sa-pa" của nhà văn Nguyễn Thành Long, nhớ đến từng chi tiết của câu
chuyện, nhất là trạng thái hân hoan của chàng trai ở Trạm thủy văn, nhân vật
chính, dùng cái cách đơn giản mà hiệu quả là lăn đá chặn đường ô tô, chỉ với mục
đích dừng xe khách, để được nhìn thấy, được nói chuyện với khách miền xuôi của
một thời khao khát, mộng mơ...
Với nhà văn Nguyễn Thành Long, Sa-pa
khiến ông thành danh. Dĩ nhiên, cùng với Lặng lẽ Sa pa, ông còn có nhiều
truyện khác nữa, cai hay cái thường, vẫn chung một bút pháp trữ tình lãng mạn,
song Lặng lẽ Sa pa nổi bật như một điển hình cho phong cách văn xuôi
Nguyễn Thành Long. Đến mức, tên tác giả và tên truyện gắn chặt với nhau, hễ ai
nhắc đến một người ta liền nhớ cả hai.
Sa-pa đã thế, còn Lý Sơn thì sao ?
Ông quê Quảng Ngãi, tập kết ra Bắc và trở thành nhà
văn. Mặc dù, những truyện ông viết về miền Bắc (cứ coi là quê hương thứ hai của ông đi) đều đẹp và đậm chất thơ
(như : Lặng lẽ Sa pa, Trời xanh mênh mông...), song trong ông
vẫn đau đáu một nỗi niềm quê hương bản quán. Và điều đó, chỉ biến thành hiện thực
khi giải phóng miền Nam, ông được về thăm lại quê hương Quảng Ngãi, được ra đảo
Lý Sơn... Sau chuyến về quê ấy, ông cho ra đời tập sách “Lý Sơn mùa tỏi“. Thực lòng mà nói, mặc dù nặng lòng với quê, nhưng
về bút pháp và giá trị văn chương, theo tôi, “Lý Sơn mùa tỏi“ không bằng những tác phẩm trước ông viết về miền Bắc.
Phải chăng, với Lý Sơn, Quảng Ngãi, mảnh đất cha sinh mẹ đẻ, ông đã quá quen
thuộc, nên khi chấp bút, ông sa vào tả thực, thấy sao viết vậy, như để thỏa nỗi
nhớ mong những năm tháng ngày Bắc đêm Nam, nên nó mất đi chất thơ mộng, một thế
mạnh vốn có của ông.
Song, khi tước bỏ bút pháp giàu chất
thơ, Nguyễn Thành Long không còn là chính mình nữa. Người đọc, không bị ông dẫn
dụ vào mê cung của mình, không còn bị cuốn theo cảm xúc thơ trong mỗi câu văn,
trong từng tình tiết truyện từng làm nên không gian ảo mộng trong mỗi truyện ngắn
trước đây của mình... Ngỡ như có một Nguyễn Thành Long khác vậy ... Vấn đề đặt
ra là ông vô tình hay hữu ý thay đổi bút pháp khi viết Lý Sơn mùa tỏi?
Một hè, lần đầu tôi ra Lý Sơn trong
đoàn công tác của Đài Tiếng nói Việt Nam, mang quỹ hỗ trợ cho tập đoàn nghề cá
của đảo thuộc chương trình giúp ngư dân nơi đây vươn khơi, bám biển. Hình ảnh
ví von của một phóng viên Đài Phát thanh truyền hình Quảng Ngãi trong các phóng
sự của mình, rằng mỗi con tàu ngư dân trên biển Đông như những cột mốc khẳng định
chủ quyền biển đảo thiêng liêng và sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc trên biển,
cứ ám ảnh tôi. Rồi đó là những tư liệu về Hải đoàn Hoàng Sa thời phong kiến và
lễ hội Khao lề tế lính Hoàng Sa còn giữ đến ngày nay,... Tất thảy, khiến
tôi mường tượng, cả đảo Lý Sơn này là một con tàu lớn kiêu hãnh thả neo giữa
trùng khơi. Và mỗi ngôi mộ gió trần mình phơi nắng mưa biển cả, mỗi nhánh tỏi mồ
côi lớn lên trong cát dâng hương vị cay nồng như mỗi con người bám trụ nơi
đây... Với Nguyễn Thành Long, Lý Sơn là một sự trở về, về gần sau bao nhiêu năm
xa cách và thương nhớ, về gần với hiện thực trần trụi của đời sống dân sinh,…Vậy
nên, ông cứ hiện thực mà viết, viết cho thoả sự thèm khát của ngòi bút, cần chi
phải thi vị phủ lên câu chuyện bằng một màn sương khói?...Với riêng tôi, khi đặt
chân bước trên cát biển Lý Sơn, chứng kiến quang cảnh nơi đây, nghe chuyện kể về Hải đoàn Hoàng Sa xưa… để vỡ ra nhiều
điều, thì tôi hiểu, Nguyễn Thành Long đã chủ động thay đổi bút pháp hiện thực
khi ông viết Lý Sơn mùa tỏi, bởi chỉ bằng bút pháp ấy mới tải nổi hiện
thực cuộc sống từ quá khứ đến hiện tại
vùng đất khơi xa nắng gió này. Thêm nữa, cả một đời văn đã ru rín rồi, mà hiện
thực cuộc sống thì bề bộn thế, ông cũng muốn thử sức mình khi thay đổi bút pháp
chứ?
Và như vậy, Lý Sơn mùa tỏi, lại có giá trị hiện thực riêng của nó...
Trở lại Sa-pa thì sao? Giờ Sa-pa
thành điểm du lịch nổi tiếng, đường cao tốc băng băng, lại thêm cáp treo lên đỉnh
giời Phanxipan, nên mỗi dịp nghỉ lễ hay cuối tuần, khách tham quan ùn ùn đổ về làm
trục xuyên tâm thị trấn tắc nghẽn, người xe nhích từng tý như trung tâm Hà Nội
giờ cao điểm… Phải vậy chăng, khiến tôi đọc lại Lặng lẽ Sa pa thấy hồn
vía câu chuyện bay đi nhiều?
Hãy cất giữ Lặng lẽ Sa-pa vào đâu đó,
một nỗi buồn xa vắng bàng bạc của thời gian,... song đó lại là ký ức một thời
thanh thiếu của tôi và những ai đó cùng thời?...
NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
Người đi Ma ở lại,...
Khi nảy ý định viết một cuốn
sách, kiểu như chân dung văn học, kể cả khi không phải là chân dung đúng nghĩa,
chỉ là phác thảo về một văn nhân, thi nhân nào đó, hay nói theo dân họa, là phảy
mấy nét, thấy bóng dáng thôi, tôi lại nghĩ đến nhà văn Nguyễn Khắc Trường. Thế
là trong bản danh sách mà tôi nêu ra, cùng các nhà văn nổi tiếng như Kim Lân, Đỗ
Chu, Vũ Thư Hiên, Trần Đình Hiến... tôi điền tên ông, Nguyễn Khắc Trường.
Có lẽ, trước hết, bởi ấn
tượng về ông mà tôi thấy trong buổi cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó chủ tịch Hội
Nhà văn Việt Nam cùng mấy cán bộ hội đên tận nhà riêng để trao cho nhà văn huy
hiệu 45 năm tuổi Đảng. Một Nguyễn Khắc Trường ốm yếu nhiều năm, khó khăn nhích
từng chút từ giường nằm đến bên bàn viết ngay cạnh đó. Vậy là ông buông bút rồi.
Bất lực với công việc mà mình theo đuổi cả đời, sống vì nó, vui buồn vị nó,...
Với nhà văn Nguyễn Khắc Trường,
tôi biết trước tiên là bút danh Thao Trường cùng các sáng tác của ông chủ yếu
trên tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Văn Nghệ. Mặc dù vậy, không có gì nổi trội,
ông vẫn lẫn vào dàn nhà văn cầm bút và trưởng thành trong cuộc chiến tranh chống
Mỹ của dân tộc. Thú thật, tôi chẳng nhớ gì về các tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường
trước đó, cho đến khi tiểu thuyết “Mảnh đất lắm
người nhiều ma” xuất hiện. Công bằng mà nói, tiểu thuyết này của Nguyễn Khắc Trường nổi
lên như một hiện tượng của văn xuôi Việt Nam hiện đại, trước tiên là tự thân
tác phẩm. Hội tụ đủ các yếu tố cấu thành nên tác phẩm, từ không gian truyện, nội
dung câu chuyện trong bối cảnh hiện thực xã hội nông thôn xứ ta, ngôn ngữ, giọng
điệu kể chuyện, chi tiết, nhân vật điển hình và thông điệp nhà văn gửi gắm,...
hợp thành làm nên thành công cho tác phẩm.
May mắn sao, cùng các tác phẩm
khác (“Bến không chồng” của Dương Hướng…), “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nuyễn Khắc Trường được Hội
Nhà văn Việt Nam tặng thưởng hằng năm, tạo thành chiếc kiềng ba chân vững chắc,
đánh dấu sự đổi mới của Văn học Việt Nam hiện đại. Vậy là, đã vững lại càng
thêm vững.
Thêm nữa, ấy là sức lan tỏa của
tác phẩm này tăng lên bội phần nhờ việc được chuyển thể thành phim truyền hình
nhiều tập, phim “Đất và người”, do Nguyễn Hữu Phần và Phạm
Thanh Phong đạo diễn, khiến đông đảo người xem chưa từng đọc tác phẩm in, được
tiếp cận qua hình thức tác phẩm điện ảnh với thế mạnh riêng có.
Vậy nên, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường trở
thành hiện tượng nổi trội là đương nhiên.
Trở lại chuyện về Nguyễn Khắc Trường,
con người nhà văn. Lần đầu tôi gặp ông là ở số 4 Lý Nam Đế, trụ sở của tạp chí
Văn nghệ Quân đội, quãng đầu những năm 90 thế kỷ 20. Khi ấy, nhà thơ Trần Đăng
Khoa vừa tốt nghiệp trường Gorky bên Nga, về nhận công tác ở đây. Tôi là phóng
viên của Đài Tiếng nói Việt Nam ở 58 Quán Sứ, nên hay tranh thủ tạt sang chỗ
Khoa, tán gẫu hoặc rủ nhau đi ăn trưa. Phía sau tòa nhà kiến trúc Pháp là dãy
nhà cấp 4, Khoa ở một phòng dãy ấy. Tôi nhớ, có phòng của nhà văn Khuất Quang
Thụy, nhà văn Nguyễn Khắc Trường, nhà thơ Vương Trọng và nhà thơ Nguyễn Đức Mậu
thì phải. Các nhà hay tạt sang phòng nhau chuyện phiếm. Nhờ thế mà tôi gặp nhà
văn Nguyễn Khắc Trường và các vị khác. Trần Đăng Khoa giới thiệu tôi với các vị, đại khái đây là bạn học, làm thơ
cùng thời với Khoa, giờ có viết truyện ngắn, đang làm việc ở Đài... Còn các vị
cũng cười đãi bôi kiểu xoa đầu thằng bé “à thế à”. Tôi khép lép, vâng dạ, chủ yếu
nghe các vị đàm thoại với nhau, tự coi mình là kẻ tập tọng văn chương, nghe ké
học lỏm, thế cũng là vui rồi.
Ấn tượng ban đầu của tôi về nhà
văn Nguyễn Khắc Trường là vẻ xuề xòa dễ chịu, chẳng có gì là tinh vi tinh tướng
cả, mặc dù khi ấy ông nổi lên lừng lững như trái núi với tiểu thuyết vừa xuất bản
“Mảnh đất lắm người nhiều ma” thu hút bạn đọc cả nước và khiến
giới cầm bút xứ ta nể trọng và thèm muốn có được cuốn sách như vậy.
Sau đó, nghe tin nhà văn Nguyễn
Khắc Trường rời khỏi Nhà số 4 Lý Nam Đế chuyển sang làm việc ở Báo Văn nghệ, rồi
nữa là Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Cả quãng thời gian này, tôi không gặp ông và hầu
như cũng không đọc được tác phẩm mới nào của ông. Cứ như ông không còn tồn tại
ngoài cái tên và tác phẩm đã mang lại vinh quang nghề viết cho ông. Lâu lâu, lại
nghe tin ông đã nghỉ hưu, rồi ốm đau bệnh tật gì đó, ngồi một chỗ. Biết vậy,
tôi vẫn nghĩ, một ngày nào đó sẽ được đọc tác phẩm mới của ông,...
Tôi về làm trang Web của Hội Nhà
văn Việt Nam, rồi chuyển sang làm biên tập ở Tạp chí Nhà văn & cuộc sống do nhà thơ Trần Đăng Khoa làm Tổng
biên tập. Những lúc hầu chuyện các bậc đàn anh văn chương, mọi người hay nhắc
chuyện cũ, rằng nhà văn Ma Văn Kháng ốm thế này, nhà thơ Y Phương bệnh thế nọ,
nhà văn Đào Thắng tật thế kia, nhà văn Tô Đức Chiêu cũng ngồi một chỗ... và
trong các cuộc chuyện gẫu hay đàm luận văn chương như thế, người ta nhắc đến
nhà văn Nguyễn Khắc Trường cùng các tác phẩm của ông.
Đầu năm 2024, trước tết Giáp
Thìn, nhà thơ Trần Đăng Khoa rủ tôi đi cùng ông đến nhà riêng của nhà văn Nguyễn
Khắc Trường đặng trao huy hiệu 45 năm tuổi Đảng cho ông. Vậy là tôi may mắn được
chứng kiến cuộc gặp gỡ đầy vinh dự và cảm động, cũng được xem là lần gặp gỡ cuối
cùng của nhà thơ Trần Đăng Khoa và nhà văn Nguyễn Khắc Trường. Hôm ấy, ông tỉnh
táo và minh mẫn, duy chỉ không đi lại được, con cái dìu chật vật mới di chuyển
được ông từ giường ra ghế ngồi để thực hiện nghi thức trao quyết định và gắn
huy hiệu. Xong việc chính, Trần Đăng Khoa chuyện đùa tếu táo cốt để gây bầu không
khí vui vẻ. Tôi hỏi chuyện xem ông có viết được nữa không, thì ông cười nhẹ, lắc
đầu bảo không. Thế còn đọc, trả lời, chút chút thôi cho đỡ buồn. Vậy xem như là
chấm hết rồi, tôi thầm nghĩ. Khi Trần Đăng Khoa báo tin cho ông việc nhà văn
Nguyễn Trí Huân đang điều trị bệnh hiểm nghèo, Nguyễn Khắc Trường cứ thế à, thế
á, rồi ông nhệu nhạo, lặp đi lặp lại một câu “Huân nó tốt lắm’, nước mắt nhòe khóe mắt ông...!
Thế rồi ông lặng lẽ ra đi vào một
ngày thu đẹp nắng hanh hao với chút lạnh se se vào đêm và sáng sớm. Không xuất bản thêm tác phẩm nào nữa sau tiểu
thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Dường như, nhà văn Nguyễn Khắc
Trường xem thế là đủ đối với ông, bởi từ khi cho ra mắt tiểu thuyết đến cho đến
khi ông tạ thế là hơn ba mười năm và trong quãng thời gian dài ấy, ông có ít nhất
hai mươi năm sung sức. Vậy vì sao nhỉ? Tôi tự hỏi và lại tự tìm cách lý giải,...
Thật lòng, ngay sau hôm đến thăm
nhà Nguyễn Khắc Trường cùng nhà thơ Trần
Đăng Khoa, tôi có tìm hiểu, được biết, ông chỉ xuất bản vỏn vẻn 4 tập sách, bao
gồm “Cửa khẩu” (1972), “Thác rừng” (1976), “Miền đất mặt trời” (1982) và sau cùng là “Mảnh đất lắm người nhiều ma” (1990). Tôi mang điều này thắc
mắc với Trần Đăng Khoa và được biết, sau đó Nguyễn Khắc Trường có khởi thảo một
tiểu thuyết nữa có tên là “Trang trại” nhưng bỏ dở chừng hoặc giả đã
xong nhưng không xuất bản (đã in mấy chương trên tạp chí Nhà văn & tác phẩm), mà nguyên do một phần là từ lời
bàn ra của Trần Đăng Khoa. Gần đây, trong một bài viết mang tính vĩnh biệt nhà
văn Nguyễn Khắc Trường sau khi ông tạ thế, ở đấy, Trần Đăng Khoa tiết lộ rằng,
khi viết “Trang trại”, ông có đưa bản thảo nhờ Trần
Đăng Khoa đọc thẩm định. Lời khuyên của Trần Đăng Khoa là không nên xuất bản cuốn
này bởi nó đã “mất chất
nhung tuyết Nguyễn Khắc Trường” và ông đã nghe lời khuyên ấy,
quyết định không cho ra mắt đứa con tinh thần này. Tôi nghĩ, đấy chỉ là một
cách nói khéo của Trần Đăng Khoa, bởi trong câu chuyện bên ngoài, Khoa bảo, cuốn
ấy Nguyễn Khắc Trường viết na ná cuốn trước, về mô-típ nhân vật, cách kể chuyện,
mà văn phong lại kém đi. Trần Đăng Khoa bảo, mình đã nói với Nguyễn Khắc Trường
rằng, cuốn sau không nhất thiết phải hay hơn cuốn trước và cũng có thể kém hơn,
chẳng sao, nhưng quan trọng nó phải khác hẳn. Chẳng rõ, Nguyễn Khắc Trường tiếp
thu nhận xét của Trần Đăng Khoa ra sao song rõ ràng là ông quyết không xuất bản
tiểu thuyết này nữa.
Tôi lại nghĩ, có lẽ Nguyễn Khắc
Trường bị ám thị bởi chính tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của mình. Ông xem như đó là ngọn
núi mà mình đã chinh phục được và không muốn ngọn núi sau mình chinh phục lại
thấp hơn ngon núi trước.
Không xuất bản sách nữa, Nguyễn
Khắc Trường chuyên tâm việc biên tập, nâng đỡ các nhà văn trẻ, chăm chút nâng
giấc cho các tác phẩm của họ đăng đàn trên báo Văn nghệ, được xuất bản thành
sách qua Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Việc làm đó của ông thật trân quý!
Giờ nhà văn Nguyễn Khắc Trường
khuất bóng ở cái tuổi 78, chưa đến cái ngưỡng đại thọ nhưng cũng đã là già. Xưa
cụ Nguyễn Du bảo “thác là thể phách hồn là tinh anh”, thế nên, tinh anh Nguyễn
Khắc Trường vẫn lừng lững đó nơi tác phẩm “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của ông. Thú vị nữa, các nhân vật
điển hình mà ông tạo dựng nên trong tác phẩm này như lão Hàm, Chu Văn Quềnh… đã bước ra khỏi sách vào đời sống xã hội hàng
ngày!
Vây nên, với Nguyễn Khắc Trường
và tác phẩm của ông, nói vui, đúng là Người đi, Ma thì ở lại!
NHẬT TUẤN
“con chim biết chọn hạt”?...
“Con chim biết chọn hạt”, ấy là tên một truyện vừa của nhà
văn Nhật Tuấn, đã được chuyển thể thành phim truyện, mà tôi từng đọc và xem.
Ngày ấy, Nhật Tuấn là một cây bút truyện ngắn sung sức, đáng chú ý... Thú thực,
cùng “Con chim biết chọn hạt”, thì “Trang 17” và một số truyện
của Nhật Tuấn đăng tải ở báo chí văn chương tôi đã đọc ngày đó, tôi không được
đọc thêm các tác phẩm khác của ông, kể cả tiểu thuyết từng gây tiếng vang là “Đi về
nơi hoang dã”. Còn ngoài đời, tôi cũng chỉ gặp nhà văn Nhật Tuấn đôi lần,
lúc trà dư tửu hậu, nên có thể nói, là chưa mấy biết về ông,...
Maythay, tôi nghĩ vậy, tôi có duyên với
nhà văn Nhật Tuấn là nhờ mạng xã hội. Dạo ấy, chừng cuối năm 2010, Nhật Tuấn
vào mạng Blog Tiếng Việt (blogtiengviet,net) ghi cảm nhận cho một
bài viết của tôi, dạng khách đọc, dưới cái tên “Người qua đường”, và ngay
lập tức, ông đã gây ra sự chú ý của cộng đồng mạng. Ngày ấy, xứ ta chưa mấy biết
đến Facebook, nên số người trở thành blogger
và khách xem ở Blog này rất đông. Tôi đến với Blog Tiếng Việt (BTV) như một sự ngẫu nghiên. Nhưng còn cái duyên của
tôi với nhà văn Nhật Tuấn thì sao?
Đấy là nhờ BTV, kỹ thuật tin học hiện
đại đã cho phép tôi lưu giữ dấu tích đầu tiên Nhật Tuấn vào đọc trang blog của
tôi và để lại cảm nhận, ấy là lúc 18h33 ngày 01,3,2011. Đại khái, ông khen
trang của tôi vui, bảo rằng là qua tôi mà biết Trần Đăng Khoa cũng có blog ở
đây, rồi ông phán là trang của tôi, bình luận nghe xôm trò hơn văn chương, và hứa
sẽ năng vào đọc. Điều này cho thấy, ông đã đọc nhiều bài biết của tôi trước đó
và các cảm nhận cho mỗi bài viết, nên mới đưa ra nhận định như vậy. Đặc biệt là
trước đó, ngày 27.2.2011 tôi đăng bài giới thiệu một bài thơ ứng tác của Trần
Đăng Khoa từ hồi 1975, khi chung đội tuyển Học sinh giỏi Văn lớp 10 (hệ 10/10) của tỉnh Hải Hưng (cũ) tham dự
kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, thì Nhật Tuấn mới thấy cần thiết phải xuất
hiện (01.3,2911), tuy nhiên, ông tránh không sa vào việc tranh luận mà ông cho
là vô bổ đối với mình. Số là, bài giới thiệu này của tôi có rất đông người đọc
và ghi cảm nhận, tranh luận, khen chê búa xua. xung quanh việc bài thơ ứng tác
này của Trần Đăng Khoa không tuân thủ luật bằng trắc của thơ Đường luật. Cứ thế,
mọi người bàn qua bàn tới sôi nổi lắm, cho đến khi chính Trần Đăng Khoa cũng phải
ngỏ lời này nọ,... Có lẽ vậy, nên Nhật Tuấn né việc tranh luận chăng? Bởi chỉ
ít lâu sau, ông bộc lộ sự chán chường với thi ca hiện tại, trong những lời cảm
nhận trang văn thơ của tôi, cùng lời khuyên răn thẳng thắn, chân tình,...
Ở thời điểm này, khi vào trang của
tôi, Trần Đăng Khoa và Nguyễn Trọng Huân cùng một số blogger khác, Nhật Tuấn
không xuất đầu lộ diện, ông đều đứng dưới cái nick Người qua đường. Có cảm
nhận ghi ở trang của tôi, ông lại chê sáng tác của người khác, tôi ái ngại việc
này nên để cảm nhận ấy ở chế độ ẩn. Ngay lập tức, Người qua đường phản ứng,
vì tưởng tôi xóa đi, bảo rằng, tôi có xóa thì vẫn cứ nói thẳng, rằng việc chê
văn người này người nọ, cũng được ghi bên trang của họ rồi, nên không việc gì
phải ngại, và nhắn rằng "Tôi không
phải kẻ phá đám đâu. Rất yêu các ông". Thẳng thắn và chân tình như vậy
đấy.
Dịp ấy, tôi có đăng liền 2 truyện ngắn
của mình là Giải thoát và Người nổi tiếng, Trần Đăng Khoa đọc,
khen chê này nọ, Người qua đường vào ghi "Ý kiến của Trần Đăng Khoa rất xác đáng. Rất tinh. Chỉ có vài chục chữ
mà ra cả một vấn đề. Cậu này làm biên tập rất chuẩn. Thảo nào hắn luôn được mời
làm giám khảo các cuộc thi văn chương từ trung ương đến địa phương....".
Đọc cảm nhận này, tôi cảm thấy ngay vị khách này phải thuộc hàng cao thủ văn
chương thì mới dám dùng lời lẽ vậy để nói về Trần Đăng Khoa. Và suy đoán này của
tôi không sai, khi chỉ sau đó một ngày, vị khách này lại vào ghi cảm nhận, lúc
22h49 ngày 15.3,2011: "Quả thật từ
ngày có Lão Khoa nhập hội, Quán lá Blog sinh động hẳn lên. Tôi cũng vì hay theo
dõi lão này, nên theo chân lão vào đây và không ngờ lại thấy rất nhiều văn nhân
tài tử. Nhiều tay bợm ra trò. Tôi uống rượu với Chu Nhạc hai lần. Một lần ngồi
cùng bàn, một lần ngồi cách bàn, nhưng hồi đó tôi không chú ý đến Chu Nhạc lắm,
vì trong chú rất thư sinh, và văn chương cũng mang đầy phong thái học trò. Bây
giờ thì khác. Chu Nhạc đi được một bước xa đấy. Tôi không quan tâm lắm đến thơ
Chu Nhạc đâu, đấy không phải thế mạnh của Chu Nhạc. Mà nhìn chung, thơ bây giờ
đã mất vị thế. Trừ một vài người có tài. Số này ít lắm, còn toàn ca dao hò vè
nhăng nhít. Đám truyền thống thì cũ mèm, lần thẩn. Đám cách tân thì bệnh hoạn.
Đều hỏng cả. Thời chiến tranh, người ta dùng ca dao hò vè để hô hào, cổ động, động
viên nên thơ còn có chỗ đứng. Bây giờ không cần hò lơ nữa nên thơ cũng mất độc
tôn. Chu Nhạc nên dồn tâm sức cho văn xuôi và phê bình. Thế mạnh của chú ở đó.
Đừng phí sức vì thơ, để cho mấy anh vô công rồi nghề nó vầy nghịch. Vầy mãi tự
họ sẽ chán, chứ người đọc chẳng quan tâm.". Tôi đọc rồi vừa mừng vừa
lo. Mừng bởi vị khách này đã từng uống rượu với tôi đôi lần, vậy là người quen
rồi. Còn lo, bởi vị khách này thẳng toẹt chê thơ của thiên hạ. Thế nào cũng
sóng to gió lớn đây.
Quả nhiên, ngay lập tức, kế ngay cảm
nhận của vị khách khó tính, liền mấy cảm nhận khác bày tỏ sự bực bội, khó chịu
với nhận xét chung về thơ và người làm thơ ở xứ ta, theo sự đánh giá của Người
qua dường. Không những thế, họ còn bực lây sang tôi, và có người còn thẳng
thắn khuyên tôi, chớ có nhẹ dạ cả tin nghe theo cái nhận xét coi thường thi ca
của vị khách nọ. Tôi lúng túng chưa biết xử trí ra sao, may thay, Trần Đăng
Khoa cứu tôi bằng cách quăng cho tôi cái phao cứu sinh, ấy là danh tính thật của
vị khách khó tính này.
Trần Đăng Khoa đến uống trà với tôi,
ngỏn ngoẻn cười duyên: "Đấy là nhà
văn Nhật Tuấn, ông ấy bỏ Hà Nội vào Sài gòn sống rồi".
Chẳng là, Trần Đăng Khoa vốn được xem
là con ma xó của văn chương đất này,
lại thêm, lão ta là Trưởng ban Ban công tác hội của Hội Nhà văn Việt Nam khi ấy,
nên cái gì trong làng văn Việt cũng biết cả. Nghe vậy, tôi à lên sung sướng, và
liền có ngay lời kính thưa, để lọt tai Nhật Tuấn mà không mất lòng bạn bè, công
chúng mạng: "Chủ nhà xin có mấy lời
thưa, mong tránh những hiểu lầm không cần thiết,...Thứ nhất, blog là chỗ giao
lưu vui vẻ, không phải là diễn đàn chính thức của hội này hội nọ, mà nó như một
gia đình lớn vậy. Chính thế, khi trò chuyện giao lưu, tùy tính cách từng người
và hoàn cảnh, nên lời nói cũng lúc căng, lúc chùng, lúc mặn lúc nhạt, thế
thôi...Thứ hai, riêng về vị khách Người
qua đường (NQĐ), gần đây có vào thăm nhà của Lão Khoa và Chu Nhạc tôi, với
những lời góp ý thẳng thắn và chân tình về thơ văn của chúng tôi và nhìn chung
diễn đàn văn chương hiện nay, về cơ bản không có gì sai ... nên hai chúng tôi rất
tôn trọng ý kiến của bác ấy. Thêm nữa, về vị khách NQĐ, cả tôi, nhà thơ Trần
Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trọng Huân đều biết. Riêng tôi, đã uống rượu với bác ấy
đôi lần rồi cơ mà... Tôi biết rõ bác ấy, vốn nhà một nhà văn chuyên nghiệp, xuất
hiện trên văn đàn gần bốn mươi năm nay, có nhiều tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết
và truyện ngắn) được giải cao, được dựng thành phim. Từ lâu nay, bác ấy luôn là
niềm kính trọng của tôi (và cả với Trần Đăng Khoa nữa). Chính vì thế, khi bác ấy
vào nhà Khoa hay nhà tôi, đều đưa ra lời nhận xét thẳng tưng của một nhà văn
lão làng với góc độ của nhà phê bình nghiêm ngặt, nên về phương diện cá nhân,
tôi chấp nhận một cách vui vẻ, và xem như lời khuyên của một bậc huynh trưởng với
em út. Còn như, nếu trong lời bàn với tôi (và Khoa nữa) có gì đó khiến mọi người
chạnh lòng, thì cũng xem như là bác ấy chỉ nói với riêng hai chúng tôi,..".
Quả nhiên, lời trần tình của tôi có hiệu lực tức thì, bạn bè và người quên trên
mạng vui vẻ bỏ qua,...
Còn Nhật Tuấn, cũng thấy bùi tai, ông
phúc đáp: "Cám ơn chú Chu Nhạc đã rất
hiểu tôi. Tôi cảm nhận vào trang chú với chú Khoa, chú Huân cũng vì quý ba chú.
Chứ tôi đọc Blog nhiều lắm. Những tiếng nói thật bây giờ, phần lớn ở Blog,
nhưng vào rồi ra, không để lại một dấu vết nào, vì cũng không có gì để nói...
Văn chương lại là chốn rất nghiêm túc. Chú có chút tài, nên tôi hy vọng chú
thành một tác giả đích thực. Chỉ tiếc chú chưa thực sự ý thức về điều này, dù
đã ra đến cả chục tập sách. Vì vậy, mà tôi nhắc chú thôi, nếu gặp chú thì tôi
nói miệng, chẳng viết làm gì, Nhưng hiện tôi ở xa, mãi Thủ Đức, mà chú thì ở Hà
Nội, thành thử mới phải nhắn qua bức thư ngỏ, với cái tên rất hiện đại là cảm
nhận. Chúc chú thành công.". (lúc 08h48, ngày 17.3.2011).
Khi đã biết vị khách Người
qua đường là nhà văn Nhật Tuấn, thì mọi sự với tôi đều sáng tỏ. Tôi nhớ
lại, từ vài chục năm trước, khi tôi theo đòi nghiệp văn chương thơ phú, thì Nhật
Tuấn đã vang danh rồi. Ngày ấy, nhờ truyện ngắn Trang 17 của ông mà tôi
hiểu tại sao, tất cả các cuốn sách trong hệ thống thư viện nói chung, để ấn định
bất kỳ một bản sách nào thuộc quyền sở hữu của thư viện nào đó, người ta lại
đóng con dấu của thư viện đó vào chân trang sách số 17, đơn giản bởi trong kỹ
thuật in sách, mỗi tay sách gồm 16 trang, nên trang số 17 là trang đầu của tay
sách thứ 2 trong văn bản sách đó. Mặc nhiên, đấy là quy định chung của ngành
thư viện trên khắp thế giới. Cũng chính vì vỡ nhẽ điều này, sau đó, tôi bắt chước,
khắc một con dấu gỗ tên mình để đóng vào trang 17 toàn bộ sách trong thư viện
mi-ni của mình. Ngay truyện vừa Con chim biết chọn hạt của Nhật Tuấn,
ông cũng cho bạn đọc hiểu một việc mà rất ít người biết, ấy là sự ứng dụng mang
tính sáng tạo của ngành thư viện, lưu trữ văn bản nước ta, trong việc sử dụng
phiếu đục lỗ cho việc lưu trữ, tìm kiếm, tra cứu tài liệu văn bản tiện lợi dễ
dàng hơn. Sau này, tin học phát triển, tôi nghĩ, phải chăng, việc sử dụng phiếu
đục lỗ ngày đó như một dạng ứng dụng thuật toán tin học gì đó đơn giản trong thực
tế đời sống?
Và rồi, tôi cũng nhanh chóng biết được,
Nhật Tuấn có người anh ruột là nhà văn hải ngoại Nhật Tiến, và việc này cũng ít
nhiều gây phiền hà cho ông. Bạn bè văn chương cũng gửi cho tôi đọc những bài
phê bình văn học của ông, với bút danh Trần Ngọc Lãng (TNL). Ở đó, ông thẳng
tưng đánh giá sự nghiệp sáng tác, cùng mức độ đóng góp của một số tác gia thuộc
hàng đầu làng văn chương xứ Việt thời hiện đại, cho sự phát triển chung của nền
văn học nghệ thuật nước nhà. Đọc rồi, ngẫm nghĩ, so sánh này nọ, mới thấy cái dũng
khí và năng lực phê bình ở ông không nhỏ chút nào,... Vậy nên, việc ông ghi cảm
nhận này nọ trong Blog Tiếng Việt, vẫn
một tâm thế và giọng điệu Trần Ngọc Lãng, thì chỉ như cái khẽ gảy móng tay của
Nhật Tuấn mà thôi. Nghĩ thế, tôi thấy mình may mắn vì được ông đoái hoài, nhận
xét và khuyên răn này nọ.
Và cũng mừng, mình đã đôi lần uống rượu
với Nhật Tuấn. Nhớ lại, khi ấy nơi làm việc của tôi và nhà văn Nguyễn Hiếu,
Nguyễn Trọng Huân ở 41-43-45 Bà Triệu, cũng gần nơi làm việc của Nhật Tuấn là Nhà xuất bản Văn học ở góc phố Hàng
Bài-Trần Hưng Đạo, liền kề với Trụ sở
Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam- 51 Trần Hưng Đạo. Tháng vài
ba lần, ba anh em chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm bụi buổi trưa, và quán cơm bình
dân Anh Đào ở gần góc phố Hàng Bài-Hàm Long là nơi chúng tôi hay chọn ăn. Ở
quán này, chúng tôi thường chạm mặt dân báo chí, văn chương Hà thành. Một lần,
đang ăn ở đây thì Nguyễn Hiếu chợt nhận thấy Nhật Tuấn ngồi ăn cách một bàn,
bèn mang chén rượu sang cụng ly với Nhật Tuấn và thực khách bên ấy, rồi Nguyễn
Hiếu lôi Nhật Tuấn về bàn mình, giới thiệu ông với chúng tôi. Ấy là lần đầu
tiên tôi giáp mặt Nhật Tuấn. Lần sau, cũng tại quán đó, chúng tôi thấy Nhật Tuấn
và bạn ông đã ngồi ăn và Nguyễn Hiếu liền ghép bàn. Cụng ly dăm bận, rượu vào lời
ra, chuyện làng văn rôm rả. Tôi mạnh dạn thưa với nhà văn đàn anh rằng tôi đã đọc Trang 17 và Con chim biết chọn hạt, cùng một số truyện ngắn của ông trên báo
chí. Ông lúc gật gù, lúc sảng khoái, bảo cũng đã đọc mấy truyện ngắn và tản văn
của tôi trên báo, này nọ khen chê đôi chút. Ngày ấy, tôi sung sức và chịu khó
cày báo chí văn chương này nọ đặng kiếm nhuận bút thêm thắt nuôi con nhỏ, nên
truyện và tản văn của tôi đăng khá đều trên các báo Văn Nghệ, Người Hà Nội,
Hà Nội mới cuối tuần,Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Pháp Luật cuối tháng... Lần
gặp ấy, ông để lại trong tôi thiện cảm về tính bộc trực và sự gần gũi, thân thiện
của nhà văn đàn anh. Vậy mà, bẵng đi dăm bảy năm, trong khi tôi không mấy nhớ,
thì Nhật Tuấn vẫn nhớ và nhắc lại chuyện cũ nên tôi cảm thấy như có lỗi với
ông...
Khi tôi đăng bài viết "Đào
Chìm & nghệ thuật xây dựng không gian truyện" trên trang cá
nhân, mọi người ào ào vào ghi cảm nhận, chủ yếu là khen bài viết tốt, trong đó
có các cao thủ như PGS.TS Minh Tâm, một số nhà văn hải ngoại như Vũ Thư Hiên,
Vũ Trọng Trường và đặc biệt Vũ Hoàng Định (người
thân của nhà thơ Vũ Hoàng Chương), Đại tá Trần Trọng Trí, vị cựu thuyền trưởng
tàu HQ05-nguyên mẫu của chính trị viên Thuận trong Đảo Chìm, cùng các thùy thủ thuộc cấp một thời của ông và nhiều bạn
đọc khác. Tựu chung, mọi người khen bài viết gọn gàng, súc tích, có sử dụng thi
pháp khá nhuần nhuyễn, và quan trọng làm sáng tỏ và tôn trọng giá trị đích thực
của tác phẩm này. Trần Đăng Khoa lấy đó làm vui, và đương nhiên, không thể thiếu
nhận xét của Nhật Tuấn, ông viết: "Tôi
cũng đã đọc Đảo chìm của Khoa, do ông Nguyễn Khải cho mượn. Đọc vì tò
mò. Khoa viết chân dung văn học thì giỏi, nhưng văn xuôi chưa chắc, vì nó là một
thể loại khác. Nhưng đọc thì giật mình. Quả đây là một cuốn sách độc đáo. Kể
vui vui, như chơi, nhưng ý tứ thâm hậu. Cái ý ngầm Khoa muốn nói, bạn đọc cũng
đã nhận ra. Tôi cũng rất nể mấy vị cảm nhận. Sâu sắc và am tưởng. Khoa hạnh
phúc hơn rất nhiều người viết khác, trong đó có cả tôi là có bạn đọc và có người
chia sẻ. Nhận xét của Chu Nhạc cũng rất mới, cũng là một phát hiện, mà không phải
nhà nghiên cứu nào cũng nhìn ra. Ngay rất nhiều lời bàn, trong đó có không ít ý
kiến đặc sắc, nhưng cũng không phải ai cũng có sự phát hiện như Chu Nhạc. Tiếc
là viết vội, vì mới là cảm nhận, hứa hẹn đây sẽ là một tác phẩm phê bình hay.
Tôi vẫn nói Chu Nhạc dồn tâm lực trí tuệ cho văn xuôi và phê bình, vì chú có
tài, dấn lên là có sự nghiệp đặc sắc đấy".
Thực lòng, tôi vui vì nhận xét của
các bậc cao thủ văn chương, nhưng vui nhất là nhận xét của Nhật Tuấn, bởi vượt
qua sự nhận xét thông thường, ông còn chỉ ra những điểm mạnh yếu của tôi và có
lời khuyên chân tình. Riêng về lời khuyên của Nhật Tuấn và các bậc đàn anh văn
chương, đẩy bài viết này lên thành một nghiên cứu về thi pháp tiểu thuyết của
Trần Đăng Khoa, thì tôi nghe làm vui thôi, bởi tự thân, tôi không có ý dấn thân
vào lĩnh vực lý luận phê bình, mà xem đó như một thú rong chơi thôi. Thể loại
yêu thích của tôi vẫn là truyện ngắn và tản văn...
Tôi đăng bài thơ Đón đợi, viết từ gần hai
chục năm trước, thì Nhật Tuấn: “Tôi không
bàn về bài thơ này của chú đâu, dù trong đó cũng có đoạn được, thậm chí có thể
gọi là hay, như cái đoạn đợi chờ, trời đất vắng hết, ngẩng lên chỉ còn mỗi vầng
trăng thôi. Nhưng đó cũng vẫn là cái hay ở dạng nhàng nhàng.Tất nhiên thơ in
trên báo Văn nghệ, trên tạp chí Nhà Văn, thậm chí trên cả một tạp chí chuyên biệt
giành riêng cho thơ là tạp chí Thơ cũng chẳng hơn thơ chú đâu,... Gần đây, nhà
phê bình X, nhà văn Y cũng nhảy sang làm thơ là thế giới thi ca ngậu xị rồi...
Thế nên: Nhà nhà làm thơ/ Người người
làm thơ/ Vè nhất định thắng/ Thơ nhất định thua... Thế thì chú còn xông vào
cái sa tràng bại trận "nhất định thua" đó làm gì. Tôi vẫn thấy chú rất
mạnh ở mảng văn xuôi và phê bình. Bài nào cũng có một cái gì đó lấp lánh. Cái độ
lấp lánh này mật độ không dày và không chuyên nghiệp như Khoa, nhưng rất khá,
và có điểm chú còn chói hơn Khoa. Nhưng
Khoa hơn chú vì nó chuyên tâm và có ý thức vì điều đó, vì thế, nó mới thành nó.
Còn chú thì cho đến giờ phút này vẫn đếch thành cái gì cả. Tôi tiếc cho chú mà
nhắc chú thôi, vì chú có tài. Tôi rất quý những thằng có tài, nên cứ nói. Đấy
cũng có khi là bệnh của người già. (Tôi
đã hơn 70 rồi). Mặc dù nói thế này, có thể những người hâm mộ chú thái quá
có thể lại chửi tôi, nhưng vì quý chú mà tôi cứ nói. Hôm vừa rồi, tôi ra Hà Nội,
có đến thăm chú và thằng Khoa, nhưng cả hai thằng đều đi vắng. Tôi có nhìn thấy
cậu Huân, nhưng tôi không làm phiền cậu ấy. Từ ngày có chú và thằng Khoa tham gia
Blog, nhất là khi có sự xuất hiện của Khoa, giới Blog rất sinh động và có sinh
khí, hay hẳn. Thế mới lạ chứ. Khoa đưa ra trò độc, thiên hạ cũng chiềng ra toàn
của độc, chất văn chương thì họ không bằng Khoa, nhưng tài có chỗ cũng không
kém Khoa đâu. Nhiều chiêu độc ở cái Xóm
lá này, đáng nể lắm. Tôi thực sự bái phục đấy.". (17.04.11@07:26).
Tôi mừng, vì Nhật Tuấn tuy vẫn tỏ ra
khó chịu với thơ ca hiện nay, song ông cũng phải thừa nhận, nhiều người tham
gia mạng Blog Tiếng Việt thực tài,
khiến ông phải bái phục.
Tâm phục khẩu phục, song cẩn trọng
không thừa, tôi phúc đáp: "Kính bác.
Em luôn lắng nghe bác. Và có thể nói, tự thâm tâm, luôn mong đợi những lời góp
ý của bác. Em thấy bác nói đúng (về em, về Khoa và nói chung văn học hiện nay)
. Em cũng nghe Khoa nói về những bài viết của bác về văn học. Điều đó, càng khiến
em nể trọng bác. Tuy nhiên, khi tham gia blog, ngoài chuyện văn chương, còn
mang nhiều yếu tố giao du vui vẻ, cho nên "món ăn trên mâm cơm blog"
cũng cần có nhiều món. Vả lại, với thơ, từ trước đến nay, em (và chắc nhiều người
khác) cũng chỉ xem như sự giải tỏa thôi... Với riêng em, thơ chưa bao giờ là một
sự nghiệp cả. Thế nên, việc có in tập hay không thì chỉ là chuyện "cả
làng cùng vui"… Tiếc là hôm em và
Khoa vào Sài Gòn, biết bác ở Thủ Đức, song không biết cụ thể ở đâu nên khó liên
lạc, vả lại, bác cũng lại ra Hà Nội. Nếu có thể, bác cho em (hoặc Khoa) biết số
điện thoại liên lạc, để khi có điều kiện thì alô đến thăm bác. Mong bác vào
blog của em thường xuyên, và cứ nhận xét thẳng tưng. Em thích vậy, bác ạ. Xóm Lá này cũng rất đáng nể trọng và
đáng yêu lắm đấy. Nhiều người có tài và có tâm, như bác thấy và đã nhận xét...".
Vậy là, tôi và nhà văn Nhật Tuấn đã
hiểu nhau hơn, và có thể, mọi người cũng thông cảm, mà không phản ứng thái quá
với những nhận xét khó nghe của ông.
Ngày 27.4.2011, tôi đăng bài thơ Chiêm
bao, Nhật Tuấn vào cảm nhận: "Tôi
vừa đọc một bài viết hay, rất cảm động bên chú Khoa, sang chú lại gặp chú vày
thơ. Tôi định không đọc. Nhưng tò mò xem thế nào thì thấy hay. Đây là bài hay
nhất của thơ chú mà tôi được đọc. Chú nên chữa một câu kết thì thành một bài
thơ hoàn chỉnh. Chú thay chữ "ngỡ"
thành chữ "thấy", khẳng định,
và thay chữ "đâu" thành chữ
"đang". Chiêm bao khi đang
tỉnh mới tuyệt. "Tiếng động nào
hiên ngoài chênh chao/ Sực tỉnh thấy mình đang chiêm bao...". Tuyệt vời
chú ạ." . (30.04.11@22:53)
Phải nói, tôi mừng, vì rốt cuộc, ông
nhà văn kiêm nhà phê bình khó tính này, cũng phải buột miệng khen thơ. Ngay sau
đó, Trần Đăng Khoa vào cuộc: "Đồng ý
với đại ca, bài thơ lênh phênh chênh chao này là bài hay. Hay vì nó lạ,
giai điệu lạ, thoát khỏi cái thông thường. Bác tinh đấy, không phải chỉ trong
văn xuôi mà cả thơ nữa. Mấy góp ý của bác rất chuẩn. Cao thủ. Tất nhiên ý Nhạc
cũng như ý bác thôi, vẫn là chiêm bao trong lúc tỉnh, nhưng thay hai chữ, diễn
đạt như bác thì câu thơ sáng hơn, cao thủ hơn. Nhưng ý thì vẫn là một. Nhạc viết
bài này là ứng tác, nhân đọc một bài thơ của bạn rồi viết ngay một bài theo tư
duy khác hẳn. Vì ứng tác, nên câu chữ không thể chuẩn ngay được. Trong bếp núc
sáng tạo, nhiều khi rất thú vị như thế đấy. Viết đùa, viết chơi thì lại hay, thậm
chí có những câu lóe sáng bất ngờ, còn cứ gò gẫm, có ý thức làm một tác phẩm để
đời thì có khi tác phẩm lại hỏng, những con chữ còng queo chết ngay khi vừa nhô
ra khỏi ngòi bút hay bàn phím. Thú vị thật!". (01.05.11@11:10).
Nhật Tuấn đang hăng, tiếp đã đàm luận
văn chương: "@TĐK. Chú nói đúng.
Trong sáng tạo, cần tự do. Tự do lớn nhất vẫn là tự do trước chính mình. Nhiều
thi sĩ nổi tiếng, đùa hoặc ký tên nhắng thì rất hay, ký tên mình và cố gò gẫm
theo kiểu "thôi - xao" thì dở ẹt. Chứ tự do không phải là chuyện o ép
của chính quyền như một số anh cứ lu loa. Chả có thời nào bị bóp nghẹt và mất tự
do như thời phong kiến, mà sao vẫn có Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương. Bây
giờ thì tự do đấy, ai cấm ai đâu, viết xong là tự xuất bản, đưa lên Blog, đi
toàn cầu, có cha còn tự dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, in song ngữ, cũng như
cái cậu gì ấy tự phong thần đồng, mà sao vẫn không mọc mũi sủi tăm lên được.
Tôi nghĩ thời này là thời rất hay. Không đổ lỗi cho ai được. Có tài thì sẽ nổi
danh ngay" (01.05.11@21:51)
Cái hay, cái thích ở đây, là hai cao
thủ Nhật Tuấn và Trần Đăng Khoa mượn cớ bài thơ Chiêm bao của tôi để bàn
về lý luận thi ca nói chung, súc tích mà dể hiểu. Quan trọng nữa, Nhật Tuấn đã
khảng khái đưa ra nhận định về tài năng văn chương, điểm chính yếu để làm nên
tên tuổi tác phẩm-tác giả, chứ không vin này nọ, hoặc đổ lỗi cho thời cuộc như
nhiều nhà văn, nhà thơ khác. Thấm luận điểm này của Nhật Tuấn trong văn chương
xứ ta, tôi lại nhớ đến cái truyện hài hước Giá không có ruồi của nhà văn người
Thổ Nhĩ Kỳ là Azit Nê-xin...
Ngay sau đó, tôi chỉnh sửa bài thơ Chiêm
bao theo như góp ý của Nhật Tuấn, nghĩ thế thôi, không ngờ ông vào xem
và không quên động viên: “Đọc lại bài chỉnh của chú rồi. Chuẩn. Tôi
cũng có đọc bài này của chú cho mấy thằng nghe rồi, chúng đều khen cả. Không có
gì giống Bích Khê và Xuân Diệu cả, dù họ cũng làm thơ theo kiểu độc vận và dùng
toàn âm bằng. Chú là một dạng khác hẳn. Mừng chú". (01.05.11@21:39). Mặc
dù chỉ là động viên cho phải phép, khi đàn em nghe lời mình, nhưng Nhật Tuấn vẫn
không quên cài thêm ý kiến phê bình của mình về thơ ca nói chung. Có cảm giác,
Nhật Tuấn đang ở vào thời kỳ sung mãn về lý luận, phê bình, nên mọi cảm quan của
ông về lĩnh vực này tràn ứ, cứ muốn ứa ra mỗi khi ai đụng đến ông hay ông va quệt
vào ai vậy?...
Bẵng đi một dạo, không thấy ông xuất
hiện nơi Xóm Lá, cho đến khi tôi
đăng bài thơ Mưa Ngâu, Trần Đăng Khoa ghi cảm nhận, khen: "Ai hiểu đời tư Chu Nhạc sẽ thấy bài thơ này
rất hay. Mình tin một cô giáo mà Nhạc cứ lo em cóng lạnh đôi tay trên bục giảng
khi mùa ngâu về ấy, chắc sẽ khóc khi đọc lại những trang kỷ niệm này. Có mấy
câu mình thích:"Nước mắt nở những chùm hoa ngâu/ thơm lặng thầm như ai
nhớ thương nhau." Hay . "Mưa
ngâu ướt lạnh cây vườn/ hoa ngâu thơm cả ngoài hiên trong nhà/ mà người thì vẫn
mãi xa," (17.06.11@06:51). Dường
như chưa thỏa mãn, Trần Đăng Khoa bồi tiếp: "@CN.
Nói thêm một chút nữa. Hai câu này rất hay và rất tinh tế: "Nước mắt nở những
chùm hoa ngâu/ thơm lặng thầm như ai nhớ thương nhau". Bốn câu cuối đổ lục
bát cũng rất đắc địa. Trong và xót. Có lẽ vì tránh lặp chữ "thì" mà Nhạc dùng chữ "cho", nhưng chữ ấy lại quá quen. Có thể
tránh chữ "thì" ở bên trên
được không? "Mưa ngâu ướt lạnh cây vườn/ hoa ngâu thơm/ cả ngoài hiên
trong nhà/ mà người vẫn mịt mù xa,/ đến khi bạc tóc thì ta gặp mình...". Rất hay.
Thấy đừng chẳng đặng, Nhật Tuấn cảm
nhận: "@TĐK. Chú Khoa rất tinh nghề.
Bài thơ của Chu Nhạc hay. Tôi rút lại ý kiến là Chu Nhạc chỉ nên dồn sức cho
văn xuôi. Chờ đọc tập thơ mới của chú ".
Mặc dù, tự thâm tâm, tôi chưa từng
nghĩ, thơ là sự nghiệp trong nghề cầm bút của mình, song tôi yêu nó. Từ những
ngày tập tọng làm thơ lúc còn đi học, là tôi noi theo, bắt chước Trần Đăng
Khoa, nghĩ mình làm thơ cho vui, vì mơ ước của tôi khi ấy là nghề kiến trúc sư,
đặng theo nghề của cha tôi. Song cuộc đời có những khúc ngoặt không ngờ tới, ấy
là việc tôi thì không đõ và trường Kiến trúc, và sau đó theo học Đại học nông
nghiệp. Những năm tháng lang bạt kỳ hồ ở miền Tây Nam bộ, thời gian rảnh rỗi,
tôi viết báo nghiệp dư, đặng học nghề báo và gây chút tên tuổi với mong ước trở
thành người làm báo chuyên nghiệp. Làm báo, tức là cầm bút, thế là chút mầm mống
thi ca văn chương này từ thời đi học, ngỡ thui chột, bất ngờ sống lại, tươi mới
và đầy khát vọng lớn thành cây. Lại thơ, lại truyện ngắn, bút ký, tản văn, hầu
như tôi không nề hà và đều thử sức mình ở các thể loại. Khi đã trở thành người
làm báo chuyên nghiệp, lại được làm việc ở Đài
Tiếng nói Việt Nam (VOV), thì mầm cây văn chương trong tôi nhanh chóng bật
lớn. Song hành với nghề làm báo, nghề chính kiếm cơm, đặng nuôi thân và gia
đình, thì văn chương thơ phú là gia vị bổ trợ, cho mình rèn rũa ý tứ, câu chữ,
tâm tính, là chỗ dựa tinh thần... Và rồi, văn chương nó ám vào mình lúc nào
không biết, để thành nghiệp. Mà một khi đã thành nghiệp, thì có đánh đến chết
cũng không từ bỏ được, còn hơn cả kẻ nghiện ma túy vậy!... Kim cổ đông tây, đã
từng cho thấy, biết bao kẻ kiệt quệ về thân xác, ngẩn ngơ về tinh thần là vì
văn chương thơ phú đó sao?!...
Vậy nên, tôi vui vì Nhật Tuấn đã rút
lại lời khuyên tôi bỏ thơ, chỉ tập trung trí lực và văn xuôi và phê bình, không
những thế, ông còn chờ mong tôi xuất bản thơ nữa kia. Tôi tin là Nhật Tuấn thật
lòng, bởi đơn giản, tôi chỉ là chú em nhỏ của ông thôi, chẳng việc gì ông phải
nói lấy lòng, trong khi, bằng khả năng phê bình sắc sảo và trực tính của mình,
ông đã từng hạ bệ, nếu không muốn nói mạnh là tung hê, lật nhào nhiều tượng đài
tên tuổi của làng văn chương đất Việt hiện đại là gì !?... Ngày ấy, khi làm việc
tại Văn phòng phía Nam của Nhà xuất bản Văn học, Nhật Tuấn đã bày tỏ thái độ đồng
tình với nhà thơ Xuân Sách khi xuất bản tập Chân dung nhà văn, mà ở đó, theo Nhật
Tuấn, không chỉ là chân dung đơn thuần
một cách hài hước, ấy là chân tướng của
các vị...
Sau cảm nhận vào bài thơ Mưa
ngâu, Nhật Tuấn mất tăm, không để lại dấu tích gì thêm trên trang cá
nhân của tôi, nhưng theo Trần Đăng Khoa, thi thoảng ông vẫn vào ghi cảm nhận
đâu đó trên trang Lão Khoa (tên trang cá
nhân của nhà thơ Trần Đăng Khoa ở Blog Tiếng Việt). Tôi nghĩ, có thể Nhật
Tuấn vẫn vào xem, nhưng thấy không cần thiết ý kiến ý cò gì thêm nữa, hoặc giả,
ông chán chường với thứ mà ông cho là khen chê cho phải phép, lấy lòng nhau
trên không gian ảo này rồi ?...
Bẵng đi, thảng tôi vẫn nhớ Nhật Tuấn
và thèm được đọc những cảm nhận mang chất gây sự của ông, cho đến một hôm, vào
đầu giờ làm việc một ngày thu tháng mười, Trần Đăng Khoa gõ của vào phòng làm
việc của tôi, vừa bước vào, buồn buồn thông báo: “Nhật Tuấn vừa mới mất...". Tôi lặng người đi. Tôi và Trần Đăng
Khoa, chén trà trên tay mà chẳng biết tiếp câu chuyện thư thế nào. Tự dưng, ký ức
về Nhật Tuấn ùa về. Ông mất đột ngột vì chứng viêm cấp hành tá tràng vào ngày mồng
6 tháng 10 năm 2015, và ngẫu nhiên, trùng với sinh nhật lần thứ 58 của tôi.
Chuyện về Nhật Tuấn, chúng tôi nói về các sáng tác chính của ông, đặc biệt là
loạt bài phê bình đánh giá lại một số tên tuổi văn chương Việt hiện đại, và không quên nhắc chuyện ông từng quấy động
Xóm Lá ngày nào. Trần Đăng Khoa bảo, với trọng trách, tình cảm cá nhân và lòng
kính trọng dành cho Nhật Tuấn, sẽ bay vào Nam để cùng gia đình và Hội Nhà văn tổ
chức tang lễ cho ông... Nhưng rồi, việc này lại được giao cho nhà văn Nguyễn
Trí Huân.
Giờ đây, lần giở từng trang mục của
mình trên Blog Tiếng Việt, bao chuyện
cũ sống lại, và trong đó, hình bóng của hai con người, chỉ là khách vãng lai
trên các trang mục blog của tôi, ấy là đại tá Trần Trọng Trí, cựu thuyền trưởng
tàu HQ05 Hải quân Trường Sa và nhà văn Nhật Tuấn là đậm nét nhất. Thâm tâm, tôi
kính trọng và yêu quý hai con người này, dù người trước người sau, đã cùng vân
du về cõi thiên thu... Từ năm 2020, tôi gặp nhà văn Tô Hoàng ở Trại sáng tác của
Hội Nhà văn Việt Nam tại Nhà sáng tác Đà Lạt và trở thành người đàn em thân thiết
của ông thì tôi được biết thêm rất nhiều thông tin, nhiều chuyện văn chuyện đời
của Nhật Tuấn, nhất là quãng thời gian Nhật Tuấn sống và lam việc ở Văn phòng
phía Nam của NXB Văn học. Nhà văn Tô Hoàng có tài kể chuyện nên hình ảnh Nhật
Tuấn hiện lên khá bi hài, kể cả căn bệnh là nguyên nhân dẫn đến cái chết. Riêng
về tác phẩm “Đi về nơi hoang dã” thì Tô Hoàng khen lắm và ông còn
tiếc cho Nhật Tuấn, lý ra nó phải được trao giải thưởng này nọ.
Nay ký họa chân nhà văn Nhật Tuấn,
như một sự tri ân với người đàn anh văn chương, với bậc đại ca (như cách gọi vui mà tôi từng thưa gửi với Nhật
Tuấn), mặc dù, ông không cần và cũng chẳng biết điều đó. Với tôi, Nhật Tuấn
xứng đáng là Con chim biết chọn hạt trong lĩnh vực phê bình văn học, như ý đồ
ông đã định ra từ hơn ba mươi năm trước. Nhân đây, tôi có đôi điều thưa với đại
ca Nhật Tuấn rằng,...
Tôi vẫn sáng tác đều, các thể loại mà
tôi thấy mình có thể, tuy nhiên, với bản tính ngại quan hệ tiếp xúc này nọ, nên
mặc dù có đến vài chục cuốn sách xuất bản, vẫn xem như chưa thành danh và sự
nghiệp gì... Có sao đâu? Chuyện xứ ta, nhà nhà làm thơ, người người làm thơ, âu
cũng là một sự đặc biệt của xứ sở này, mà chẳng nơi đâu trên trái đất có được...
Chẳng hay lắm sao?! Với lại, người dân Việt mình yêu thơ, thích làm thơ là mang
tính truyền thống đấy chứ? Người làm thơ nói chung, đa phần, chẳng màng chuyện
thành danh hay nên sự nghiệp gì, mà là để giải tỏa nỗi lòng, để giao lưu bạn
bè, để dưỡng dục tinh thần mình, đặng trụ vững trên mảnh đất chiến tranh liên
miên và đầy rẫy bất trắc... Thêm nữa, trong cái vườn thi ca toàn dân trăm hoa
đua nở này, có nhiều loại hoa quý, hương sắc lạ, mà dễ gì giới văn thơ chuyên
nghiệp có được, đại ca Nhật Tuấn nhỉ?!...
Còn có một chuyện, Nhật Tuấn chắc chắn
không hề biết, ấy là tập tiểu luận và phê bình văn học mà ông ký bút danh (TNL)
về “chân dung chân tướng” chi đó các nhà văn xứ ta, mấy năm gần đây có một
họa sĩ-nhà văn đã dày công sưu tầm, tổ chức bản thảo dựng thành một cuốn sách
điện tử, để bạn đọc, ai hứng thú có thể tìm đọc tham khảo…
Và chắc chắn, người ta không chỉ nhớ
đến Nhật Tuấn với những “Trang 17”, “Con chim biết chọn hạt”,
“Đi về nơi hoang dã” mà còn là những “chân dung chân tưởng”
làng văn nghệ đất Việt qua tài khắc họa và ngòi bút dũng khí sắc sảo của
ông?!...
NGUYỄN ĐỨC
TÙNG
“Thơ là chốn để mình đau với đời”.
Nguyễn Đức Tùng,
Ông là một kỹ
sư - doanh nhân thành đạt,
Nhưng trước hết, ông là một người
lính, một nhà thơ.
Vậy
mà lần đầu tiên chạm mặt, tôi đã nhầm ông với một nhân vật trùng danh tính nổi
tiếng khác.
Một sáng đầu hạ 2025, tôi đến tòa soạn tạp chí Nhà văn & cuộc sống ở
trụ sở Hội nhà văn Việt Nam – số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội, đã thấy nhà thơ
Trần Đăng Khoa, Tổng biên tập tạp chí đối ẩm trà với một vị khách. Trần Đăng
Khoa chỉ vào người khách, hào hứng giới thiệu: “Đây là nhà thơ Nguyễn Đức Tùng”.
Nghe vậy, tôi à lên: “Nguyễn Đức Tùng tù Canada về,...”
Khoa vội cải chính ngay: “Không phải, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng này khác. Anh ấy ở trong nước
thôi... Còn là một doanh nhân”.
Vậy là câu chuyện của ba chúng tôi bắt đầu như thế, rỉ
rả chuyện thơ chuyện đời hết cả buổi sáng không chán. Nghe Nguyễn Đức Tùng đọc
thơ một hồi, tôi mạn phép ông đưa ra mấy nhận xét cảm tính của tôi, thẳng thắn,
không mấy dễ nghe nếu là người tự ái. Nhưng không, Nguyễn Đức Tùng cười, đưa
tay ra bắt tay tôi rất chặt: “Ông nói đúng. Thẳng thắn, bộc trực, không vuốt
ve,… Tôi thích tính cách này. Tóm lại, ông là người chơi được. Tôi tin thế”.
Cả ba chúng tôi cùng cười sảng khoái. Từ đó, chuyện không cần phải đề phòng hay
dè chừng nữa mà thoải mái cao đàm khoát luận. Đấy là cơ sở để sau đó câu chuyện
về Nguyễn Đức Tùng từ thi ca đến cuộc đời, dần hé lộ trong mắt tôi.
Nguyễn Đức
Tùng sinh năm 1952, tuổi Nhâm Thìn, ở một làng quê vùng bán sơn địa Thanh Thủy,
Phú Thọ, bên bờ sông Đà uốn khúc lượn quanh chân Ba Vì, Tản Viên sơn, nhưng đây
không phải là quê gốc của ông. Nghe nói quê gốc của ông thuộc vùng gốm Hương
Canh chi đó, cụ tổ mang họ khác, là một chức quan ở địa phương, giữ thành cho
Vua thời Nguyễn suy bại. Năm 1882, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết khi mất thành
Hà Nội vào tay Pháp. Sau đó ít lâu Quân Pháp hạ các phủ đệ thành quách vùng
Trung Du, gia đình cụ tổ của ông bị Pháp bắt và tru di 3 họ, chỉ sót một cậu bé
con 3 tuổi được người làm bế chạy mang sang vùng Thanh Thủy bán cho một nhà
giàu hiếm muộn và được nuôi, đến Nguyễn Đức Tùng là ba đời. Lập nghiệp ở vùng
quê mới, đến ông thân sinh ra Nguyễn Đức Tùng có trang trại, nhiều ruộng và nhiều
nương sơn (Phú Thọ có cây sơn lấy nhựa xuất khẩu). Rồi biến động thời cuộc, lại
trắng tay, cậu bé Tùng thành con nhà nghèo, gắng học thật giỏi, đặng lập thân lập
nghiệp. Nhưng lớn lên gặp thời chiến tranh, Nguyễn Đức Tùng nhập ngũ cuối năm
1970. Đi chiến trường B từ ngày đầu năm 1971, bộ binh rồi là lính thông tin dây
trần thuộc Trung đoàn 132 anh hùng, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc,
xây dựng “Đường dây Thống Nhất” từ Đập
Cẩm Ly, Lệ Thủy, Quảng Bình – Ngọc Hồi,
Kon Tum, phục vụ các chiến dich Xuân hè Quảng Trị 1972, giải phóng Tây Nguyên
tháng 3 - 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước
30 tháng 4 năm 1975. Họ đã dựng 13.000
khoảng cột (Bệ Bê tông, cột sắt, dây đồng, tổng đài máy tải 3 × 12 đường của
Hungary) tương đương 650 km, băng cắt dọc Trường Sơn theo con đường ngắn nhất,
gặp sông băng sông, gặp núi vượt núi, tránh xa đường ô tô, để xây nên kỳ tích “Đường
dây Thống Nhất” trong thời gian kỷ lục 3 năm và trở thành hệ thần kinh
chính phục vụ nhu cầu thông tin chiến lược của trung ương. Hoàn cảnh lúc đó,
không có cách nào khác là lấy sức người để băng núi,
vượt sông, lấy lòng dũng cảm để vượt qua túi bom, mìn vướng, lấy đức hy sinh
quên mình để sống hàng năm trong những khu rừng chết khô vì chất độc hóa học của
Mỹ đã rải. Bom đạn ác liệt, đói, khát, bệnh tật, thời tiết khắc nghiệt đã chà xát,
rèn rũa cả đạo quân xây dựng dường dây ấy có bản lĩnh người lính thép.
106 đồng đội của ông đã nằm lại, trong đó có cả Trung đoàn trưởng “Trấn yểm
đường dây bằng linh cốt của mình”(Có một
con đường). Nỗi niềm mà ông kể tôi nghe và gặp ông, nghe ông đọc thơ
thì thấy bản lĩnh người lính sẽ theo ông đến trọn đời.
Ngày ấy ở chiến
trường, nhà thơ áo lính Phạm Tiến Duật, một đồng hương Phú Thọ nổi như cồn, còn
chàng lính Nguyễn Đức Tùng cũng tập tọng thơ phú. Ông kể, khi đó, cấp trên thấy
cậu lính trẻ có khiếu chữ nghĩa nên cử đi học bồi dưỡng viết tin. Là lính thông
tin, được tiếp xúc với mấy cây thơ cùng binh chủng là Nguyễn Duy, Anh Ngọc, Quang Chuyền,
Phạm Khắc Vinh, Trọng Việt... càng thôi thúc anh chàng làm thơ. Không
ngờ bài báo tường, bài thơ “Nơi hai cầu treo” của ông lại được
nhà thơ Trung tá Xuân Miễn đi công tác chiến trường mang ra Bắc đăng báo Quân
đội nhân dân, năm 1973:”Buớc nhẹ khoan thai hẳn đồng chí đã già/ Nhún nhảy,
đung đưa là bước chân lính trẻ,/ O giao liên sáng nào chẳng thế,/ qua cầu thường
đứng lại soi gương…./ Kỷ niệm qua cầu đọng lại trong anh,/ còn một cây cầu anh qua mà chưa thấy/ là đường dây trần cao hơn cầu
treo ấy,/ chiếc cầu riêng cho những dòng tin…”. Bài thơ mang dấu ấn đặc
trưng của binh chủng Thông tin liên lạc ấy được đăng báo trung ương khiến tâm hồn
chàng lính trẻ bay bổng, tự tin rằng mình cũng có thể làm thơ. Và kể từ ngày ấy,
Nguyễn Đức Tùng tự bắc thêm cho mình một cây cầu treo nữa, cây cầu thứ ba - cầu
Thi ca. Vậy là ông đánh đu với cây cầu thi ca cho đến giờ, và dần dần chạm vạch
đích, ấy là tập thơ “Dặn con” mà ta cầm trên tay hôm nay. Ngẫm thấy ở
làng văn thơ xứ mình, tuổi Nhâm Thìn (sinh 1952) lắm người tài hoa, có nhiều
nhà thơ áo lính thành danh như Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Huy Nhuận, Nguyễn Việt
Chiến…
Từ ngày có thơ
đăng báo đã tạo cho chàng lính Nguyễn Đức Tùng sự tự tin làm thơ khi cảm thấy cần
phải viết một cái gì đó để lưu giữ, chưa hẳn kích hoạt một cây bút, nên chàng
chỉ viết những điều mình đã trải qua, chứ không viết như dân chuyên nghiệp với
dụng ý lập ngôn. Có lẽ vậy, thơ thời lính của ông không nhiều, lại chủ yếu viết
về công việc của người lính đường dây (các bài thơ Nơi hai cầu treo,
Tiếng vỗ ba lô, Gùi, Chuyện có gì đâu, Bài
thơ không nói hết, Quả Thạch, Ba lô lộn, Có một con đường ..vv…), chỉ đủ
cho Nguyễn Đức Tùng ghim lại ký ức về một thời tuổi trẻ quân ngũ trong chiến
tranh bằng một hồn thơ âm ỉ cháy .
Ngày nhỏ đi học ở quê, Nguyễn Đức Tùng học
giỏi đều tất cả các môn, ở tất cả các cấp học. Sở trường là môn toán, nhưng lại
yêu văn chương, tập tọe viết từ năm 11 tuổi. Đến năm 17 tuổi khi học về thơ
trào phúng đã viết được bài thơ “Đọc cụ
Nguyễn khuyến” và khi đó chỉ coi như là một thú vui riêng đem cất giữ. Điều
này lý giải vì sao, sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ, năm 1977 phục viên về
quê, đã tìm một nghề kỹ thuật để nuôi sống bản thân và phục hưng gia đình. Dù bỏ
7 năm đèn sách lại là thí sinh thi tự do khối A, ông đã trúng tuyển ngay vào
khoa Chế tạo máy của Đại học Cơ Điện (nay là trường Đại Học Công nghiệp Thái
Nguyên). Nhờ cần mẫn và nghiêm cẩn học và hành, sau này Nguyễn Đức Tùng trở
thành kỹ sư giỏi nghề, thuộc tốp đầu trên các công trình trọng điểm cấp quốc
gia như Thủy điện Hòa Bình (Sông Đà), Thủy điện Vinh Sơn (Bình Định), Thủy điện
Sông Hinh (Phú Yên), Thủy điện Cần Đơn (Bình Phước), Thủy địên Yaly (Gia Lai),
Hầm đường bộ qua Đèo Ngang (Hà Tĩnh – Quảng Bình). Hai mươi lăm năm (1982 –
2007) lên rừng làm thủy điện cần mẫn và tận tâm, công việc đã dạy cho ông nhiều
điều. Làm thủy điện là đấu tranh với thiên nhiên, xẻ núi, ngăn sông, đào hầm, lắp
máy, phát điện..., công việc nào cũng vất vả nhưng lại cần chuẩn xác, khẩn
trương, đúng hẹn. Khi đến là núi xanh rừng hiểm, khi đi là để lại sau lưng mình
thị trấn hoặc thị tứ đông vui. Ông đã sống, học tập, làm việc không ngừng hai
mươi lăm năm trong môi trường như thế và từ một kỹ sư ông đã trở thành Giám đốc
của một trong ba công ty lớn nhất của Tông công ty Sông Đà đi xây dựng thủy điện.
Ngay cả khi ổn định về công việc cũng như vị trí công tác, ômg vẫn trăn trở và
tìm tòi hình thức kinh doanh và đầu tư mới ngoài thủy điện. Dự án đầu tư BOT Hầm
đường bộ qua Đèo Ngang được tư duy và hình thành theo hướng đó. Đây là dự án
BOT giao thông đầu tiên của cả nước được ông khởi xướng và tổ chức thực hiện từ
A đến Z,…
Có tận mắt chứng
kiến quang cảnh Công ty cổ phần thép Hợp Lực ở Khu công nghiệp Quế Võ II, Bắc
Ninh do ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc điều hành, luyện
phôi thép từ phế liệu thành thép tiêu chuẩn quốc tế, mới thật sự khâm phục Nguyễn
Đức Tùng. Vì rất eo hẹp về vốn nên ông đã làm kỹ thuật trực tiếp chỉ dẫn để biến
các trai làng, nông dân địa phương thành những người thợ lành nghề, từ khâu lắp
lò luyện đến dây chuyền sản xuất ra phôi thép thành phẩm. Ông đã tự tay thiết kế,
cải tiến dây chuyền sản xuất 2.000 tấn thép trên tháng thành dây chuyền sản xuất
6.000 tấn thép trên tháng. Nghe ông kể mà ngỡ như chuyện cổ tích. Ông nói vui với
tôi về triết lý kinh doanh của ông, một cách nói vui “mua của thằng chán, bán cho thằng thèm” (hàm ý Biến rác thành vàng). Có lẽ, sau nhiều
năm lăn lộn với các công trình lớn tầm cơ thế kỷ đã cho ông kinh nghiệm và bản
lĩnh để làm nên thành công như ngày hôm nay ta thấy. Với Nguyễn Đức Tùng, càng
vượt khó thì ông càng yêu thơ, vẫn vắt vai tay nải thơ, cuộc sống cho ông cảm hứng
thơ, thơ đẩy ông tiến về phía trước. Có cảm
giác thơ với ông như một sự trợ giúp, hơn thế, một điểm tựa tinh thần để
ông vượt qua bao trở ngại trên con đường lập thân, lập nghiệp! Thơ và nghề cùng
với những nhiệm vụ nặng nề, những quan hệ con người phức tạp, rối rắm đã rèn
luyện hun đúc trong ông một bản lĩnh doanh nhân vững vàng
Khi đã quen nhau,
ông không ngại, chợt nghĩ một câu thơ nào đó, ông gửi cho nhà thơ Trần Đăng
Khoa, hay gửi cho tôi đọc. Sau lần tôi và Khoa lên thăm nhà máy sản xuất của
ông, bỗng một chiều, ông gửi cho tôi câu thơ “Gặp nhau, thơ bạn thơ tôi/
Chuyện thơ hỉ hả vợi rồi lại đau”. Tôi biết ông đang tâm trạng nên nối vần,
gửi lại “Cũng là cái cớ tìm nhau/ Thơ là chốn để mình đau với đời”. Ông
khen hay. Rồi sau chuyến ông đưa hai chúng tôi về thăm quê ông, nơi có cơ ngơi
thờ tự do ông xây dựng đẹp, trang trọng, thành kính giữ đất gia tiên, gồm nhà
thờ, tháp bút, lăng mộ song thân, đài hạc, nhà khách, với một hạ tầng kỹ thuật
hoàn chỉnh, mướt cây xanh, tạo thành một tổng thể kiến trúc độc đáo trên một diện
tích 2.500 m2, mới thấy ông am tường về nghệ thuật kiến trúc. Chữ đề trên tháp
bút “Phi trí bất hưng” đủ thấy công trình kiến trúc mang tầm văn hóa. Vừa
làm kinh doanh, lại làm kỹ thuật và làm thơ, quả thật ông là người có tài phân
thân. Nghe ông kể nguồn gốc gia đình,
thêm thấu hiểu tâm trạng, nỗi niềm và nguyên do vì sao ông đến với thơ, dan díu
suốt đời với nó, như điểm tựa tinh thần, một nơi ẩn chứa tâm can và hơn thế,
như một duyên nợ. Con người ta sống thế nào thì thơ cũng như vậy và rồi tôi chợt
hiểu ra, với Nguyễn Đức Tùng - thơ là
chốn để mình đau với đời.
Theo lời Nguyễn Đức Tùng, năm 11 tuổi
đã tập tọng làm thơ, vậy mà đến nay, tuổi dư thất thập, dồn lại có bấy nhiêu
bài tập hợp trong tập thơ “Dặn con” này. Nhiều nhặn gì đâu, đơn giản, bởi Nguyễn
Đức Tùng không định làm thơ, không sáng tác ngôn từ để thành thơ như ai đó, mà
chỉ viết để diễn đạt nỗi lòng sau mỗi trải nghiệm, như một nhu cầu tự tại, viết
để cho mình và để cho con, vô hình chung lại thành thơ “Dặn con”. Những bài thơ
thời ông là lính chiến trường hay sau này khi ông là kỹ sư tham gia thi công các công trình trong điểm quốc gia,
ít nhiều mang không khí của thời đại và nội dung cũng có chất tuyên truyền, cổ
vũ. Đương nhiên là thế, khi mà các nhà thơ thành danh cũng đâu có khác, cái
khác nhau là ở giọng điệu, ngôn từ, ở tấm lòng của mỗi người,… Không giống ai,
Nguyễn Đức Tùng nói bằng giọng điệu, ngôn ngữ của mình, bộc trực, dễ hiểu,
thông dụng, không bay lượn uốn éo, cảm giác như ta ngồi đàm thoại với ông. Trực
diện, dễ hiểu đấy nhưng không dễ dãi, đơn giản, bởi có sự liên kết chặt chẽ như
toán học trong một tổng thể thống nhất, có lẽ bởi nghề nghiệp chế tao máy của
ông đã làm nên điều này. Đề tài thơ ông đa dạng mà giản dị như cuộc sống quanh
ông, mỗi bài thơ là một vấn đề mà ông gặp trong cuộc sống rồi tư duy, cảm xúc
viết thành thơ, nhưng đủ để ta bắt gặp trong từng bài thân phận và nỗi niềm của
ông. Thời kỳ làm kỹ sư công trình phụ trách chế tạo các cấu kiện cơ khí và các
đội lắp ráp các cấu kiện đó phục vụ việc thi công hầm, phải lăn lộn hàng ngày,
nhiều năm làm việc ở trong hầm cùng anh em thợ và chuyên gia Liên Xô, Nguyễn Đức
Tùng mới có được bài thơ “Gửi người đi hầm” vào năm 1988, sát
với ngày phát điện tổ máy số 1 của Thủy điện Hòa Bình. “Chúng mình đi dưới đáy hành tinh,/ Bước cần mẫn trong điệp trùng thớ
đá./ Đá ngạo nghễ, đá già ngàn triệu tuổi,/ Còn chúng mình đang sống tuổi hai
mươi...”. Chỉ với khổ thơ mở đầu, Nguyễn Đức Tùng đã phác thảo nên diện mạo,
tầm vóc và khí thế công trình thế kỷ rồi. Ngay lập tức bài thơ này được tất cả
các báo lớn cùng đăng trong một ngày, được diễn ngâm trong chương trình “Tiếng
thơ” của Đài tiếng nói Việt Nam. Bài thơ như một hiện tượng viết về Thủy điện
Hòa Bình mà trước đó và sau này cũng chưa có và đã trở thành tài sản chung của Người
thợ Sông Đà. Người Sông Đà ai cũng thuộc nó, liên hoan nào cũng đọc nó, người
ta gọi nó là “Tổng công ty ca”. Bài thơ mang đến cho ông nhiều vinh dự, cả sự
tự hào, đồng thời cho ông nhận thức về hiện thực đời sống và thơ. Biết bao người
viết về Thủy điện Hòa Bình và có bao nhiêu thành công? Khi làm việc trong môi
trương đa văn hóa, (Hòa Bình - với người Nga, Vĩnh Sơn - với người Pháp, Sông
Hinh - với người Thụy Điển) cho ông nhận thức “Trái tim đập giữa thiên nhiên,/ Da vàng, đen, trắng chung niềm khát
khao,/ Máu nào cũng thể máu đào,/ Đau nào thì cũng đau vào tâm can...” và
ông can vấn mình “Mộng mơ hái cả sao trời,/
Câu thơ ôm trọn kiếp người được sao...”
(Tự vấn). Khi là người lính trong bom đạn làm thơ, cũng như khi là doanh nhân trong thương
trường nghiệt ngã làm thơ, thì tư cách công dân của ông rất sáng rõ, khát vọng
về độc lập dân tộc, lòng yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu cái thiện thật rạch ròi
và trong sáng. Nhiều bài thơ của ông đã nói lên điều đó.
Như tôi đã nhận định,
mặc dù Nguyễn Đức Tùng không chủ định lập ngôn hay ganh đua thơ mà lại có thơ,
thơ là để “Dặn con” thôi nhưng mọi người lại thấy đọc được. Ông
cũng sát giải, hễ dự thi thơ là giật giải, mà giải cao. Thời ông làm công
trình Thủy điện Hòa Bình, bài thơ “Gửi
người đi hầm” đoạt giải A của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Tổng
Liên Đoàn lao động Việt Nam đồng tổ chức
sáng tác về Công trường Thanh niên Cộng sản Hòa Bình năm 1988. Sau này,
năm 1992, khi thi công nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn, Nguyễn Đức Tùng lại đoạt giải
Nhất cuộc thi thơ do Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bình Định (cũ) tổ chức, với
chùm thơ 5 bài (Với Hàn Mạc Tử, Thêm
một nhành hương, Dừa Tam Quan, Bài thơ không nói hết, Chia
tay người về hưu). Chẳng có gì to tát, song đấy thực sự là động lực để
ông suy ngẫm, cẩn trọng để dám nghĩ, dám làm trong công việc kinh doanh và với
cả thơ ca.
Để hiểu Nguyễn Đức
Tùng, hãy cùng ông về quê, đi bên bờ sông Đà ngắm nhìn cây cỏ xanh mướt, nhìn
dòng nước về xuôi để suy ngẫm, hồi tưởng và chia sẻ cùng ông nỗi niềm thương
con sóng, mà thực ra là thương cái thân mình, thế mới nên nỗi “Thương con sóng vỗ đôi bờ náo nức,/ Tự thuở
lọt lòng ra đã bạc đầu” (Tự ngẫm). Hãy
cùng ông đi mua sắm ở chốn chợ quê để tận mắt thấy: “Người giàu đi chợ mua
sang./ Kẻ nghèo đi chợ mua ngàn âu lo.” (Chợ nghèo): Hay nữa,
lại cùng ông dạo bước thăm bảo tàng: “Dưới tượng nàng Tô Thị tự ngàn xưa/
Bao cuộc tiễn đưa chưa một lần hóa đá,” (Ghi ở bảo tàng):
… Ngay như một việc tưởng chừng đơn giản
ở mỗi gia đình, ông cũng cẩn trọng: “Đời người gặp lắm khúc nhôi,/ Tìm trong
lịch sử, có lời hơn, thua...” (Dặn con). Sự cẩn thận không thừa,
trong vai một người cha dặn con, nhưng thực lòng, tôi thích một Nguyễn Đức Tùng
giản dị, trong sáng và mông mơ như thế này: “Thời gian ơi, mấy mươi năm./
Hình dung lại, vẫn mơ nằm chiêm bao./ Nhìn quanh, nào thấy đâu nào/ Dấu trong
tim, những ước ao vẫn còn...” (Ngày xửa, ngày xưa),…
Doanh nhân thường
làm thơ để viên mãn, nhưng Nguyễn Đức Tùng lại khác “Thơ viết đêm, thơ viết ngày,/ Mỗi câu thơ mấy đọa đày tâm can.” (Đồng dao thơ). Đọc thơ ông để thấy
một Nguyễn Đức Tùng chan chứa tình đời biết bao nhiêu, nhưng đau đáu cõi lòng
và còn bao khúc nhôi ẩn chứa. Hãy nghe ông hứa “Thơ nhìn gần lại trông xa,/ Bài thơ chưa viết sẽ là thơ hay”
Vậy nên,
Nguyễn Đức Tùng vẫn có nhiều điều để mọi người cùng bạn yêu thơ chia sẻ,
khám phá và chờ đơi!... ./.
PHÙNG QUÁN
“Đi trọn đời trên con đường chân thật”
Nói đến nhà văn Phùng Quán, người ta
nhắc nhớ đến thân phận long đong, cuộc đời chìm nổi “cá trộm văn chui”
và mấy tác phẩm văn học của ông là tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo”, tiểu
thuyết “Tuổi thơ dữ dội”, cùng đó ông có một người cậu nổi tiếng,
nhà thơ Tố Hữu,… Nhưng theo tôi, “Ba phút sự thật” mới là tác phẩm
để đời và xuất sắc của Phùng Quán. Song trước khi bàn về điều này, tôi kể về một
lần duy nhất tôi diện kiến nhà văn Phùng Quán trong một hoàn cảnh ấn tượng và
trớ trêu,…
Tôi diện kiến Phùng Quán trong không
khí đổi mới về văn nghệ, đâu khoảng năm 1989 hay 1990. Trước đó, hàng loạt văn
nghệ sỹ thuộc diện có vấn đề trước
đây, người trước kẻ sau xuất hiện trở lại với các sáng tác đăng rải rác trên
báo, hoặc xuất bản cái mới, tái bản cái cũ như Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng
Đình Hưng, Hà Minh Tuân, Văn Linh, Vũ Bão ... Riêng Phùng Quán tái xuất giang hồ văn chương với bộ tiểu
thuyết Tuổi thơ dữ dội, và đã thành
công vang dội. Sự thành công của bộ tiểu thuyết cùng người cha tinh thần của nó
đã vượt ra khỏi địa hạt văn chương tràn sang cả điện ảnh khi nó được chuyển
thành phim truyện. Bộ phim cùng tên do đạo diễn Vinh Sơn dựng.
Lần ấy, nhà
thơ Trần Phương Trà (Trần Nguyên Vấn)
rủ tôi và một vài đàn em báo chí đến dự buổi chiếu phim ra mắt bộ phim Tuổi thơ dữ dội do Hội đồng hương Huế tại
Hà Nội tổ chức ở Hội trường Bộ Tài chính cũ nằm trên phố Phan Huy Chú, Hà Nội,
vào một ngày chủ nhật. Tôi nhớ, người đến dự khá đông, phần lớn là những ngưòi
lớn tuổi nói giọng Thừa Thiên Huế, số ít là thân nhân gia đình họ và bạn bè kéo
theo xem ké vì hiếu kỳ. Trước buổi chiếu, ban tổ chức có đôi lời phi lộ, rồi mời
Phùng Quán lên phát biểu cảm ơn. Phùng Quán lên, chưa kịp nói gì mọi người đã vỗ
tay hoan nghênh, không khí khá náo nhiệt. Hình như, sau nhiều năm sống lặng lẽ
trong lãng quên, bầu không khí náo nhiệt ấy và tấm thịnh tình của mọi người,
ông lặng đi. Hắng giọng mấy lần rồi ông cũng lên tiếng, giọng hơi run vì quá
xúc động. Ông nói chậm rãi, đưa mắt quan sát khắp hội trường, có ý nghe ngóng
xem người ta đón nhận mình thế nào. Rồi giây phút ấy qua nhanh, ông nói liền mạch
và cũng đỡ xúc động hơn. Tôi không nhớ lắm những gì ông nói, song cũng chỉ
loanh quanh việc tiểu thuyết của mình được xuất bản, được dựng thành phim và cảm
ơn những người đồng hương, anh em bạn bè và đông đảo độc giả khán giả đã đón nhận...
Khi ông đang say sưa nói, chợt có một người đứng tuổi, ngồi phía sau hàng ghế
chúng tôi, đứng lên, nói rất to, đại ý rằng, Phùng Quán không được nói thế, định nhân cớ mượn diễn đàn tự minh oan
hay diễn thuyết gì ở đây? Hãy xuống đi. Phùng Quán khựng lại, tắc nghẹn họng.
Tôi thấy, miệng ông há ra, không thành lời và cũng không khép lại được, như cá
đớp không khí khi mắc cạn vậy. Thật khó mà biết được diễn biến tình cảm, tâm lý
ông lúc ấy. Dáng người thô ráp khắc khổ của ông sụn xuống. Trong sự ngạc nhiên,
sự bất bình phản đối của nhiều người với ý kiến của người vừa nói, ông cố gắng
như kẻ ngọng tập nói cho sõi mấy câu cảm
ơn ngắn rồi xin phép xuống. Giọng ông tôi thấy có nước mắt !... Buổi chiếu phim
bắt đầu khi mọi người vẫn còn ấm ức bàn tán khen chê, bày tỏ thái độ và sự phân
bua của chính người lên tiếng cắt ngang vừa nãy...
Cả buổi chiếu
phim rất dài, mặc dù nhiều tình tiết phim cuốn hút, song tôi không tài nào gạt
bỏ được hình ảnh Phùng Quán trước buổi chiếu. Ông ngồi ở hàng ghế đầu, cách
chúng tôi vài hàng, nên tôi chỉ thấy cái đầu bù của ông nhô lên trong bóng tối.
Và dường như nó cứ to lên, to lên dần, choán hết màn ảnh. Có lẽ do chịu ảnh hưởng
của sự việc vừa rồi nên tôi thấy thế chăng? Tôi không phán xét việc làm của người
nọ đúng sai thế nào, nhưng với Phùng Quán, ứng xử với ông như vậy thì có gì đó
bất nhẫn, thậm chí là tàn nhẫn. Thực lòng, khi ấy, tôi cũng thấy bực người đã
to tiếng làm gián đoạn lời phi lộ của Phùng Quán. Đoạn kết, bộ phim dừng ở chi tiết khá đắt, đó
là chú bé Mừng, nhân vật chính, bị đồng
đội, bạn bè nghi ngờ phản bội, chú đã kêu lên rằng Tôi không phản bội . Tiếng kêu ấy vang vọng khắp núi rừng, núi rừng
nghe thấy đấy, song đồng đội có biết cho chăng? Chẳng cần phải liên tưởng gì
thì người ta cũng nghĩ rằng, chú bé Mừng ấy là Phùng Quán, nếu không, chí ít
cũng kêu hộ nỗi lòng Phùng Quán?
Trước khi bàn
về văn chương Phùng Quán, cùng xin nói đôi chút về chuyện vì sao người ta gán
cho ông là “cá trộm văn chui” để những ai còn chưa rõ biết. Cả một thời
gian dài khi ông bị quy chụp nghi kỵ này nọ, Phùng Quán bị mất việc làm, không
có thu nhập, cuộc sống khó khăn mọi bề, thiếu thốn miếng ăn vào miệng. Vợ ông,
bà Bội Trâm dạy học ở trường Chu Văn An, Hà Nội, nên người ta thương tình để vợ
chồng ông tá túc trong một nếp nhà như túp lều trên đất nhà trường gần mép Hồ
Tây. Vì túng thiếu, Phùng Quán hay câu trộm cá hồ để thêm miếng ăn hàng này. Rồi
nữa, để có thu nhập, ông ngầm viết báo, viết văn ký tên khác, hoặc nhờ bạn bè đứng
tên, gửi đăng báo đặng thêm thắt chút nhuận bút hỗ trợ vợ phần nào trang trải
cuộc sống. Lâu thành quen, thế nên những bạn bè thân thiết bông đùa mà gán cho
Phùng Quán biệt danh như vậy. Nghĩ mà cám cảnh cười buồn!...
Sự nghiệp văn chương của ông, trừ những
tác phẩm viết cho thiếu nhi ký bút danh hoặc mượn tên người khác (văn
chui), còn lại đều được. Tuy nhiên, tôi không thích lắm, dù rất quý trọng sự
chân thật và thô nhám trong văn của ông.
“Vượt Côn Đảo”, tiểu thuyết Phùng Quán viết khi còn trẻ, nghe qua
lời kể rồi viết, nhiều người khen tài, nhưng tôi nghĩ không phải là gan ruột của
ông, nên đó chỉ là tấm giấy thông hành để
Phùng Quán theo con đường văn chương cách mạng. Đến bộ tiểu thuyết “Tuổi
thơ dữ dội” mang tính tự truyện nên ông vẫn có phần rụt rè, e ngại trên
hành trình đi tìm sự thật và thiên về việc mình oan cho mình, vả lại khi đó ông
vừa trở lại văn đàn sau nhiều năm bị hạn chế, cấm đoán. Song đến tập ký nhân vật
“Ba phút sự thật” (NXB Văn nghệ-
Tp.Hồ Chí Minh-2006) thì là một diện mạo khác hẳn, khiến tôi vừa kính phục
vừa thích thú. Bài đầu tiên của tập là một tuyên ngôn nghệ thuật của Phùng
Quán, những câu chuyện, những con người trong cả tập sách đều đáng nể. Tôi đặc
biệt thích các thiên hồi ký về Tuân Nguyễn, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo,
Phùng Cung... Đọc tác phẩm này, tôi bất ngờ về tài viết tiểu luận và chân dung
văn học của Phùng Quán. Quan trọng hơn, qua đây người ta còn có thể thấy được
nhân cách của ông là thế nào. Viết về nhân vật, các bạn văn của mình, bằng nỗi
đau đời và sự khách quan lạnh sắc, ông khắc họa đặc sắc chân dung họ mà lại hiện
rõ cả diện mạo chính mình. Cả nhân vật và tác giả chung nỗi đau thấu xương tủy
nhưng lại ấm áp chứa chan tình người đến khôn cùng. Tài tình là ở đấy. Không có
gì là quá, khi bài sau cuốn sách trích bài viết Đứa con không quên lời mẹ dặn của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về
cuốn sách này : "Đây là một lời tự bạch
phản ánh chân thực nhân cách nhà văn của Phùng Quán: Khát vọng suốt đời về sự
thật. Bởi sự thật không phải là thứ có sẵn như chiếc bật lửa trong túi áo, mà
chính là số phận và khát vọng của Nhân Dân. Nhân Dân là Người Mẹ đẻ đau mang nặng
để sinh ra đứa con làm Nhà Văn, và vì thế, đứa con Phùng Quán suốt đời không
quên Lời Mẹ dặn: Người làm xiếc đi trên dây rất khó/ Nhưng không khó làm bằng nhà văn/ Đi trọn đời mình trên con đường chân thật".
Tôi nghĩ,
ngoài những cảnh huống cuộc đời truân chuyên vất vả mưu sinh “văn chui cá trôm”, về tác phẩm, cùng với
bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, sau
là tập bút ký và chân dung văn học Ba
phút sự thật, nhà văn Phùng Quán đã thực hiện được lời mẹ dặn, ấy là: Đi trọn đời mình trên con đường chân thật
!...
Gần đây, trong
một lần đối ẩm trà với nhà thơ Trần Đăng Khoa ở tòa soạn tạp chí Nhà
văn & cuộc sống của Hội Nhà văn Việt Nam, chuyện về các nhà văn,
nhân nhắc đến nhà văn Phùng Quán, ông kể một câu chuyện thú vị về Phùng Quán từng
đến nhà ông khi còn là thần đồng thơ Việt. Chuyện rằng, chừng đâu năm 1968,
Phùng Quán đã về nhà Trần Đăng Khoa ở Trực Trì, Nam Sách, Hải Dương (khi đó
ghép tỉnh là Hải Hưng). Phùng Quán kẽo kẹt đạp xe từ Hà Nội về, ý chừng muốn
xem cậu bé được mệnh danh là “thần đồng
thơ” này ngô khoai ra sao. Lần ấy, chuyện chán rồi Phùng Quán lựa lời hỏi
thần đồng: “Cháu thấy thơ của nhà thơ Tố
Hữu thế nào? Không hay ở chỗ nào?”. “Cháu thấy thơ chú ấy hay ạ”- Trần Đăng
Khoa bảo thế, song cứ nhìn thái độ và cái cách ông hỏi thì hình như ông ấy chờ
đợi câu trả lời ngược lại. Khoa lại bảo “Nhưng
chú ấy cũng ối chỗ viết không đúng”. Phùng Quán thích thú xoắn lấy ngay “Không đúng ở chỗ nào?”. Khoa bảo “Ví như bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, chú ấy viết “Chúng bay chỉ một đường ra/ một là tử địa hai là tù binh”, vậy
là hai đấy chứ,... Sao chú ấy không viết, Chúng bay chỉ có đường
ra, như thế câu sau một hai gì cũng
đúng hơn không”. Rồi thần đồng còn dẫn thêm mấy chỗ nữa mà theo cậu là không
chính xác trong thơ Tố Hữu, khiến Phùng Quán ngạc nhiên thích thú,... Hôm ấy,
Phùng Quán còn lôi Khoa đi câu, bằng cần câu lưỡi chùm không dùng mồi mà ông cất
công mang theo về. Kết quả chẳng được con cá nào. Chú cháu về tay trắng. Giờ nhắc
lại chuyện cũ, Trần Đăng Khoa cười toét miệng bảo: “Ao làng khi ấy chỉ toàn đòng đong cân cấn, cá cờ, thi thoảng mấy con rô
ron giếc cặn sót lại thì lấy cá đâu cho ông ấy câu giật cơ chứ,...Đâu có lắm
chép kềnh mè khủng như Hồ Tây để ông ấy câu giật....”. Trần Đăng Khoa còn đồ
rằng, mình chỉ nói điều ấy với riêng Phùng Quán hôm đó, nhưng sau này thiên hạ
cứ đồn Trần Đăng Khoa dám sửa cả thơ Tố Hữu, không chừng từ đấy mà ra, rồi
thiên hạ thêu dệt đồn thổi nên chăng...?
Theo Trần Đăng Khoa, khi ấy, Phùng
Quán đã khác người, bởi có cái nhìn khác, mặc dù Phùng Quán họ hàng gần gũi với
Tố Hữu, gọi Tố Hữu bằng cậu, trong khi người ta, bao gồm cả những nhà thơ lớn,
nhà nghiên cứu và phê bình văn học uy tín đều tung hô, ngợi ca hết lời thơ Tố Hữu.
Phùng Quán thì không. Điều ấy, đủ thấy nhân cách và bản lĩnh ông như thế nào!
Tôi nghĩ,
không sùng bái kẻ trên, đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc và chia sẻ với những người
bị vùi dập, ấy là phẩm cách của Phùng Quán. Vì vậy, ông mới viết nên các chân
dung lay động tâm can về Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Tuân Nguyễn, Phùng
Cung,... trong cuốn sách Ba phút sự thật
để đời của mình.
Đó cũng là cái
cách nhà văn Phùng Quán đã hứa và làm theo lời mẹ ông dăn từ thiếu thời “Đi
trọn đời trên con đường chân thật” ./.
PHẠM HỔ
người thắp lửa
Tôi định viết về ông nhưng rồi lần lữa mãi. Về con người, tôi
chỉ vào hàng con ông, phần vì ngại. Về sự nghiệp, ông đã thành danh với những
tác phẩm thơ văn dành cho thiếu nhi. Tôi biết ông có rất nhiều bài thơ hay và độc
đáo cho trẻ em, song thú thực, cho đến giờ tôi thuộc duy nhất một bài, ấy là
bài thơ Xe cứu hỏa. Đơn giản bởi bài thơ đó được đưa vào sách
giáo khoa cấp 1 từ thời tôi đi học.
Hè năm 2007, nhà thơ Phạm Hổ mất,
báo chí đăng nhiều bài viết về ông. Tình
cờ, tôi có gặp và trò chuyện đôi chút với con gái của ông, nhà văn Phạm Sông Hồng
khi chị thay mặt gia đình đến Ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam cảm
ơn sau lễ tang ông. Đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp Phạm Sông Hồng.
Thuở học trò, tôi biết đến Phạm
Hổ với tư cách là một nhà thơ viết cho thiếu nhi. Càng về sau, tôi thấy thơ viết
cho thiếu nhi của Phạm Hổ khá tài hoa, độc đáo và không kém phần ngộ nghĩnh. Có
người đã ví ông với ông Marshak (S.J Marshak, 1887-1964, nhà thơ Nga, nổi tiếng
thế giới , viết cho thiếu nhi rất hay, và là một trong những người sáng lập nền
văn học thiếu nhi ở Liên Xô cũ), và còn gán cho Phạm Hổ biệt danh là Marshak
Việt Nam. Rồi còn biết, ông có những ba ái nữ, tên gọi cũng rất chi là
đặc sắc, hai ả tố nga đầu là Sông Hồng và Sông Đông, đều tài hoa giỏi giang.
Sông Hồng thì thành danh với dịch thuật và một số truyện ngắn ngắn. Ở vào cái
thời truyện ngắn đang nổi đình đám trên văn đàn , nhiều cây bút truyện ngắn tài
năng lộ diện, nhiều truyện ngắn có tầm vóc như truyện vừa, mà Phạm Sông Hồng lại
chuyên trình làng những truyện ngắn mi-ni thì xem ra cũng là độc đáo. Người con
thứ hai của ông, Sông Đông học cùng khóa Tổng hợp Văn với mấy người bạn của
tôi (Ts. Nguyễn Hữu Sơn và Ts.Trịnh Bá
Đĩnh ở Viện văn học Việt Nam), và sở dĩ tôi biết vậy là vì trong các câu chuyện
ngày ấy của mấy chàng sinh viên này thấy có bóng dáng của cô nàng thứ hai nhà
Phạm Hổ.
Tôi có nghe một giai thoại
liên quan tới Phạm Hổ. Rằng ông là một người rất hiền lành, nhưng khá giỏi võ
thuật, mà là võ Bình Định kia. Chuyện là, có một chàng nọ muốn tiếp cận ông, nhờ
ông giới thiệu hay bỏ phiếu chi đó nhằm vào Hội nhà văn nhưng bị ông từ chối, lời
qua tiếng lại thế nào, chàng kia nổi khùng xông vào ông động thủ. Ông không buồn
đánh lại, chỉ né tránh và một động tác võ thuật nhẹ nhàng khiến chàng ta đánh
trượt mà ngã nhào. Chuyện thật hư thế nào chẳng rõ, nên xem như cái cách đề cao
tài võ của ông nhà thơ mà thôi.
Và rồi, có một chuyện khiến tôi
ấn tượng mạnh về Phạm Hổ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì vào mùa hạ năm 1994, tôi
tham dự Trại sáng tác văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam mở tại Hà Nội.
Lúc bấy giờ, tôi chủ yếu viết truyện ngắn cho người lớn, tuy nhiên cũng có dăm
ba cái truyện thiếu nhi gửi phát trên chương trình Văn nghệ thiếu nhi của Đài
Tiếng nói Việt Nam mà nhà thơ Lê Đình Cánh làm trưởng phòng. Khi ấy, Lê Đình
Cánh còn là ủy viên Hội đồng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn, ông động viên
tôi tham dự. Thực tình tôi ngại nhưng nể ông mà đồng ý, gửi trước đến Ban tổ chức
Trại sáng tác hai truyện ngắn là "Con chó Mực của bà tôi " và
" Có một bà già ai nhớ ". Cả hai truyện này đã được đăng trước
đó ở Báo Người Hà Nội. Hôm đến Hội nhà văn làm thủ tục, tôi gặp nhà thơ
Phạm Hổ và nhà văn Vân Thanh, là những người phụ trách Trại sáng tác. Có thêm sự
động viên của hai đại lão gia trong làng văn học thiếu nhi, tôi thêm vững tâm.
Trước hôm khai mạc, nhà thơ Lê Đình Cánh gặp
tôi, ông vui vẻ vỗ vai tôi bảo : "Hai
cái truyện của cậu được nhà văn Nguyên Ngọc đọc thẩm định. Cụ ấy khen đấy. Hôm
này khai Trại, Ban Tổ chức dự định là sau phần diễn văn khai mạc, đến phần của
trại viên, nhà văn Nguyên Ngọc sẽ đọc nhận xét thẩm định tác phẩm của cậu, kế
đó cậu sẽ tự đọc truyện ngắn của mình". Tôi nghe mà ớn cả ngươi, rồi
trối đây đẩy. Nhà thơ Lê Đình Cánh cười tủm tỉm, đông viên: "Có gì mà
ngại. Nhà văn là người của công chúng rồi . Tác phẩm của mình đem công bố hệt
như mũi tên đã bắn ra khỏi cung, trúng trật, khen chê thế nào là việc của thiên
hạ mà”. Nghe thấy chí lý, tôi có vẻ xuôi, song thực lòng vẫn ngần ngại
lắm. Mấy ngày phấp phỏng không yên đợi hôm khai trại.
Rồi cũng đến ngày đó. Trại được
tổ chức tại khoa sinh viên nước ngoài trong khu Đại học Bách khoa Hà Nội. Tôi đồ
chừng khoảng vài ba chục người từ các địa phương về dự. Tôi không thuộc hết mặt,
chỉ loáng thoáng biết và nhớ là có Thai Sắc (Đồng Tháp), Hoài Khánh (Hải Phòng),
Thái Chí Thanh, Lê Minh Hoài (Hà Nội) và hình như còn mấy bạn trẻ lứa tuổi học
trò ở Hà Nam Ninh thì phải... (Nếu hiện có bạn nào trong số ấy nay thành
danh trên văn đàn, thì cho tôi xin lỗi vì đã không nhớ được quý danh, không phải
vì khinh thị, mà chẳng qua khi đó tôi chỉ dự buổi khai mạc, không học tập và
sinh hoạt cùng anh chị em trong trại viết, vả lại lâu rồi nên không nhớ nổi).
Sự lo ngại khiến tôi chẳng nghe
thấy gì khi ngưới ta khai mạc. Đúng như dự kiến, nhà văn Nguyên Ngọc đọc bài thẩm
định hai tác phẩm gửi tham dự Trại của tôi. Chi tiết thế nào tôi không còn nhớ,
song khen cũng nhiều và chê cũng không ít. Sau đó, tôi được mời lên, ngồi vị
trí trang trọng nơi bộ bàn ghế kê chính diện trước hội trường. Tôi đã đọc cái
truyện ngắn của mình "Con chó Mực của bà tôi". Lúc đầu
còn e ngại, rồi bạo dần lên, rồi nữa như nhập đồng. Tôi vừa đọc vừa ứa nước mắt,
nấc thành tiếng. Tôi quên hết mọi người, tôi nhớ đến bà ngoại tôi, đến mẹ tôi,
đến con chó Mực nhà tôi... Bà ngoại tôi bị mù lòa từ ngày còn trẻ, vậy mà vẫn
những mười lăm lần sinh nở, nuôi con đến trưởng thành còn chục người. Hết nuôi
con rồi lại chăm cháu, đầy đàn đầy đống. Suốt những năm chiến tranh chống máy
bay Mỹ, đám cháu nội ngoại từ thành phố ùn ùn kéo nhau về sơ tán, bà ngoại tôi
nhận chăm sóc tất thảy. Bao nhiêu là chuyện phải lo, cơm cháo, rau khoai, tắm
giặt, học hành, lúc khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau... Chẳng thế mà sau này, lũ
cháu chúng tôi nên người, đi đây đó khắp xứ ta xứ tây tàu, luôn nhớ về bà với
tâm niệm bà như một bà tiên trong cổ tích. Giờ thì bà ngoại tôi đã mất và cỏ đã
xanh lần hai trên mộ. Con chó Mực cũng đã chết lâu rồi. Chỉ còn mỗi mẹ tôi. Mẹ
tôi đang sống hiu quạnh ở chốn quê nhà, ngày ngày chăn nuôi lợn gà, quét tước
lá tre, trông giữ đất vườn và nếp nhà gianh, cho mấy chị em tôi thỏa sức bay nhảy
nơi phố xá đô thị ... Tất thảy sống dậy trong tôi. Tôi mường tượng lại tuổi thơ
tôi sống với bà ngoại thế nào, bà yêu quý và chăm chút tôi ra sao...Và tôi đã
khóc. Khóc vì sao ư? Không rõ nữa. Có lẽ vì tất cả. Chỉ biết là cố kìm nén mà
không nổi. Tôi đã phải ngừng đọc những mấy lần, để nuốt tiếng nấc nghẹn, để lau
nước mắt vì chữ nghĩa trước mắt cứ nhòe đi. Lúc ấy, trong tôi chỉ còn một ý
nghĩ là cố gắng làm sao đọc cho xong cái truyện, chẳng tâm trí đâu để ý xem mọi
người ra sao. Song quả là tôi có thấy, nhà thơ Phạm Hổ cũng rân rấn nước mắt.
Điều ấy khiến tôi tự tin hơn, và bỗng dưng tôi thấy cái sự khóc của mình không
vô lý nữa, giúp cho tôi đủ sức đọc tiếp mà không bỏ dở. Gần cuối, khi đã bình
tĩnh tôi bắt đầu nhận thấy đâu đó những tiếng rì rầm ở bên dưới của những trại
viên, hình như cũng lại chuyện khen chê này nọ...
Sau phần của tôi, nhà văn Ma
Văn Kháng nhận xét những sáng tác của mấy bạn trẻ ở Hà Nam Ninh. Tôi không được
đọc truyện của họ, song chỉ qua thẩm định của nhà văn Ma Văn Kháng thì có thể
thấy những sáng tác ấy khá hay. Có lẽ còn do nhà văn Ma Văn Kháng viết nhận xét
rất giỏi. Tôi nghe ông đọc lời nhận xét thấy hay và thật đáng nể phục. Tôi rẩm
riu nghĩ, trước đây mình đã phục ông nhà văn này qua mấy tiểu thuyết "Mưa
mùa hạ", "Đồng bạc trắng hoa xòe" và "Mùa lá
rụng trong vườn", nay lại phục tài viết phê bình nữa. Lúc nghỉ giải
lao, tôi nhận thấy hình như mọi người vẫn tiếp tục trò chuyện với nhau, đưa ra
những ý kiến nhận xét này nọ. Và loáng thoáng đâu đó, có lời chê bai chi tiết
này, câu chữ nọ từ cái truyện của tôi. Lại nữa, còn có cả lời bai, rằng tại sao
cái tay ấy lại có thể khóc khi đọc truyện nhỉ v.v... Thú thật là lúc ấy tôi chạm
tự ái, nóng mặt. Đó cũng là lý do khiến tôi đứng một mình nơi hành lang, không
nhập vào nhóm nào, cũng chẳng muốn trò chuyện cùng ai cả.
Đúng lúc ấy, nhà thơ Phạm Hổ đến
bên tôi. Ông vỗ nhẹ lên vai tôi, miệng cười hiền vẫn còn nguyên vẻ xúc động nói
đứt quãng: "Em khá lắm... Viết cảm động lắm... Viết cho thiếu nhi không
khó ... Điều khó là ...cần một tấm lòng...Vì ở đấy không có chỗ cho cái ác...".
Tôi thấy rõ là ông thể hiện sự xúc động một cách chân thành, thế nên tôi cảm động
lắm. Sự cảm động còn bởi một lý do riêng tư, trong khi đám đông coi thường sự cảm
động của mình, thì lại có một vị đại lão gia biết trân trọng nó. Tôi không muốn,
nhưng không thể không so sánh. Ông còn căn dặn thêm gì đấy, song sự cảm động
khiến tôi không còn tỉnh táo để mà ghi nhớ. Đợi ông dừng lời, tôi ái ngại mà xin
phép ông và Ban Quản lý Trại sáng tác được vắng mặt một số buổi vì công việc cơ
quan không cho phép tôi dự đủ. Điều này tôi cũng đã bày tỏ với nhà thơ Lê Đình
Cánh từ trước. Ông cười hiền, bảo: "Thế à. Tiếc nhỉ ! Nhưng hễ rảnh buổi
nào là đến với anh em bạn bè của Trại cho vui đấy nhé". Lúc quay lại hội
trường, Phạm Hổ ân cần dăn: "Này em, chớ có nản mà bỏ viết cho thiếu
nhi đấy nhớ... Đồng hành với trẻ em là khó lắm đấy... Đã có nhiều người bỏ cuộc
rồi ... ". Ông lại cười, một nụ cười buồn...
Sau buổi khai mạc, phần vì bận
việc cơ quan, phần vì tự long mình thấy ngài ngại, nên tôi không tham dự thêm một
buổi nào nữa. Hôm bế mạc và liên hoan kết thúc, tôi có đến dự. Không khí bia rượu
và sự chia tay thường chỉ đem đến cho người ta một cảm xúc có phần thái quá.
Khách khứa từ các cơ quan báo chí và Hội nhà văn đến đông lắm. Các nhà văn
Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, nhà thơ Phạm Hổ là tâm điểm vây quanh của mọi người.
Tôi đứng ở một góc, cụng ly bia với nhà thơ Trần Nhật Lam. Lê Đình Cánh, những
người mà tôi quen biết. Mới chỉ khẽ chạm đến văn chương thôi cũng là đủ để biết
"mùi ca ngâm" của nó... Tôi nghĩ, thây kệ, điều quan trọng là
mình có viết được hay không và viết ra sao thôi?... Tôi muốn chào Phạm Hổ một
câu nên đành phải đợi lúc vãn người. Ông đứng nói chuyện với nhà văn Vân Thanh
và nhà thơ Lê Đình Cánh. Ông nhận ra tôi, vỗ nhẹ vai tôi bảo: “Mình có để ý
những hình như em không đến sinh hoạt cùng Trại?” Tôi vâng khẽ nhận lỗi và
lắp bắp lời giải thích. May có nhà thơ Lê Đình Cánh đỡ lời biện hộ cho. Phạm Hổ
lại cười hiền: “Không sao mà… Nhớ là đừng bỏ viết cho thiếu nhi đấy, em…”.
Những năm sau này, lâu lâu lại
thoáng thấy Phạm Hổ ở đâu đó, phần lớn là qua tivi. Thấy ông mỗi năm mỗi già
song sự điềm đạm và hiền hậu thì dường như mỗi dày thêm. Tôi nhớ, có một lần bật
ti vi lên, thấy đưa cảnh nhà thơ Phạm Hổ đến thăm một trường mầm non nào đó ở
Hà Nội (hình như trương Việt Triều thì phải ?). Ông cười hiền, trả lời rất hóm
hỉnh các câu hỏi của đám trẻ. Ông đọc thơ ông cho chúng nghe. Và trong số đó có
bài thơ Xe cứu hỏa, bài thơ mà tôi thuộc lòng từ tấm bé: "Mình
đỏ như lửa/ Bụng chứa nước đầy/ Tôi chạy như bay/ Hét vang thành phố/ Nhà nào
có lửa/ Tôi dập được ngay/ Ai gọi cứu hỏa/ Có ngay, có ngay!".
Phạm Hổ đọc chậm rãi. Nhịp điệu
theo từng câu từng chữ. Vừa đọc ông vừa làm điệu bộ. Đám trẻ con khoái lắm,
chúng thích chí cười. Ông cười theo, và tôi thoáng thấy nơi khóe mắt có ngấn nước.
Nước mắt của sự nhân hậu, bao dung và sẻ chia. Nước mắt của người suốt đời đi
theo bọn trẻ. Chúng như đám con cháu ông ngày ngày quây quần bên ông. Nước mắt
của người tự lượng sức mình, biết chẳng bao lâu sẽ xa chúng mà đi vĩnh viễn ...
Tôi lại nhớ lời nhắc nhở của
ông ngày ấy, rằng hãy viết gì đó cho thiếu nhi, chớ nên bỏ cuộc. Tuy đã xuất bản
được mấy tập sách cho người lớn song tôi không quên viết cho thiếu nhi. Đăng rải
rác, rồi đến năm 2001, tôi cũng tập hợp lại thành một tập truyện cho thiếu nhi
("Công cống mùa thu" - NXB Kim Đồng).
Khác với chiếc xe cứu hỏa của mình, hễ cứ thấy ở đâu có lửa cháy là lao
đến dập tắt ngay, còn riêng Phạm Hổ, ông lại luôn tìm cách thắp lửa. Ấy là những
ngọn lửa nơi tâm hồn mỗi đứa trẻ, những ngọn lửa sáng tạo trong mỗi cây bút trẻ
mà ông biết và nâng niu!... Đành rằng, viết về nhà thơ thì phải bám vào tác phẩm
của họ, nhưng theo tôi, Phạm Hổ, cao hơn cả là phẩm cách tốt đẹp và lòng nhân hậu
ông cho trẻ em, đối tượng mà ông đã dành cả đời văn. Còn với riêng tôi, Phạm Hổ
- người thắp lửa!
Thú thật, đã lâu rồi tôi không viết
cho thiếu nhi, trong số ba chục đầu sách đã ấn hành của tôi vẫn chỉ có một cho
thiếu nhi mà cũng đã lâu rồi. Tôi không quên lời Phạm Hổ căn dặn, nhớ nằm lòng
đấy nhưng quả thật viết cho thiếu nhi không dễ khi mình đã già cỗi. Biết đâu,
nay nhắc lại chuyện ông xưa, Phạm Hổ lại “thắp lửa” cho tôi mà tiếp viết
về thiếu nhi chăng?!...
PHAN QUANG
tài hoa và
bền bỉ...
Trước hết, tôi
xin được bày tỏ lòng kính trọng ông, của một người cầm bút, một đồng nghiệp báo
chí, văn chương thuộc thế hệ sau.
Ông là nhà báo, nhà văn Phan Quang; một
nhà báo lão thành và lão luyện; một cây bút tài hoa và bền bỉ; một con người suốt
đời miệt mài lao động chữ nghĩa;...
Bởi thế, viết
về ông thật khó, khi mà bản thân ông đã viết và xuất bản khoảng năm chục đầu
sách và có hàng trăm bài viết về ông của các tác giả trong và ngoài nước,...
Thế nhưng,
trong cái nền chung ấy, tôi nghĩ, vẫn có góc nhìn của riêng mình qua những gì
tôi biết và nghĩ về ông.
Phan Quang quê
Hải Lăng, Quảng Trị. Sinh ra trong một gia đình khoa bảng (có ông nội đỗ Cử nhân dưới triều Tự Đúc nhà Nguyễn) nên ông được học hành. Ông sớm gia nhập phong
trào thanh niên từ đầu năm 1945 và trong cách mạng Tháng Tám, Phan Quang tham
gia cướp chính quyền ở Quảng Trị. Kể từ đấy ông tham gia hoạt động cách mạng,
khi mới 20 tuổi, Phan Quang bước vào cuộc đời làm báo. Năm 1948, Phan Quang làm
báo Cứu
Quốc ở Quảng Trị, theo đó suốt cả cuộc đời cho đến tận bây giờ, ông miệt
mài cùng sự nghiệp báo chí, văn chương, kinh qua nhiều chức vụ trọng yếu ở các
cơ quan báo chí.
Phan Quang viết
được nhiều thể loại như phóng sự, điều tra, thời luận, tản văn, tùy bút, bút
ký, truyện ngắn, biên khảo, nghiên cứu và dịch thuật. song phải đến tác phẩm dịch
thuật “Nghìn lẻ một đêm” của Anoine Galland thì tên tuổi Phan Quang về
lĩnh vực văn học mới nổi bật. Những tác phẩm văn học thuở ban đầu của ông tôi
không có vinh hạnh được đọc nên không dám bàn, song tác phẩm khảo cứu “Đồng bằng sông Cửu Long” của ông thì tôi
thực sự ấn tượng. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, năm 1981 tôi vào
miềnTây Nam bộ trong vai trò một kỹ sư nông nghiệp tham gia khai phá đồng bằng
sông Cửu Long, tôi đã mang theo mình cuốn sách này của ông như một cẩm nang đặng
đối chiếu và so sánh với thực địa, cùng với đống sách kỹ thuật nông nghiệp. Hy
vọng và thất vọng đều có, nhưng xin
không bàn ở đây, chỉ biết là những gì ông viết trong đó đã mở mắt cho tôi nhiều
điều. Qua bài viết này, tôi muốn bày tỏ sự biết ơn Phan Quang vì cuốn sách đó của
ông!
Tiếng tăm ông
là thế nhưng phải khi về làm phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) vào cuối
năm 1987, tôi mới gặp mặt ông. Khi đó, vừa giải thể Ủy ban Phát thanh truyền hình Việt Nam để thành lập Bộ Thông tin, Bộ mới này được thành lập
trên cơ sở của Ủy ban cũ, nên bộ máy quản lý của nó nằm chung trụ sở 58 Quán
Sư, Hà Nội với Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Nhà báo Phan Quang được bổ nhiệm
Thứ trưởng bộ mới, giúp việc cho Bộ trưởng, nhạc sĩ Trần Hoàn. Ban biên tập Thính giả của tôi nằm
chung trụ sở này, nên hàng ngày đi làm hay chạm mặt Phan Quang. Chung chỗ, khác
cơ quan, vả lại dáng vẻ ngoài ông nghiêm cẩn nên không dễ gần. Chạm mặt ông thì
chào xã giao vậy thôi.
Nhưng rồi, đâu
đó vài năm, Bộ Thông tin sáp nhập vào Bộ Văn hóa rời về phố Ngô Quyền, nhà
báo Phan Quang được điều động làm Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), ông trở thành thủ trưởng cao nhất cơ
quan tôi. Trớ trêu thay, phòng làm việc của chương trình phát thanh Tiếp chuyện bạn nghe đài của chúng tôi ở
tầng 3 ngay trên đầu phòng làm việc của TGĐ Phan Quang ở tầng 2. Hàng ngày, gặp
mặt chan chát ở cầu thang bộ. Mấy chị em nữ cùng phòng tôi bắt đầu biết ăn diện
son phấn váy vó và giày cao gót đi lại lộp cộp lắm. Lâu lâu, anh cán bộ Ban
biên tập lại cau mặt nhắn bảo dạy dỗ “Này
mấy cô, đi lại nhẹ cái chân thôi, anh Phan Quang nhờ tôi nói lại giùm là các cô
cứ gõ gót giày ầm xuống phòng của anh ấy, khó tập trung làm việc lắm... Anh ấy
là người lịch sự tinh tế nên chỉ nhắn thế, chứ không mệnh lệnh đâu nhé”. Mỗi
lần vậy, mấy chị em le lưỡi so vai bụm miệng cười bảo nhau nhẹ nhàng, nhưng rồi
lại quên, đâu đóng đấy. Có là Tổng giám đốc thì cũng đành bấm bụng chịu thôi.
Là lãnh đạo cao nhất của Đài TNVN, ông kiêm cả
chức vụ Tổng thư ký rồi Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, đồng thời cũng là đại biểu
Quốc hội mấy khóa liền, nên đi công tác trong và ngoài nước liên miên nhưng ông
rất chu đáo quan tâm đến các việc nhỏ riêng của nhân viên thuộc cấp. Bằng chứng,
có lần gặp, ông lưu tôi ở sảnh trước cửa phòng làm việc của ông, bảo: “Cậu chịu khó viết nhỉ. Tôi có đọc mấy truyện
ngắn của cậu đăng trên báo. Được đấy. Đừng bỏ văn , văn và báo bổ trợ cho nhau
cũng tốt mà”. Tôi hiểu ông khuyên tôi như cái cách ông đã làm, báo và văn
song hành. Tôi nghe theo bởi thực tâm tôi thấy hợp lý. Khi cưới vợ, tôi băn
khoăn việc đưa thiếp mời ông dự, tôi ngại không mời thì thất lễ mà mời thì ông
bận bịu vậy chắc khó dự, nhưng rồi vẫn gửi thiếp mời. Quả nhiên, ông bận đi
công tác nước ngoài song vẫn nhớ gửi thiếp qua thư ký riêng của mình đến tôi,
chúc mừng hạnh phúc và cáo lỗi không dự được. Đủ thấy ông lịch thiệp và chu đáo
thế nào. Nhưng thôi bởi ở đây, tôi muốn phác thảo con người văn chương của ông.
Chỉ riêng lĩnh
vực văn chương, Phan Quang viết khá sớm và
đều tay. Năm 1954 ông đã xuất bản tập truyện ngắn đầu tay, rồi song hành
cùng nghề làm báo, ông viết văn và dịch thuật (tiếng Pháp). Vì song hành
báo-văn nên hai lĩnh vực này trong các tác phẩm của ông ảnh hưởng và chi phối lẫn
nhau, không hãm mà đôn nhau lên. Ông viết báo có chất văn, và viết văn lại thấy
sự sắc sảo và tính thời luận của báo. Với nhiều người khác ở ta, kiểu nửa văn nửa
báo thường là hãm nhau, làm giảm chất lượng chung, nhưng với Phan Quang thì
không, ông là số ít, nếu không nói duy nhất thành công ở định dạng này. Tôi
nghĩ, sở dĩ vậy, ông quá hiểu sự chông chênh đó mà vẫn lựa chọn phong cách này
là bởi tính chất song hành của công việc bó buộc, còn thành công được là nhờ
ông giỏi văn phạm, chữ nghĩa trau chuốt trên nền tảng của kiến thức uyên thâm.
Vô hình chung, Phan Quang đã tạo dựng nên một phong cách văn-báo của riêng mình.
Đọc Phan
Quang, dù ngắn hay dài, chí ít người ta đều thu hái được thông tin hay thông điệp
gì đây mà không thấy uổng công. Vậy thôi nhưng không dễ, bởi phải có tính
chuyên nghiệp cao. Xin không bàn rộng, tôi lấy mấy bài bút ký của ông mà tôi rất
ấn tượng để bàn luận đôi điều như một minh chứng cụ thể ...
Ở bài viết về
những suy nghĩ bên mộ vua Tần, Phan Quang mượn cớ chuyến ông viếng thăm khu
lăng mộ Tần Thủy Hoàng ở Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc mà bàn rộng ra lịch sử
và văn hóa Trung Hoa mấy ngàn năm; sự hình thành nền văn minh Hoa Hạ; sự hình
thành các hệ tư tưởng (Bách gia chư tử);
sự tạo dựng nhà nước phong kiến phân quyền và tập quyền; sự mâu thuẫn chính trị
quyền lực, sắc tộc, tôn giáo trong xã hội Trung Hoa cổ và trung đại; sự xâm
lăng và bị xâm lăng cùng tính hai mặt của chiến tranh v.v...
Ở bài bút ký
viết về nghĩa trang danh nhân ở Paris, Pháp – nghĩa trang Père-Lachaise, nơi
yên nghỉ ngàn thu của người chết trong đó có nhiều danh nhân châu Âu và thế giới,
được xem như công viên cho dân Paris và
khách thập phương du lịch, Phan Quang lại bộc lộ sự am tường về văn minh văn
hóa phương Tây. Đọc bài viết của ông về nghĩa địa dành cho người chết là để cho
người sống nghĩ về quá vãng, suy ngẫm hiện tại và chờ đợi tương lai. Tịch mịch
mà không u ám, thú vị xen chút hoài niệm, ý thức về sự nhẹ nhàng của cái chết
cùng sự vĩnh hằng của con người nên không thấy sợ... và quan trọng người ta ý
thức được giá trị của sự sáng tạo cống hiến khi còn sống,... Khách tham quan
như cảm nhận được anh linh các danh nhân
lừng danh một thời đang dạo chơi đâu đó trong vườn cây nghĩa trang, Honorre de
Balzac, La Fontaine, Moliere, Colette, Ferèdẻic Chopun, Osca Wilde v.v...
Một bài viết nữa
của ông về chuyến hành phương Bắc của một vị vưa triều Nguyễn, từng đi qua và
nghỉ đêm ở làng quê ông thuộc Hải Lăng, Quảng Trị. Gia đình ông là gia đình
khoa bảng, khá giả nên cũng là chỗ nghỉ đêm cho đám tùy tùng của nhà vua. Câu
chuyện ông thuật theo lời kể trong gia đình ông đã cho thấy phần nào diện mạo của
triều chính nhà Nguyễn khi ấy và rộng ra là xã hội Việt Nam nghèo nàn lạc hậu
trong bối cảnh thoái triều của nhà Nguyễn, đồng thời cũng thấp thoáng ánh lửa của
sức mạnh nhân quần đòi quyền sống dưới sự cai trị của chế độ thực dân phong kiến,...
Đương nhiên,
ngoài mấy bài viết mà tôi dẫn ra minh chứng cho một phong cách văn-báo của Phan
Quang, ông còn nhiều bài viết, cuốn sách khác hay và bổ ích. Tới nay, sau ngót
70 măm cầm bút, Phan Quang đã cho ra đời trên dưới năm chục đầu sách, điều đó
cho thấy sức lao động cần mẫn và bền bỉ của ông. Có lẽ, trong làng báo làng văn
xứ mình hiếm người đạt được những con số
ấy?...
Gặp mặt thấp
thoáng ở cơ quan thì nhiều lắm, nhưng gặp riêng và chuyện lâu thì tôi hân hạnh
tiếp kiến ông đôi ba lần. Ấy là vào dịp Đài (VOV) kỳ niệm 70 năm thành lập
(07/9/2015), theo hẹn trước, Phan Quang đến phòng làm việc của tôi ở tầng 7 trụ
sở 58 Quán Sứ. Tiếp riêng ông, tôi có phần ái ngại, đơn giản bởi phòng làm việc
của tôi, cấp trưởng ban mà rộng gấp đôi và tiện nghi đầy đủ hiện đại hơn phòng
làm việc của ông trước đây khi còn đương kim Tổng giám đốc Đài. Thấy ông vui vẻ
bình thường, tôi bớt phần ái ngại. Thày trò rủ rỉ bao nhiêu chuyện, báo chí văn
chương, quá khứ hiện tại... Hôm ấy trời mưa rả rích, tới trưa tôi giữ ông mời
dùng bữa trưa tại căng-tin nhà đài nhưng ông nhẹ nhàng từ chối khéo bảo sáng đi
đã hẹn vợ về ăn cơm. Còn lần sau vào đầu thu năm 2017, Phan Quang ra sách mới,
tập bút ký “Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ Hồ
Gươm”, ông mượn phòng họp của Đài để làm nơi tổ chức lễ ra mắt sách. Cả một buổi chiều, ngồi giúp
ông ký tặng sách, lại rỉ rả hầu chuyện đỡ việc ông. Cảm giác thật gần gũi và ấm
áp bên người đồng nghiệp lớn.
Phan Quang từng
kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo khác nhau nên dù không định nhưng tôi vẫn muốn
đưa ra nhận định theo góc nhìn của mình. Ở mỗi vị trí lãnh đạo, quản lý nhà nước
hay chuyên môn, công tác Hội, Phan Quang đều làm tròn vai nhưng ông không phải
là nhà quản lý giỏi. Có lẽ, tính nhân văn, lịch lãm pha chất hào hoa trong con
người ông đã khiến ông khó có thể mạnh tay quyết đoán trong quản lý hay xử lý một
ai đó liên quan đến thân phận con người. Theo tôi, ông có vai trò quan trọng việc
góp phần đưa dòng chủ lưu báo chí nước nhà hòa nhập với báo chí thế giới qua tổ
chức OIJ (Tổ chức Nhà báo Quốc tế).
Thế nhưng, không phải ai cũng đánh giá cao, việc này từng bị một số đồng nghiệp
phê phán là hữu khuynh.
Phan Quang,
tài hoa và bền bỉ. Giờ đây, ở độ tuổi ngoài chín mươi, ông vẫn chưa ngừng nghỉ.
Và như thế, bạn đọc vẫn có quyền mong chờ những tác phẩm mới của ông,..../.
PHẠM CÔNG TRƯ
Chính danh gọi Tễu…
•
Chính danh gọi Tễu
Đấy là một gã đặc biệt. Đặc biệt
người, đặc biệt thơ. Cứ nhìn cách gã đặt tên cho những đứa con tinh thần của
mình - các tập thơ là đủ thấy: Lời thề cỏ
may I-II-III, rồi Cỏ may thi tập
; Phồn thi I-II và nữa là Phồn thi III, để hoàn tất thi bộ Phồn tập.
Tôi thì nhất quyết gọi gã là Tễu. Đơn
giản bởi tôi thấy gã đã tự họa chân dung mình rất chi ấn tượng:
Cởi trần đống khố múa chơi
Hát
rằng, giữa đất và trời có ta
Đất
là mẹ, trời là cha
Chính
danh gọi Tễu, tự là Thảo Dân ...
Còn tên khai sinh do cha mẹ đặt cho là
Phạm Công Trứ - Tiến sĩ Luật - Nhà thơ -
Nhà báo.
Thật khốn khổ cho cái thân gã, sinh ra
lớn lên đã phải mang vác những tên tuổi lớn trên thân xác cực kỳ quê mùa của
mình.
Thoạt đầu là cái tên Công Trứ, khiến
người ta nhớ đến danh nhân Nguyễn Công Trứ - Doanh điền sứ, nhà thơ và nhà khẩn
hoang lỗi lạc của đất Việt thời Nguyễn, đầu thế kỷ 19. Có lẽ cha mẹ gã, những
nông dân của vùng đất biển bồi Hải Hậu (Nam Định) vốn là những người hiểu biết
nên lấy tên Công Trứ đặt cho gã, một để
tỏ lòng kính trọng với danh nhân Nguyễn Công Trứ, người đã có công lập ra hai
huyện nguyên là vùng đất mới bồi, Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình), hơn nữa, cũng là sự kỳ vọng vào
tương lai của gã. Hẳn sau này, nếu tài danh không mấy nổi thì gã cũng có cớ để
biện bạch rằng, vị danh nhân kia họ Nguyễn, còn gã họ Phạm.
Thêm nữa, chẳng hiểu gã có biết rằng,
trong lịch sử xa xưa, còn có một người trùng danh tính với gã, song lại rất nổi
tiếng, ấy là Phạm Công Trứ, một danh thần, nhà sử học thời Lê, đầu thế kỷ 17.
Ông này sinh năm 1600, quê Liêu Xuyên, Đường Hào (Hưng Yên), đậu tiến sĩ năm
1628, làm quan to trải các chức Đô ngự sử, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Lại,
Tham tụng phủ Chúa, tước Yến quận công, người từng được nhà vua giao trọng
trách cùng với cộng sự đương triều sửa chữa và duyệt bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư.
Thôi rồi, gã hết đường biện bạch nếu
chẳng may sự nghiệp không thành. May thay, gã không hổ danh đội tên danh sĩ,
danh nhân, dù thân xác quê mùa, trí tuệ chú Tễu. Đã từng đứng trên bục giảng
đường đại học mà cao giọng giảng luật học, cũng tiến sĩ và thơ phú như ai, lại
thêm cái danh nhà báo, dẫu chẳng dám so sánh với tiền nhân, thì cũng có thể tự
hào mà đứng trong trời đất này!
Tôi biết Phạm Công Trứ khi đã nổi danh
với bài thơ Lời thề cỏ may, sau cả
khi lấy bằng Phó tiến sĩ Luật từ Liên Xô về, làm việc tại Báo Pháp luật, và còn
độc thân. Trứ tuổi Quý Tỵ, tôi tuổi Đinh Dậu, hơn kém những 4 tuổi, song chơi
ngang hàng, xưng hô ông-tôi thân mật. Chúng tôi biết nhau nhờ cùng là cộng tác
viên của Báo Nông nghiệp Việt Nam.
Biết thì thế, song chơi được với nhau lại qua trung gian là Trần Đăng Khoa và
Trịnh Bá Ninh, khi ấy là Phó Tổng biên tập
Báo NNVN. Tiếng là thân, nhưng không gần. Cứ ai việc nấy, lâu lâu gặp nhau
do hẹn hò hoặc tình cờ thì vẫn có chuyện để mà nói. Ngồi với nhau, lúc tại công
sở, khi nhâm nhi tách cà-phê nơi quán xá, đủ độ thân để thật lòng chuyện nghề,
chuyện thơ văn, chuyện gia đình, chuyện đời... Khi nghe nhau nói, lúc hăng lên
cùng tranh nhau nói, một bộc trực to tát, một uyển chuyển nhỏ nhẹ hơn, và chưa
bao giờ bất đồng hoặc gay gắt đến phát cáu, đến mức một ai đó phải bỏ đi
trước.
Song le, nhắc đến Phạm Công Trứ, thì
phải nói đến thơ của gã. Thơ lại dăm bảy loại, Phạm Công Trứ chỉ gắn với thơ
lục bát thôi. Thế quả có thiệt cho gã, bởi thơ không lục bát gã cũng có ối bài
hay, song người đời đã nghĩ thế, cho là thế, nên đành vậy, thanh minh mà làm gì
.
Như một định mệnh, Phạm Công Trứ đến
với người yêu thơ bằng bài lục bát Lời
thề cỏ may, rồi cứ đà tiếp mạch nguồn tuôn chảy. Hễ đụng đến lục bát là
ngòi bút của gã trơn tru, tung tẩy, uyển chuyển làm sao. Tôi biết, với ngần ấy
tập thơ, Phạm Công Trứ đã được nhiều nhà phê bình thơ để mắt, săm soi, và trong
số đó, đáng kể là Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa và Chu Văn Sơn. Khen chê đủ
mùi, có cả chuyện bảo gã ngồi vào chiếu của Nguyễn Bính. Dẫu vậy thì có sao
đâu.
Quả thật, Phạm Công Trứ sở trường về
thơ lục bát. Song le, thương thay cho gã, ngay cái tên đã đội danh nhân lên
đầu, đến nghiệp thơ cũng không thoát khỏi kiếp
con rùa vào chùa đội hạc ra đình đội bia, ấy là phải đội các bậc cao thủ
tiền bối lục bát là Nguyễn Du, Tản Đà và Nguyễn Bính. Là kẻ hậu sinh, dẫu chỉ
bén gót các bậc danh tài tiền bối cũng chẳng có gì xấu hổ. Xét hiện tại, trong
làng thi ca Việt mình, chiếu thơ lục bát có mấy người thành danh thì trong số
ấy cũng có tên gã. Bốn người ngồi bốn góc: Nguyễn
Duy - Lê Đình Cánh - Phạm Công Trứ - Đồng Đức Bốn, mỗi người riêng một vẻ
hay.
Chơi với Phạm Công Trứ, cũng thích
nhiều bài thơ của gã, tôi đã tự chọn và bình dăm ba bài, đăng báo chỗ này chỗ
nọ. Lẽ dĩ nhiên, cũng na ná những bài viết của làng phê bình ta, khen một tý và
chê một tý, rồi cộng thêm tham số hy vọng bằng kết quả bài thơ (tập thơ). Tôi
không thông báo, cũng chẳng kể công gì với gã, song gã để ý và gom góp đủ cả.
Lại còn tuyên bố, khi làm tuyển các bài giới thiệu phê bình thơ gã, thì sẽ chọn
lựa đưa vào. Không rõ đến bao giờ gã mới làm cái tuyển đó? A ha, gã đã vậy thì sợ
gì mà không biếm họa chân dung gã?
Tôi từng viết một bài tạp văn Sân trăng (in trong tập Lên núi tầm mai - Nxb Văn học-2005),
lấy cảm hứng từ mấy câu thơ của gã: “...
Vợ thì mặt khó đăm đăm/ Con thì ọ oẹ đái dầm cả đêm/ Mình thì ngồi xuống đứng
lên/ Trăng thì cứ vãi đầy thềm như trêu”. Tôi gán chàng thi sĩ trong tạp
văn ấy vào gã, và còn rủa khéo, bảo gã hãy bỏ cái chốn phồn hoa đô hội mà về
quê cày cuốc cấy hái, để rồi tha hồ ngắm trăng. Gã biết, không giận bạn, mà lại
cười hiền.
Thoạt trông tướng gã quê quê, lại thêm
ẩm ương thơ phú, nhiều người lo không biết gã làm gì ra tiền để nuôi vợ con
(một vợ, hai con - đủ cả nếp tẻ). Đùng một cái, gã mua đất xây nhà lầu ở Cầu
Giấy. Xây nhà rồi, lại còn bắt chước người xưa đặt tên chữ nữa. Thảo am thì
quyết không phải rồi, thế thì phải là hiên,
hoặc các, lâu chi đó. Kể từ đấy, nhiều bài thơ, gã đề bên dưới là Quan-Hoa các, hoặc giả Nghênh-Phong hiên, hay Vọng-Nguyệt lâu... cho thêm phần nho
nhã. Vậy mà Tễu, một kẻ đặc quê mùa và láu cá lại được ra đời từ đấy.
Đa phần người yêu thơ, biết đến Phạm
Công Trứ là nhờ Lời thề cỏ may. Hẳn
tự thân gã cũng nghĩ vậy, thế nên mới có chuyện gã lấy tên một bài đặt cho cả
tập, rồi không những một mà cả ba tập, lại còn thành tên tuyển Cỏ may thi tập. Tôi biết, trong cuộc
đời, đã có bao nhiêu cô gái sướt mướt chùi nước mắt, bao kẻ ngậm ngùi nhớ về
cái thuở “ngồi gỡ lời thề cỏ may”.
Song chuyện gió trăng ấy chỉ là những phút thăng hoa ban đầu dễ làm người ta
lầm tưởng, thực ra, không mấy hợp cái tạng của gã. Gã là folklore, gã tưng tửng
mang mình ra mà tự trào để rồi bông lơn, trêu ghẹo, châm chọc cả làng, cả tổng,
cả thiên hạ (đâu kém cạnh gì cụ Tú Xương cùng quê với gã). Tôi lại cho
rằng, sự nghiệp thi ca của gã là ở trâu với cỏ, là ở Bờm với Cuội, là ở Tễu
kia.
Tễu sinh ra ở quê, đích thị nông dân.
Ở quê, Tễu là đệ nhất, đếch sợ bố con thằng nào. Vậy nên, Tễu mới “cởi trần đóng khố múa chơi”. Hãy xem
cái chú Tễu của gã tự bạch: “Đất là mẹ,
trời là cha/ Chính danh gọi Tễu, tự là Thảo Dân/ Gia tài độc một chữ cần/ Trọng
thực thường lấy chữ ăn làm đầu/ Bạn thì những chó cùng trâu…”. Nhưng đâu
chỉ lầm lụi, hèn mọn, cần lao, Tễu bình thường cam phận là thế: “Ra trận đành phận tốt đầu/ Về làng thì lại
cưỡi trâu ra đồng”, song lúc máu yêng hùng nổi lên thì nhất là bét nhé: “Kéo cày đã cực chai lỳ/ Khi giương sừng
nhọn hổ thì ngán ta”. Gì thì gì, Tễu vẫn biết và trở về với thân phận giáo trò của mình.
Đấy là Tễu gốc. Biến tướng sang Tễu II , Tễu ta không còn chính hiệu
nông dân nữa, mà đã nhuốm màu thị dân rồi. Nghĩ phận mình bèo bọt, cỏ rả “Độc một mảnh khố che thân/ Giấc mơ xuất
ngoại đâu phần Tễu tôi”, Tễu đâu tài cán như Trạng tiên tri mà biết, chỉ là
chó ngáp phải ruồi, há miệng chờ sung may sung rụng thôi: “Ai ngờ dân dã lên ngôi/ Thế rồi Tễu cùng được ngồi máy bay”. Tễu
ta ngồi máy bay, nhòm xuống nhân gian thấy dân làng mình cấy cày vất vả, mới ô
hay biết phận mình bấy lâu là thế. Rồi trải đất Tàu trời Tây, diễn trò đồng
áng, thảo dân ma lanh hết xứ gà trống
đến xứ sương mù, trở về quê, chợt
thấy mình không còn là nông dân chân đất mắt toét nữa. Vậy không là nông dân
thì là ai? Là thị dân chứ còn gì. Nhưng muốn thành thị dân thì cũng phải có
điều kiện gì chứ? Đơn giản thôi, thì cứ “Sống
lâu ở phố/ hóa thành thị dân”.
Thế là thành Tễu III, thị dân, kiêm nghệ sĩ. Tễu-thị
dân khác hẳn với Tễu-nhà quê hồi
mới bén mảng ra phố “Nhà quê khí huyết
tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân”. Thêm nữa, sau lần đầu xuất
ngoại, Tễu ta quen mui. Bây giờ xuất ngoại với Tễu không còn là may, mà đã
thành chuyện cơm bữa. Tễu biểu diễn chuyên nghiệp, mặc thì quen với gi-lê , mũ
phớt, ăn thì quen xúc-xích, dăm-bông, màn-thầu, sủi-cảo, nói năng thì gút-bai,
nỉ-hảo... Đấy là trước đám đông Tây-Tàu bộ tịch thế thôi, chứ hễ xong việc trở
về, Tễu ta chỉ dễ chịu khi là chính mình, với khố áo, với tre trúc ngõ quê, với
ao bèo sân đình, với ối a điệu chèo và câu dân ca não buồn giã bạn đêm trăng.
Tễu ta đành lột xác, song chớ trêu
thay, nỗi ám ảnh nông dân bám lấy Tễu, lẽo đẽo theo đi mọi lúc mọi nơi, trung
thành và nhẫn nại. Kỳ thực, bước ra với đời thì cũng bộ tịch thế thôi, chứ sâu
thẳm cõi lòng, nếp văn hóa làng quê Việt luôn ẩn chứa “Này nước tre trúc lung linh/ Này mây lồng bóng thủy đình gần xa/ Này
người dân dã quê ta/ Cắc tùng nhịp trống, ới a điệu chèo”. Kỳ cùng cho đến
một ngày kia, con cháu Tễu tiễn đưa Tễu về nằm lại nghĩa địa làng bằng một đám
rước ra trò!... Song trước khi sắp đặt sẵn cho Tễu một kết cục bi hài, hãy xem
Tễu ta sống ở phố thế nào, ăn ở với dân khối phố, đối xử với kẻ phường ra sao?
Tễu ta, thị dân: “Thị dân trong mặc/ Váy áo ngắn dần/ Thị dân trong ăn/ Chán cơm có phở/
Thị dân trong ở/ Nhà ống mái tôn/ Thị dân phát ngôn/ Cám ơn! Hân hạnh/ Thích
coi phim ảnh/ Thuê đĩa xi-đi/ Muốn uống cà phê/ Quán vườn mờ ảo/ Rất chăm đi
dạo/ Vì ngại bụng to/ Cần gọi xích lô/ Thì ra đầu phố/ Thuê một tốp thợ/ Cứ đến
chợ người/ Cả đến khóc cười/ Cũng có dịch vụ ...”. Mọi việc dễ ợt, như là
lẽ đương nhiên. Ở quê khó hơn nhiều.
Quanh đi quẩn lại, Tễu thấy mình chỉ có thể về
quê, đánh bạn với trâu. Đấy là con vật luôn gần gũi, thân mật với mình, buồn
vui chia sẻ cùng mình. Tễu nhận mình là Thảo Dân. Trâu lại là bạn của thảo dân:
“Từ ngày về với thảo dân/ Trên thừng xiên
mũi, dưới chân lội bùn/ Trưa hè nước bỏng như đun/ Chiều đông sương muối rét
run từng hồi/ Vụ năm cho chí vụ mười/ Hạt vàng người hưởng, rơm mời trâu ăn/
Lòng riêng thoáng chút lăn tăn/ Vẫn thề đi với thảo dân trọn đời”.
Xin được nhắc lại, gã biết tuốt song
giả ngây giả ngô, tưng tửng, chất chưởng, chẳng ngại gì và cũng không ngán ai.
Thấy chướng tai gai mắt là phê, là trào lộng. Bây giờ thì gã quen với cái giọng
điệu này rồi. Châm chọc, chê bai rồi gã cười. Cười chán cười chê, cười đến trào
nước mắt. Rồi gã giật mình, tỉnh ngộ. Lại buồn, lại hoài cổ, hoài quê... Thân
phận gã đâu khác thân phận Tễu kia chứ?!
Khi ngồi với vài ba bạn bè thân mật,
lúc ngồi riêng với tôi, Phạm Công Trứ không tiếc lời khen chúng bạn, rằng ông
này nhàn, cậu kia thì sướng, tay nọ khôn ngoan... chỉ riêng gã là khổ. Cơ khổ.
Rằng cái mặt gã ... ý muốn nói là khó coi, khó chơi, hãm tài ... ! Có phải vậy
không? Có lần tôi giở trò chữ nghĩa suy luận, mang tên gã ra chiết tự mà đoán: Trứ, có nghĩa là sự rõ ràng, còn chỉ sự soạn
thuật, làm văn, làm sách (theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh), chữ này bao gồm chữ giả và bộ thảo đầu. Giả ở đây là
chỉ người (như học giả, hiền giả), còn bộ thảo
chỉ cây cỏ. Vậy là kẻ đội tên Trứ
muốn thành giả (như tác giả thi ca
chẳng hạn) là phải nhập vào cây cỏ. Chẳng trách, thoạt đầu gã thành danh là nhờ
cỏ may. Rồi để nổi tiếng hơn lên, gã
phải gắn với trâu, với cỏ, rồi hóa thân vào Bờm, vào Cuội, vào Tễu, toàn những
loại gần gũi thân thuộc với thôn xóm, với chuyện cỏ rơm và công việc nông phu.
Phạm Công Trứ nghe. Gã gật gù cười ra
chiều tán đồng, lại như nghi ngờ. Thì cũng là chuyện vui thôi mà. Định viết
thêm về gã, song thấy chẳng hơn gì gã tự bạch rất ngắn gọn : “Đúng là/ Hồn gửi ngõ quê/ Xác chôn hẻm phố/
Chưa giây phút thăng thiên/ Đã đôi lần thất thố/ Nhờ câu thơ làm tin/ Lấy đức
năng thắng số/ Sớm muộn trời gọi mình/ Việc chi mà lo sợ”.
Không những thế, ở phần V Thơ phú giao duyên, gã thẳng thắn tự
giễu cợt mình: “Nửa kim nửa cổ/ Dăm câu
trần tình/ Vừa thơ, vừa phú/ Chắp
nhặt linh tinh/ Nếu có điều gì/ Xin
được lượng thứ/ Hoặc nữa: chấp chi/ Hắn - Phạm Công Trứ!”.
Gã đã chơi bài ngửa, trắng phớ trước
bàn dân thiên hạ. Trước tiên, gã lấy bản thân ra mà châm biếm cái đã (kiểu như
cụ Tú Xương, người cùng quê Nam Định với gã, tự rủa mình là kẻ cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ lại chơi
lường, rồi mới xỏ đổng thiên hạ; hoặc như bạn thơ cùng thời là Trần Đăng
Khoa, trước khi chê cả làng văn chương thì hạ mình tự nhận là kẻ vô tích sự”. Đến ngay cái thân mình
cũng chẳng buồn nương tay, thế thì thương xót và nương nhẹ ai đây?!...
•
Tự là Thảo Dân
Có một dạo Phạm Công Trứ được giao
chuyên trách tở Pháp luật cuối tháng.
Trong đó khó nhất là “nuôi” một chuyện mục nửa báo nửa văn, gồm những chuyện
pháp luật, xã hội, đời sống, độ trên dưới nghìn từ. Bí bài, Phạm Công Trứ cầu
cứu đến tôi. Chẳng là, ngày ấy, tôi là Phó trưởng ban Văn hóa xã hội Đài Tiếng
nói Việt Nam (VOV), nội dung công việc hàng ngày liên quan đến các vấn đề văn
hóa-xã hội, đời sống-pháp luật. Các thể loại ngắn như tản văn, tạp bút, câu
chuyện là nghề của tôi. Vậy là tôi nhận lời giữ mục cho Phạm Công Trứ, cũng đâu
cầm cự được vài năm. Lẽ dĩ nhiên, còn có thêm bài viết của người khác để chuyên
mục đa giọng điệu, đỡ nhàm, và phòng khi tôi quá bận việc hoặc bí đề tài...
Nhân đây, cũng phải cảm ơn Phạm Công Trứ, bởi nhờ những tạp bút, tản văn đó, mà
sau này tôi cơi nới, nhuận sắc được tập sách khá dày dặn là Lên núi tầm mai, in ở Nhà xuất bản Văn
học, 2005.
Đây
cũng là thời kỳ Phạm Công Trứ sung sức nhất. Ngoài các tập thơ tặng, tôi còn
được nghe gã đọc thơ và chuyện phiếm về thi ca, cùng chuyện bếp núc văn chương
chữ nghĩa. Những tư liệu, thi liệu này đã giúp tôi viết bài chân dung Chính
danh gọi Tễu. Khi đưa lên mạng xã hội (blogtiengviet.net), nhiều người
vào dọc, thích thú, cảm nhận và còn cung cấp thêm một số chuyện mà họ biết hoặc
nghe nói về gã, ví như một người sống ở Vũng Tàu, bảo là rất thích bốn câu của lục bát của Phạm Công Trứ “Mướp tàn sen cũng đi tu/ Lá tre đã thả một
mùa heo may/ Con sông không ốm mà gày/ Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn”.
Khi ấy tôi mới giật mình tự trách sao
mình lại bỏ sót câu thơ rất gợi này.
Lại
có người thóc mách chuyện thời Phạm Công Trứ sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh
ngành Luật, vì chuyện cơm áo đã cùng người ta buôn hàng này nọ. Rồi cả chuyện
đem chó Bắc Kinh về Việt Nam kiếm lời theo phong trào, rủi ro thế nào mà bán lỗ
vốn. Có người còn biết cả chuyện Trần Đăng Khoa (khi ấy đang là sinh viên
Trường viết văn Gorky) trêu Phạm Công Trứ, khi xuất khẩu thành thi rằng: “Đã Nguyễn Công rồi... lại Phạm Công/ Tưởng
là thi sĩ hóa ra không/ Sang Tây nghiên cứu không thấy chữ/ Túi đầy xi ngực với
xi mông”. Ôi, ngày ấy, nhãng học đi buôn là chuyện của nhiều người chứ đâu
mình Trứ. Nghĩ mà thương gã một, thì tủi cho trí thức xứ ta mười!
Trở lại chuyện thơ ca, những thứ làm
nên tên tuổi Phạm Công Trứ trong làng Lục bát Việt Nam hiện đại.“Chính danh gọi Tễu”, mới chỉ phác họa
một nửa chân dung gã nhà thơ này, còn cái nửa kia tất nhiên“tự là Thảo Dân”như chính câu thơ của gã. Mà Làng phố giao duyên, in
năm 2010, một dạng trường ca, trong
đó đã thể hiện rất rõ cái gọi là Thảo Dân này.
Theo
nghĩa Hán-Việt, “thảo” là cỏ, còn chữ “dân” nghĩa nguyên thủy là kẻ nô lệ. Vậy
nên nói thảo dân là tự nhún
mình, ví mình là thứ nhiều như cỏ rác,
mang thân phận thấp hèn của “dân đen”. Tuy nhiên, hai chữ Thảo Dân ở đây viết
hoa và được xem như “tự” của chính danh gọi Tễu. Có lẽ Phạm Công Trứ cũng như
một số các nhà thơ khác “xài” hai chữ Thảo Dân thì chỉ là một cách nói nhún
nhường để rồi biểu dương, vinh danh họ, chứ không mang tính chất hạ thấp, xem
thường người nông dân. Chẳng thế mà cỏ may, một loại dã thảo, đã có mặt trong
số bài thơ đầu tiên trình làng văn nghệ của Phạm Công Trứ. Rồi, như một duyên
nợ, cỏ may xuyên suốt đời thơ và để dấu ấn đậm đặc làm nên thương hiệu thơ Trứ:
“Cỏ may cỏ đĩ cỏ mê/ Cỏ không ngôi
thứ cỏ thề cùng tôi… Cuối cùng thì đất lên ngôi/ Tôi hóa thành cỏ hát lời hư
vô!”.
Như cái tên “làng phố giao duyên” viết trường ca này, Phạm Công trứ cũng chẳng
cần di đâu xa, gã cứ lấy nguyên cái làng quê mình trong sự đối sánh, tương
tranh, tương giáo với “phố” mà tả, mà
kể, mà giễu cợt, mà thương nhớ xót xa,... Cũng như cái làng Vũ Đại của Nam Cao
hóa thân từ làng Đại Hoàng quê ông, đại diện cho sự bần cùng hóa pha lưu manh
hóa thời thực dân phong kiến ở làng quê Bắc bộ Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20, thì
nay làng của Phạm Công Trứ ở chốn Hải Hậu có thể thay mặt cho làng quê xứ Việt
buổi cựa mình, đổi mới vươn lên thoát nghèo. Bề bộn và nham nhở lắm, biết bao
chuyện dở khóc dở cười với hiện trạng “làng
trong phố, phố nửa làng”. Thì đấy: “Ban
ngày phố như làng/ Em tóc vương rơm cỏ/ Đêm về làng hóa phố/ Em tóc nâu môi
trầm”; “Làng xưa vãi húng trồng rau,
phố giờ cắt tóc gội đầu như ai”; “Chỗ này xưa gọi làng Vòng/ Tiếng chày giã cốm
uốn cong trăng vàng/ Từ ngày phố nuốt mất làng/ Những em giã cốm chuyển sang
làm đầu”; “Cái mất thì đã mất rồi/ Cái còn nhấp nhổm đứng ngồi không an”...
Dù
là tiến sĩ Tây học, gần trọn đời sống ở phố, làm báo làm thầy đi khắp đó đây,
ăn mòn bát đĩa thiên hạ, nhưng cứ sểnh ra là gã lại hiện nguyên hình là một tay
nhà quê, với cỏ rả, bùn đất đồng áng: “Cỏ
may, sao lại cỏ may/ Không hương, không sắc dựng đầy bờ đê/ Nhớ đồng, nhằm biển
anh về/ Gỡ cỏ sống lại lời thề ngày xưa”; sống lại với chuồn chuồn bươm
bướm từ thuở trẻ trâu: “Rón rén là rón
rén ơi/ Chú chuồn ớt mới đậu rồi, tóm ngay/ Rón rén là rón rén này/ Nàng bướm
trắng lại vút bay mất rồi”.
Gã
như còn như tự hào với những cánh bướm, cánh chuồn, cánh diều mà gã mỹ miều gọi
là hồn quê:“Hồn quê vi vút phiêu diêu/ Ấy
là mộng ước trẻ nghèo thả lên/ Nghèo
là nghèo bạc, nghèo tiền/ Dưng mà giăng gió thiên nhiên chẳng nghèo”. Chẳng
ngại gì kẻ cười người chê là quê mùa, gã như còn thấy hả hê, hào hứng: “Tắm truồng thú của trẻ quê/ Ra phố là hết
đam mê tắm truồng/ Về quê tìm lại cội nguồn/ Hòa cùng lũ trẻ “diễn tuồng” trên
sông”...Thậm chí gã còn gọi đó là bậc nhất “thú quê”: “Thú quê gì sướng nhất ta/ Chọi gà bắt cá hay là cưỡi trâu?/ Cưỡi trâu
chưa sướng nhất đâu? Sướng nhất là được cùng nhau… tắm truồng”.
Chẳng biết thuở nhỏ gã có “chăn trâu
cắt cỏ” không, song thơ gã đã Cắt cỏ
chẳng ngại gai đâm/ Lội ruộng chẳng hãi âm thầm bùn rêu”. Cùng với cỏ rả là
những cào cào, châu chấu, cua ốc, trâu chó dù đã xuất hiện sớm song phải đến
trường ca này thì nó mới dầy đặc như là một thế giới cần lao lam lũ (dã tràng tự bạch, là ếch, là trâu…). Thi
liệu, thi ảnh toàn là những công việc của người quê, sản vật của làng quê, từ
đó làm nên thứ “văn hóa làng quê”, mà là làng quê của đồng bằng ven biển, của
kẻ tự nhận là… Thảo Dân!
Là
trường ca thì cũng phải có chương hồi chứ, nên gã dụng công băm chặt bày đặt ra
cho có đủ cả“Mở”, và “Khép”, còn khúc
giữa là những Ngày tự nhận “Mục đồng là chúng anh đây/ Lưng trâu đã
cưỡi, liềm tay đã cầm/ xưa, Tự bạch, Trích ngang, Làng, Đấng sinh thành, Viết
cho con, Phố, Hà Thành hồi cổ, Hai khúc sông Tô, Làng trong phố, Phố nửa làng...
Là trường ca thì kiểu gì cũng phải tự sự, tức là kể và tả. Mà đã kể tả thì khó
tránh khỏi “con cà con kê”, “ngồi lê đôi mách”, dù chữ nghĩa có dụng công đến mấy. Phạm Công Trứ không phải
là một ngoại lệ. Tuy nhiên, ở Làng phố giao duyên cũng hạn chế
được sự nhàm chán nhờ ở cách kể và ở giọng kể. Ấy là một giọng kể hóm hỉnh, có
duyên và nhất là gã liên tục thay đổi giọng điệu, biến tấu thể thơ.
Chẳng
hạn, gã mượn đồng dao để nhớ về cái tuổi thơ hoa bướm, mộng mơ “Ngày xưa/ Kéo cưa lừa xẻ/ Chẳng hám cơm Vua
/ Chỉ mong được thua/ Về bú tí mẹ (!)/ Ngày xưa/ Mặc quần thủng đít/ Chi chi
chành chành/ Quả ổi quả chanh/ Gốc na gốc mít/ Ríu ra ríu rít/ Ngày xưa/ Đung
đưa hoa bìm/ Lim dim hoa khế/ Sao mẹ đi chợ lâu thế?/ Ngày xưa/ Đi trốn / Đi
tìm/ Đống rơm, đống rạ/ Góc bếp, cánh cửa / He hé mắt nhìn/ "Ù oà",
"ù ập"/ Thế là ú tim!...”.
Có
lúc Phạm Công Trứ mượn lối văn biền ngẫu của thể phú để phác họa cảnh và người
ở vùng quê biển của gã: “Ngàn lưỡi chó
dưới chân sóng liếm/ Trăm tay mèo trên đầu gió mơn/ Lũ còng gió ườn mình nằm
phơi nắng/ Đàn dã tràng miệt mài xe cát lấp đại dương/ Người đi te chân khoeo
cao nghễu nghện/ Dân bắt còng giỏ nặng kéo lệch sườn/ Gái làm muối bịt mặt cười
lấp loá/ Trai kéo rùng cơ bắp cuộn như lươn/ Anh quỳ xuống ô nề trưa nắng tóe/
Lưỡi thấm mùi mặn chát kiếp gió sương/ Anh soi lên ánh mặt trời nhiệt đới/ Những
long lanh tinh kết giữa ngày thường/Anh chạy vồ những con còng gọng đỏ/ Những
mắt lồi sắp chết vẫn còn giương/ Anh áp tai vào những vỏ sò, vỏ ốc/ Nghe u u
hồn biển giục lên đường…”.
Cũng bằng lối miên man kể và tả, gã dẫn dụ
người đọc lạc vào trận đồ chữ nghĩa dày công giăng mắc của mình: “Sông quê nước chảy rầm rì/ Mặt sông sẫm
màu nước vối/ Gái quê đi làm đồng về/ Kéo nhau ra sông tắm tối/ Sớm ra vạn chài
hành nghề/ Rộn rịp vãi chài tung lưới…Tháng chín bước sang tháng mười/ Cốm mới
thơm mùi mời gọi/ Rải đồng chim ngói từng đàn/ Thôn xóm bước vào mùa cưới/ Cô
dâu nửa khóc nửa cười/ Chú rể mong trời chóng tối/ Lúa chiêm cấy hái xong xuôi/
Tết Ta cũng vừa kịp tới/ Nhà nhà gói bánh, đồ xôi/ Giồng nêu, quét lại tường
mới/ Sân đình náo nức cờ người/ Ao làng om thòm diễn rối/ Thôn nữ váy ngắn nhún
đu/ Các cụ ngước nhìn không nói,...”.
Kể
gì thì kể, tả gì thì tả, thế nào rồi cũng phải hiện lên bóng dáng trâu bò thấp
thoáng nơi triền đê, ngõ xóm: “Cảnh quê
bao đời tiếp nối/ Trâu bò gặm cỏ triền đê/ Lông mượt vo ve ruồi muỗi/ Nối đuôi
từng đàn chiều về/ Thậm thịch chìm vào ngõ tối/ Mục đồng tóc gió vàng hoe/ Sáo
trúc lưng trâu nhẹ thổi/ Bập bùng ánh lửa bên hè/ Mùi cơm quyện vào mùi khói/
Lấp ló trên đầu ngọn tre/ Trăng non cong hình lưỡi hái/ Dưới trăng trai gái
nguyện thề/ Thầm thì bãi dâu, ruộng cói/…”.
Làng
quê trong Thơ phú giao duyên cũng như
có “âm bản”, bên cạnh cái phồn thực, phong nhiêu là bàng bạc cái nỗi buồn muôn
thuở của đồng quê, nỗi khốn khó lam lũ của những thảo dân, nhất là khi màn đêm
trùm lên lũy tre làng: “Đuổi nhau đom đóm
nhập nhoè/ Ôm nhau ếch nhái sấp ngửa/ Cót két gió vặn thân tre/ Tưởng tiếng dân
nghèo than thở/ Lấp loáng cánh dơi đi về/ Mèo hoang từng hồi nức nở/ Lửa chài
thấp thoáng ven đê/ Bờ bụi nhọc nhằn tiếng cú/ Kẽo kẹt bên sông vó bè/ Ma trơi
trên cồn nhảy múa/ Say rượu giọng ai lè nhè/ Vu vơ đôi tiếng chó sủa/ Đều đều
mẹ kể con nghe/ Cái thời ngày xưa ngày xửa/ Bến sông trăng ném thia lia/ Thôn
xóm chìm vào giấc ngủ/ Ngoài ngõ
sương giăng đầm đìa/ Trong nhà tiếng người nói mớ/ Mảnh mai tiếng hạc về khuya/
Chém màn đêm thành hai nửa/ Thoạt tưởng tinh cầu đang rơi/ Sau ngỡ bình vàng
chợt vỡ…”.
Quả
thật, đọc những dòng ma mị như thế, người ta sây sẩm mặt mày như bị thôi miên
mà lạc lối trong mê lộ chữ nghĩa giăng mắc. Những khúc miên man li bì như vậy
không hiếm trong trường ca này, nó tạo nên cảm giác bất bình thường, ru rín, mê
dụ, như tự kỷ ám thị mà không biết thoát ra bằng lối nào. Về mặt tâm linh, có
thể ví chúng với thuật thôi miên trong lối hát hầu đồng trong tín ngưỡng thờ
Mẫu của người Việt bản địa. Mà Phủ Giầy thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở đất Nam Định,
quê gã, lại là “cái nôi” của Đạo Mẫu rất thịnh lối hát chầu văn hầu bóng này.
Nói theo ngôn ngữ hiện đại, Phạm Công Trứ mượn các dạng thức dân gian đặng
“thao túng tâm lý” khiến người đọc bị mê dụ dẫn dắt. Song như thế kể cũng đáng,
bởi bức tranh quê mà gã họa nên bằng ngôn từ, nhạc điệu thực sự mê đắm lòng
người. Tôi nghĩ, đó là điểm mạnh, khác biệt riêng có của Phạm Công Trứ.
Về cấu trúc, trường ca Làng phố giao duyên không có gì mới. Từ
mấy chục năm trước, khi đang còn tuổi thiếu niên, thần đồng Trần Đăng Khoa,
trong trường ca Khúc hát người anh hùng, đã
dùng ngôn ngữ thơ để kể trong không gian truyện về sự tích anh hùng của người
thôn nữ Mạc Thị Bưởi. Và, để thâu tóm chủ để tư tưởng của từng khúc, từng
chương, đồng thời làm cọc tiêu, điểm nối và thay đổi tiết tấu Khoa đã sử dụng
những khúc hát theo thể lục bát rất tài tình. Ở trường ca Làng phố giao duyên của Phạm Công Trứ, ta cũng bắt gặp thủ pháp
này, tuy không thật rõ ràng. Bởi các khúc lục bát của Phạm Công Trứ đa phần là
để thay đổi tiết tấu chứ không giữ vai trò cô đọng ý tứ và sâu chuỗi mạch thơ
như Trần Đăng Khoa. Có điều, khi sáng tác Làng
phố giao duyên, Phạm Công Trứ đã bước vào tuổi trung niên, nên ngôn ngữ thơ
kể chuyện già giặn, ma mãnh, với nhiều chiêu trò, mảng miếng, như đã nói.
Vậy thì qua trường ca này, Phạm Công
Trứ có đóng góp gì về mặt nghệ thuật thẩm mĩ? Ý tưởng, nội dung thì quá rõ. Làng phố giao duyên nói về thời kỳ
chuyển đổi từ “làng” canh tác nông nghiệp lạc hậu lên “phố” sản xuất hàng hóa
thương mại mại dịch vụ. Trong quá trình vặn mình chuyển đổi ấy, có mất có được,
mà được là chính. “Làng từng tìm thật mà
yêu/ Phố nay lấy khéo làm điều vinh danh/ Không làng tự đánh mất mình/ Thiếu
phố thật khó đua tranh với đời”.
Thương
nhớ và cũng bực mình lắm thay bởi cái sự chuyển đổi còn dang dở, khi phố chưa
hẳn thành phố mà quê cũng không hẳn còn quê. Giao thoa, giao duyên giữa làng và
phố với ý tưởng thế, không chỉ được Phạm Công Trứ chuyển tải trong trường ca
này mà còn ở nhiều bài thơ khác những năm gần đây. Nhìn chung, nếu đem tách ra
từng trường đoạn, từng khúc, nhìn nhận như một bài thơ độc lập thấy nhuyễn và
hay, nhưng đặt trong cấu trúc của trường ca thì còn rối và thiếu liền mạch. Như
vậy, xét về tổng thể, Phạm Công Trứ chưa thật cao tay ấn, còn có chỗ vụng trong
bài binh bố trận và điều khiển đội quân chữ nghĩa của mình.
Điều đáng ghi nhận ở gã phù thủy Phạm
Công Trứ là qua trường ca Làng phố giao
duyên, cùng một số bài thơ khác, dấu ấn về LÀNG rất đậm nét, mặc dù gã không xướng tên một làng quê cụ thể nào
để khám phá, vinh danh, chẳng hạn như cái “bản Hiếu Lễ” của Y Phương, “bản Hon”
của Dương Thuấn, hay “làng Chùa” của Nguyễn Quang Thiều... Ấy là cái tài của
gã, biến cái riêng thành cái chung, nâng cái cụ thể lên thành khái quát. Mà
điều ấy, thật không dễ chút nào và không phải nhà thơ nào cũng làm được. Sắm
vai một Thảo Dân thời 4.0, gã đã khép lại làng
phố giao duyên, bằng một cái kết “mở”: “Biết
thân thấp thế lỗi thời/ Giữa làng và phố đành ngồi giao duyên/ Sâu sắc phát lộ
hồn nhiên/ Rạ rơm khuất lấp một miền phồn hoa/ Áo xiêm mớ bảy mớ ba/ Khép vào
tưởng phố mở ra thấy làng”.
3.
Nhuốm màu thiền lão
Ở
vào cái tuổi chấp chới thất thập niên lão, Phạm Công Trứ lượng sức mình, chẳng
thể cứ dương dương như cái buổi đầu ra phố “Nhà
quê khí huyết tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân” mà đã thoáng thấy
cái sự mệt mỏi, ngấm đời của“Dáng đi có
lỗi với đời/ Cái đầu đã cúi thấp rồi, thấp hơn”. Đóng cửa luyện công đặng
nâng cao tuổi thọ, kéo dài tuổi thi hình như là chủ trương của lão. Hàng chục
năm liền, không thấy gã ọ ẹ ở đâu, thơ phú nơi nào. Sống thì chắc rồi nhưng
sống ra sao thì chẳng rõ. Hỏi thăm vài ba người thân với gã thì họ bảo “Vẫn sống nhăn răng đấy dưng mà bệnh tật yếm
thế lắm”. Hỏi tiếp “Thế thơ phú gì không?”. Lại bảo “Chắc là có đấy. Lão này còn ngọ nguậy thì
còn thơ. Bắt lão ấy cai thơ khéo lão thăng luôn”.
Rồi một hôm, bất thình lình thấy Phạm Công Trứ ngồi thù lù
nơi phòng khách Hội Nhà văn, số 9 Nguyễn Đình Chiểu. Quần áo, mũ len khăn cổ
xùm xụp, thêm một cái gậy chống bên cạnh và thẻ xe buýt dây đeo trước ngực. Giá
gặp ngoài đường dễ ngỡ lão hành khất nào đó. Râu tóc bờm xờm bạc cả, riêng ánh
mắt thì vẫn ánh lên sự minh triết pha chút tinh nghịch, giễu cợt vưỡn có.
Thơ gã lại đăng lác đác đây đó. Tôi
biên tập một bài viết bình thơ Nguyễn Bính gửi đến Tạp chí Nhà văn & cuộc sống. Đọc mà ngờ ngợ, tên tác giả bài
viết thì lạ hoắc. Hỏi ra, ông Tổng Khoa cười toét miệng “Lão Phạm Công Trứ đấy. Tớ bắt đề tên thật rồi”. Tôi ngớ người “Thảo nào, giọng văn quen quen ...”. Thời
gian sau, mỗi lần đến Hội, gã đều ghé vào Tạp chí chuyện phiếm. Đã bỏ được
chiếc gậy chống, chuyện cũng rôm rả hơn. Lại hiện nguyên hình một gã tiến sĩ
nửa nhà quê, độ lượng và từng trải, thật thà mà tinh quái,...
Thực ra, suốt quãng thời gian bế quan,
hay trầm cảm tự kỷ gì đấy, gã vẫn bập bõm, chi chút với thơ “Về già thơ phú lai rai/ Chẳng cao thêm được
chỉ dài thêm ra”. Có điều, điềm tĩnh, thâm trầm hơn về cách nhìn nhận cuộc
sống, và giọng điệu đã hạ tông, thương đời, thương mình hơn, nhưng vẫn lộ rõ sự
hóm hỉnh vốn có của “gã nhà quê… tinh
quái” như “đọc vị” của nhà thơ kiêm nhà phê bình cũng rất tinh quái là
Nguyễn Hoàng Sơn trong một bài viết về thơ Trứ trước đây.
Về
chữ nghĩa, vẫn nguyên đó một Phạm Công Trứ biến hóa, giàu thanh sắc, hình ảnh,
nhạc điệu,... Riêng về thơ lục bát, theo tôi, gã không lẫn bất cứ một ai trong
số các cao thủ về thể thơ này (như Nguyễn
Duy, Lê Đình Cánh, Trần Đăng Khoa, Đồng Đức Bốn). Cùng giàu chất uy-mua,
nhưng ở Nguyễn Duy quãng thời gian sau là chủ ý bông đùa và đẩy lên thành nghệ
thuật; Còn Lê Đình Cánh thì chủ thể luôn đứng hẳn một phía để rồi quan sát, tủm
tỉm cười mà cảm thông đôi chút; Riêng Phạm Công Trứ là sự tự thân, tự giễu, lấy
chính mình làm đối tượng rồi ra chuyện người nên có sự đồng cảm, chia sẻ,...
Được
biết, lão đang ráo riết chuẩn bị in “Thơ Chùm”, một dạng “sơ tuyển”, nhân
cập tuổi “cổ lai hy”. Chẳng hiểu xuất phát từ đâu, gã lẩn thẩn sắp xếp “cây
thơ” mình theo từng chủ đề, mà gã gọi là “chùm”: Cỏ, Phồn, Linh, Luật, Lão,
Mùa, Nhi, Triết ... và kỳ công viết luận giải mào đầu cho từng chùm. Hẳn diễn
lại trò xưa trong cách chơi chữ đặt tên như thời Cỏ may, Phồn thi...? Kể cũng thú vị. Song ở đây, tôi chỉ điểm mấy
chùm, bắt đầu bằng chữ “lờ” (L) của gã để bàn qua thôi, kiểu làm quà câu
chuyện,…
Trước hết là Thơ Luật. Luật thi không đề cập nhiều đến khái niệm luật pháp dù gã
học luật, phó giáo sư tiến sĩ luật hẳn hoi, mà là những chiêm nghiệm của cái
người mà số phận “mắc kẹt” giữa luật và thơ:“Đi
giữa đôi bờ: luật và thơ/ Luật vuông hình khối, luật có gờ/ Thơ thon hình ống,
thơ có cánh/ Thao thiết một dòng thực lẫn mơ”.
Bằng con mắt của một nhà báo chuyên
luật, Phạm Công Trứ quan sát sự vật, hiện tượng, thói đời ... để luận về đúng
sai, thiện ác, quyền năng, trách nhiệm và công lý, từ đó rút ra bài học, điều
chỉnh hành vi xử sự hướng tới cái thiện bằng tư duy thơ, diễn ngôn thơ:“Để tồn tại phải luôn thích ứng/ Ấy là quy
luật của muôn đời/ Khủng long tuyệt diệt vì to lớn/ Kiến giun bé nhỏ mãi sinh
sôi” (Luật đời); “Sông có khúc/ Người có thời/ Xong thì đi chỗ khác
chơi/ Nếu không muốn bị ông giời nhấc ra” (Luật chơi); “Nếu đời là một cuộc
chơi/ Ai người làm luật, ai người cầm cân?/ Ai người gác cổng, dọn sân/ Ai chờ
vào cuộc ai dần bắn ra?” (Một cuộc chơi);
“Chữ “quan” (倌)
có một cái ô/ Giương ra là để che cho nhiều mồm/ Mồm ăn, mồm nói, mồm hôn/ Mồm
tụng kinh sách, mồm chôn sống người” (Chữ quan); “Sinh ra
vốn đã có rồi/ Ấy là quyền của ông Giời ban cho/ Cung đình mấy cụ Tân Nho/ Phán
rằng có cái còn to hơn Giời!”
(Quyền tự nhiên); “Việc của nó là
“bắt”/ Việc của mày là “khai”/ Việc của họ là “buộc”/ Việc của chúng là “cãi”/
Tao “tuyên” là hết bài (Công Lý); “Cái ác nhìn
từ nhiều phía/ Càng nhìn càng khó phân minh/ Khi thì là dao là búa/ Khi thì ngoảnh mặt làm thinh” (Cái ác)… v.v... Diễn đạt nôm na, tưng tửng, mà
tinh quái làm sao!
Với
Phạm Công Trứ, luật của người (nhân luật), luật của trời (thiên luật) đan xen
với nhau, nhìn ra chúng để mà sống, chấp nhận, chia sẻ và ứng xử cho phải đạo,
cả nhân đạo và thiên đạo. Còn với riêng mình, từ lâu gã đã tự thú:“Số kiếp định rồi: thơ cùng luật/ Thực mộng
nên đành cảnh phân thân/ Ngày nơi bàn giấy tra điều khoản/ Đêm với trăng hoa
lại gieo vần”.
Thơ
Lão của Phạm Công Trứ, lấy tuổi tác (Thọ lão) ra để bàn luận. Tựu chung
lại, khi tuổi đã cao người ta tự ý thức về cái sự già đi của bản thân nên nhìn
nhận cuộc đời có khác đi. Người già thì hay hoài cổ, gã cũng thế “Già thì cứ nhận rằng già/ Bảo “người cao
tuổi” chỉ là đẩy đưa/ Với con hay kể ngày xưa/ Với vợ hay nhắc thuở vừa biết
nhau” (Già). Già thì hay chạnh lòng, gã cũng chạnh lòng “Ngày nào ngồi sau lưng cha/ Cha đùa thường
bảo:“Cu là cái đuôi!”/ Thoắt thôi con đã đôi mươi/ Sau lưng giờ lại một người
là cha/ Chạnh lòng song chẳng nói ra:/ “Biết đâu nó nghĩ mình là... cái đuôi?”
(Đuôi); Già thì hay tủi thân, gã cũng không ngoại lệ: “Gái son bạn với giai tân/ Giêng hai diễu hết hội gần, hội xa/ Ngậm
ngùi cho cái thân già/ Chống gậy ra ngõ để mà… nhìn giêng”. Già thì sợ hãi
đủ mọi thứ, nhất là sợ chết:“Hồi bé sợ nhất là
ma/ Lớn lên thì sợ người ta hơn mình/ Lấy vợ sợ vợ kém xinh/ Lấy chồng thì sợ
chồng rình đấm cho/ Con sợ láo, vợ sợ hư/ Giờ thì sợ chết mà chưa thành gì/
Thôi thì cứ vô tư đi/ Sợ thì cứ sợ, ta thì cứ ta” (Sợ); “Phải có cái gì để đọc/ Phải có cái gì
để nghe.../ Hãi nhất là không gì cả/ Thiu thiu là bị bóng đè” (Hãi); Già
thì hay suy tư, triết lý vụn, triết lý vặt “Vẫn biết thân là cõi tạm/ Bạc tiền là của phù vân/ Thế mà vẫn “tham”
vẫn “hận”/ Thế mà vẫn “si” vẫn “sân”/ Vẫn biết đời là bể khổ/ Trốn sao khỏi
kiếp luân hồi/ Thế mà vẫn “con xin Bụt”/ Thế mà vẫn “lạy Chúa tôi”/ Vẫn biết
sống là để chết/ Trời gọi chẳng thể chạy làng/ Thế mà vẫn tập vẫn luyện/ Thế mà
vẫn thuốc vẫn thang/ Vẫn biết thơ là thơ thẩn/ No-bel còn chẳng ăn ai/ Thế mà
vẫn ra thi tập/ Thế mà vẫn muốn khen tài/ Vẫn biết ừ thì vẫn biết/ Thế mà vẫn
cứ thế mà/ Càng sống lại càng nặng “nghiệp”/ Cả làng đâu phải riêng ta!”
(Vẫn biết); Già thì hay chiêm nghiệm: “…Đến
tuổi này/ Chỉ thấy râu ria là tươi tốt/ Chỉ thấy cây gậy là sáng suốt/dìu dắt/
nâng đỡ/bước ta đi!
Đi đâu?
đi về phía mông lung
đi về phía vô cùng...
Có
lúc lão như rơi vào tâm trạng “bán âm bán dương”:“Đang cuối tuổi “nhi nhĩ thuận”/ Mặt dần đờ đẫn như ngây/ Tai dần ù ờ
như mất/ Mắt dần dài dại như cây/ Chân dần nặng nặng như đất/ Tóc dần phơ phất
như mây...”. Có lúc gã lại như kẻ “tự kỷ ám thị”: “Tr. Ơi, lạnh toát cả người/ Tên mình ai gọi từ nơi vô hình…Lần trước
còn ngỡ xa xôi/ Lần này gần gặn ngay nơi đầu giường/ Phía đầu giường nửa sương,
nửa gió/ Chỗ cuối giường nửa tỏ, nửa mờ/ Mình thì nửa tỉnh nửa mơ/ Vô hình trời
gọi hay ngờ rằng ai/ Bần thần dụi mắt, bứt tai/ Buông ra một tiếng thở dài...
rồi im” (Tiếng gọi); Kể cả tâm trạng
tiếc đời, ham sống“Bảy mươi còn được là
bao/ Còn say sưa được phút nào cứ say” (Say) để rồi tự nhủ: “Bảy mươi tụng niệm câu này:/ Sống một ngày biết một ngày,
chứ sao!” (Than sống). Trong
cái bi vẫn có cái hài cùng một giọng lưỡi chất chưởng: “Ai ơi đừng vội than già/ Ngồi bô, đóng bỉm lại là trẻ con/ Còn người,
còn nước, còn non/ Thì vẫn đóng bỉm, thì còn ngồi bô!”…v.v...
Tóm lại, lão thi là một cái nhìn khá minh triết về sự
vận động của vũ trụ, con người và bản thân. Nhận thức rồi để biết sợ, biết trân
trọng cuộc sống, nâng niu những cái mình đang có. Với Phạm Công Trứ, lão thi là
một cách chấp nhận thực tế, kể cả cái hư vô, để tồn tại và vượt lên chính
mình,...
Nói
về Thơ Linh, Phạm Công Trứ gần xa
luận giải “Tâm linh là một khái niệm mở, biểu
hiện như là một thế giới - thế giới tâm hồn dưới ánh sáng của chữ “linh”. Linh
cảm, linh giác, linh nghiệm, phiêu linh… đều thuộc họ nhà
“linh”, đầy huyền hồ, lắm nghi hoặc. Thời nay, tâm linh được xem như một
khoa học, rất được giới học giả, các nhà huyền học để tâm và những nghiên cứu,
khảo nghiệm cũng đã đạt được một số thành tựu. Quan điểm hai thế giới (vật chất
và tinh thần) dưới cái nhìn duy vật cổ điển đang dần nhường chỗ cho quan điểm
ba thế giới (vật chất, tinh thần và tâm linh) dưới cái nhìn duy vật đan cài với
duy tâm. Tâm linh có họ hàng gần gũi với tinh thần nhưng không đồng nhất với
tinh thần”.
Thơ Linh của gã đây: “Hạt ngọc cuộn tròn ôm lá sen/ Bí ẩn nào như
bí ẩn đêm/ Đừng tiếc ngày về tan mất ngọc/ Sớm mai sen ngọc lại ngời lên” (Sen
ngọc); “Chờ cho dương thế lịm say/ Gác
Quan-Hoa mới thoảng bay hương quỳnh/ Cõi quỳnh trắng, mộng quỳnh trinh/ Chỉ
vành trăng khuyết nghiêng mình tiễn hoa!” (Quỳnh hoa); “Ngại
lấm bụi trần nơi dương thế/ Dạ hoa hương chỉ thoảng về đêm/ Trắng trinh khai nở
đen huyền bí/ Thưởng hoa đâu cứ phải cần đèn.” (Dạ hoa); “Đêm mùa hè ngắn/ Đời quỳnh hoa ngắn hơn/ Khép
rồi búp trắng/ Lặn rồi trăng đơn/ Hoa dẫu tạ tàn không cánh rụng/ Xác hoa tự
hoá chẳng mồ chôn/ Trăng - hoa/ lặn - nở/ vô-thường-mộng/ Phù thế người ơi!/
Một/ Đoá/ Hồn.” (Một đóa hồn); “Vô ngã” là chân
ngã/ “Vô ngôn” là chân ngôn/ Nếu như biết mình dại/ Thì nghĩa là đã khôn?” (Ngộ) ;“Đã coi trời đất là nhà/ Ai chủ ai khách
phân ra làm gì/ Đã tin sống gửi thác về/ Trắng tay thì có khác chi tay đầy” (Khác
gì); “bây giờ và ở đây”/ An lạc nằm trong mấy chữ này/ Đọc
chi muôn quyển, đi muôn dặm/ “Ngay bây giờ và ở chính đây”/ Thở/ Chấm hết!” (Lạc); “Cách chùa đã một thôi dài/ Tai còn
đồng vọng một vài “buông... buông”/ Bâng lâng giữa cõi vô thường/ Trăng liềm mờ
hiện, giọt chuông loãng dần...”…
Thú thật, cứ sa đà vào Thơ Linh của
Phạm Công Trứ, dễ có cảm giác mình được hóa thân thành chàng quý tử họ Giả (Giả
Bảo Ngọc) tối ngày vui vầy cùng đám tiểu thư khuê các nơi Vinh phủ, Ninh phủ
uống rượu vịnh thơ trong Hồng Lâu Mộng
của Tào Tuyết Cần. Ai ngờ, gã tiến sĩ luật nặng chất nông phu này thơ thanh
thoát đến thế. Linh hay Thiền gì đó hơi nhạt màu Phật song đậm phong vị
Lão-Trang. Mải mê, khéo rồi có ngày gã đắc đạo mà thành Tiên cũng nên? Hi…
hi...
Ý tưởng dối già của gã thành hiện thực
khi cho ra liền hai tập dày cộp. Ấy là tuyển thơ và tuyển những bài lão viết về
thiên hạ cùng những bài hiên hạ viết về gã. Cầm trên tay tập tuyển gã và thiên
hạ ngắm nhau, đọc cái tít “Có người có ta”, tôi thấy tiêng tiếc,
thán với nhà thơ Trần Đăng Khoa, rằng gã Tễu lấy cái tít ấy nông choèn choèn
làm sao. Có người có ta thì chỉ thấy sự hiện diên. Phải chi là Cõi người
cõi ta thì tự thân đã ẩn chứa sự sâu xa và đầy bí hiểm của kiếp con người,
huống hồ kiếp thi nhân. Mà thôi, sự đã rồi,…
Thay cho lời kết
Mai này, ... người ta thoáng thấy,
khi trên hè phố thủ đô, lúc chốn ngõ quê vùng ven biển Hải Hậu đây đó, một lão
già râu tóc bạc phơ, ăn vận nửa quê nửa tinh, chân đánh võng cùng với cây gậy
trong tay, ánh mắt nhìn còn tinh ranh, hay ngó nghiêng, miệng lẩm nhẩm gì đó.
Bám theo lão là một lũ trẻ quê lau nhau hiếu kỳ. Còn người qua đường chỉ chỏ,
phỏng đoán lão già này hâm đơ hay sao ấy. Chẳng hiểu những lời thiên hạ đàm
tiếu có lọt tai gã hay không nhưng từ cái miệng lởm chởm râu ria như muôn mũi kim
cỏ may thoáng nở ra nụ cười độ lượng, rồi cất tiếng nghêu ngao: “Nước nước nước/ Non
non non/ Thoảng nghe trong gió như
còn cuốc kêu/ Đói đói đói/ Nghèo nghèo nghèo/ Áo cơm nặng nợ bám theo đến giờ/ Mộng mộng mộng/ Mơ mơ
mơ/ Thương bao kẻ sĩ ngóng chờ
No-bel/ Yếu yếu yếu/ Hèn hèn hèn/ Nghe đi nghe lại dần quen mất rồi/ Bác bác bác/ Tôi tôi
tôi/ Tôi đi hỏi bác, bác thời hỏi ai/ Nhanh như chớp mắt đời người/ Ngắn như một tiếng thở dài, vậy thôi!”...
Lại có người vẻ tỏ tường: “Lão ấy
chính danh gọi Tễu, từng có thời tự nhận là Thảo Dân, một nhà thơ nổi tiếng
đấy!".
TÀO MẠT
Tên, Tài và Tâm
1.
Năm 1991, tôi còn nhớ, khi đó, Trần Đăng Khoa đang học tại Đại
học Gorky bên Nga, một lần về phép, tới chơi, Khoa rủ tôi đến thăm Tào Mạt vì
nghe nói ông bị ung thư. Lúc ấy, ông sống ở căn hộ do quân đội tạm cấp tại phố
Nhà Binh – Lý Nam Đế với bà vợ từ quê lên chăm bệnh cho chồng và ngày ngày đi
bán trứng thêm thắt.
Ông có tên thật là Nguyễn Đăng
Thục, quê Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Tây cũ. Vì khâm phục khí phách của Tào Mạt,
một võ tướng nước Lỗ mà lấy tên vị tướng này làm bút danh của mình. (Thời
Đông Chu Liệt Quốc của Trung Hoa cổ đại, người đã dám dùng vũ khí uy hiếp vua
nước Tề-Tề Hoàn Công, bá chủ chư hầu, tại hội thề của các nước chư hầu nhà Chu,
ép Tề Hoàn Công trả lại phần đất mà nước Tề đã chiếm lấy từ nước Lỗ, khôi phục
lãnh thổ và danh dự cho vua Lỗ là Lỗ
Trang Công).
Tôi cứ ngỡ sẽ bắt gặp một
ông Tào Mạt ốm o, nằm bẹp trên giường bệnh, kiệt sức và suy sụp tinh thần. Nào
ngờ, người ra mở cửa cho chúng tôi lại chính là ông – một Tào Mạt với dáng vẻ
hoạt bát, vui vẻ lắm. Ông không giấu bệnh như nhiều người khác khi không may bị
căn bệnh hiểm nghèo này. Ông chỉ cho Khoa và tôi xem những chuỗi u, cục to nhỏ,
lổn nhổn suốt từ tay đến chân bên trái, rồi phủi tay bảo: “Thây kệ nó, việc
nó nó làm, việc mình mình làm”. Chao ơi, người nói về căn bệnh sẽ hành chết
mình nay mai một cách thản nhiên, hài hước như vậy thì không biết ý chí, nghị lực
đến nhường nào?... Khoa nhìn đống giấy tờ ngổn ngang nơi bàn giấy, hỏi: “Quan
bác đang làm gì vậy?”. Tào Mạt phấn chấn: “A...Mình có người quen công
tác ở Trung Quốc mua tặng trọn bộ Đỗ Phủ. Mình đang gấp rút dịch toàn bộ thơ Đỗ
Phủ... Nếu nó (ý căn bệnh ung thư) để cho mình rảnh tay... nếu còn kịp
thì mình sẽ viết một vở kịch về Đỗ Phủ. Trong số các nhà thơ đời Đường, ông này
là gần dân nhất, lầm than nhất...”. Rồi ông hỏi han Khoa về văn học Liên Xô
thời biến động, đàm đạo về văn chương, nói say sưa về Tam Quốc Diễn Nghĩa
và Hồng Lâu Mộng.
Trời chiều, Khoa mời ông đi ăn
quán, ông lo chuyện cơm nước cho vợ vì thương bà đi bán trứng về mệt, song ông
vẫn nhận lời. Ngồi trong quán ở phố Cấm Chỉ, ông nhấm nháp chút ít mằn thắn
không mì với chén rượu thuốc. Trong câu chuyện, ông nhiều lần nói với Khoa về
Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và khen những sáng tác của chị, rồi lại tỏ ra băn khoăn vì
việc Đạo Tĩnh muộn lập gia đình. Nhiều lúc ông lặng đi, mắt nhìn thẳng vào đâu
đó thinh không, như không nghe không thấy gì sự huyên náo của một phố ẩm thực.
Ngỡ như ngồi đấy mà tâm trí ông như để ở phương nào...
Sau lần gặp ấy, tôi có viết một
bài báo với nhan đề Nhà viết kịch Tào Mạt đối diện với căn bệnh hiểm
nghèo. Chừng gần nửa năm, một lần nhà thơ Lâm Huy Nhuận nghe đâu tin
Tào Mạt bị ung thư, thế là anh đòi tôi đưa anh đến nhà Tào Mạt. Tôi ngỡ ông đã
quên tôi, nhưng không, ông trách nhẹ: “Trần Đăng Khoa đi Nga rồi, còn cậu,
sao lâu không đến mình? Mình có biết bài cậu viết về mình. Thật quý hóa! ”.
Khi tôi giới thiệu Lâm Huy Nhuận, ông nắm chặt tay Nhuận bảo: “Tên và thơ cậu
thì mình có biết, nhưng người thì nay mới gặp, âu cũng là duyên kỳ ngộ đưa cậu
đến thăm mình”. So với lần trước, trông thần thái ông có kém, song ông vẫn
rất vui.
Lâm Huy Nhuận biết nghề thuốc, lại
khá Hán Nôm, anh đòi Tào Mạt lấy nghiên mực, bút lông để anh kê đơn một bài thuốc
tiêu ung cổ. Tào Mạt cầm đơn xem cười chỉ cho Nhuận những chữ viết không chỉnh,
rồi ông lại đòi Nhuận viết vào đơn lời đề tặng bằng chữ Hán là Lâm Huy Nhuận
kê cho Tào Mạt. Vừa khi ấy thì ông có khách, một người bạn già. Tào Mạt mời
rượu mọi người, nói chuyện với người bạn về thuở kháng chiến, về thơ Phùng
Quán. Lúc này, ông mới biết Lâm Huy Nhuận là con trai nhà thơ Yến Lan. Thế là
ông xoay sang nói chuyện về Yến Lan và nhóm thơ Tứ Linh của đất Bình Định (Hàn Mặc Tử, Yến
Lan, Quách Tấn, Chế Lan Viên). Bầu không khí chuếnh choáng, chủ khách đều
cao hứng đọc thơ. Tào Mạt đọc thơ người, thơ bạn và thơ mình. Thơ ông hầu như
là thế sự, và tôi đồ rằng những bài thơ này ông không in ở đâu cả, chỉ viết cho
chính lòng ông và thi thoảng đọc cho bạn bè nghe chơi. Nhìn ông say, ông vui mà
tôi cứ bùi ngùi, tôi hiểu, với ông giờ đây, những phút giây như vậy thật là
quý, bởi sau đó, ông phải lặng lẽ lo cho vợ con, lo kịp viết xong những điều
tâm huyết dang dở trong cuộc chạy nước rút cuối cùng với căn bệnh quái ác giết
dần ông từng giờ, từng ngày... Và tôi cũng hiểu, ông chiều lòng Lâm Huy Nhuận
kê đơn, yêu cầu ghi đề tặng, là để làm kỷ vật, chứ người am tường, giỏi Hán Nôm
như ông, tự thân biết thuốc chỉ chữa được bệnh, chứ nào đâu chữa được mệnh. Lúc
ra về, Lâm Huy Nhuân cứ lẩm bẩm “Hủ nho, hủ nho… đúng là hủ nho”. Tôi
xuýt bật cười, bởi tôi hiểu, anh bực mình vì Tào Mạt chắc chắn không dùng đơn thuốc anh kê, chẳng những thế
lại thẳng thừng chê anh chữ Hán còn chưa chuẩn,…
Tôi nhớ, hôm tôi cùng Trần Đăng
Khoa thăm ông, Khoa nói có thấy băng ghi âm bộ Bài ca giữ nước được dân
xuất khẩu lao động bán ở bên Nga, cũng như sau đó, biết băng ghi hình bộ ấy được
Việt Kiều yêu thích, lùng mua ở nước ngoài, ông bình thản, tuyệt nhiên không hề
nhắc đến chuyện tiền bạc, vi phạm bản quyền, chỉ cười hiền: “Thế á!... Thật
may... là người mình vẫn yêu thích, trân trọng văn hóa truyền thống dân tộc. Sợ
nhất là sự vong bản về văn hóa! ”.
Hôm ông mất (năm 1993), người đến
tiễn biệt ông ở nhà tang lễ Bộ Quốc phòng – số 5 Trần Thánh Tông đông lắm. Tôi
nhớ, khi ấy là mùa xà cừ rụng lá. Lúc đám tang cất rồi, cả đường Trần Thánh
Tông heo hút, chỉ bời bời lá xà cừ rụng... Chắc hẳn, những vở chèo ông viết, dù
là ở dạng văn bản, băng ghi âm, hay băng ghi hình, và rồi sau này có thể người
ta tiếp tục dàn dựng lại trên sân khấu, thì chúng vẫn sống với thời gian, có sức
lay động lòng người!...
2.
Mấy chục năm qua, sau khi Tào Mạt qua
đời, với xu thế mới xã hội, cùng sự bùng nổ của truyền hình rồi sự ra đời và phát triển vũ bão của mạng xã hội,
chèo và các loại hình sân khấu truyền thồng khác nói chung (tuồng, cải lương…)
bị lắng xuống và lâm vào tình trạng ngoắc ngoải. Các đoàn nghệ thuật truyền thống
cầm cự, thoi thóp, dựng vở là để tham gia hội diễn lấy huy chương làm sang cho
đoàn và danh hiệu cho diễn viên giắt lưng phòng khi xét nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ
nhân dân hơn là biểu diễn cho người xem. Và đương nhiên, các bạn trẻ sinh từ những
năm chin mươi của thế kỷ trước đổ lại sau hầu như không biết đến cái tên Tào Mạt
cùng bộ ba chèo Bài ca giữ nước của ông lãy lừng sân khấu nước
nhà một thời. Kịch của Lưu Quang Vũ thì vẫn có đoàn dựng lại đôi ba vở, nên người
ta còn nhớ tên. Sân khấu truyền thống hầu như không diễn rạp, sân khấu phát
thanh và sân khấu truyền hình thì cũng cầm chừng cho có mà thôi, chứ khán thính
giả không mấy mặn mà. Nghĩ mà buồn, nhưng chẳng thể khác,…
Năm 2022, Tạp chí Nhà văn &
cuộc sống của Hội Nhà văn Viêt Nam tổ chức cuộc thi viết cho chuyên mục “Chân dung cuộc sống”,
bài tham gia cuộc thi rất nhiều, trong đó nổi bật hơn cả là mảng chân dung văn
nghệ sĩ. Chung khảo, có bài viết của một nhà văn khá nổi tiếng nọ khắc hoạ chân
dung nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt, được cân nhắc trao giải cao nhất của cuộc thi.
Bài viết khá sinh động, khắc hoạ sắc nét tính cách và ít nhiều bắt được thần
thái con người Tào Mạt, thế nhưng nhân vật chỉ nổi bật chất con người khí tiết
chứ phần về tác phẩm và sự đóng góp của Tào Mạt với nghệ thuật chèo lại nhẹ bẫng
và sơ lược. Có ý kiến cho rằng, viết chân dung văn nghệ sĩ, thậm quan trọng là
phải đánh giá được vai trò của người đó đã đóng góp được gì cho lĩnh vực nghệ
thuật mà họ theo đuổi, hoạt động? Đúng vậy. Chiểu theo quan điểm này thì bài viết
chân dung Tào Mạt của nhà văn nọ nhẹ thật. Ban chung khảo cân nhắc kỹ lưỡng và
chỉ trao giải nhì cho bài viết đó. Đang tiếc thay!
Đề cập chuyện này, để bàn đến phần
không thể thiếu , thậm chí quan trong khi khắc hoạ chân dung kịch tác gia Tào Mạt.
Có thể nói, Tào Mạt là một người có tài, đầy tâm huyết và có công lớn trong việc
gìn giữ loại hình chèo truyền thống, không những thế, ông còn đơn thương độc mã
làm cuộc cách tân chèo. Tào Mạt sớm nhận ra xu hướng thời đại, rất có thể không
riêng gì chèo mà các loại hình sân khấu cổ truyền nói chung sẽ khó bắt kịp nhịp
sống đương đại mà rớt lại phía sau, nên ông đã mạnh dạn và quyết tâm làm một cuộc
thử nghiệm cách tân chèo cổ thông qua âm nhạc và lối hát nói gần với ngôn ngữ đời
thường… Ở đây, xin không bàn sâu về nội dung cách tân, chỉ biết, cuộc cách tân bắt đầu từ các hoạt cảnh chèo đến
vở chèo đề tài hiện đại (Trong phòng trực chiến, Đỉnh cao phía trước, Đường
về trận địa, Nguyễn Viết Xuân…). Đặc biệt, khi chọn đề tài cổ sử, bộ ba vở
chèo Bài ca giữ nước (gồm Lý Thánh Tông tuyển hiền, Nhiếp
chính Ỷ Lan, Lý Nhân Tông kế nghiệp) ông cũng mạnh dạn thử nghiệm sự
cách tân của mình. Dường như ông muốn chứng minh, khi đã có phương pháp thì đề
tài gì, kim hay cổ cũng làm được. Khán giả xem, nghe và chấp nhận, thậm chí
khen ngợi, vậy là ông thành công. Song le, đấy là thử nghiệm với thành công bước
đầu. Còn về lâu dài, sự cách tân ấy mà Tào Mạt khởi xướng và thử nghiệm, có trở
thành hình thức phổ biến, thành xu hướng mới của nghệ thuật chèo hay không thì
chưa rõ. Cho dù thế nào, đấy cũng là sự đóng góp đáng kể của Tào Mạt với nghệ
thuật sân khấu chèo.
Đáng tiếc thay, dũng khí và sự tâm huyết
thì có dư, nhưng sức khoẻ và bênh tật thì không cho phép Tào Mạt tiếp tục thử
nghiệm và đi đến khẳng định việc cách tân chèo của mình. Tào Mạt rời cõi tạm
(1993) khi mọi việc còn ngổn ngang, dang dở. Nay thời đại của công nghệ, trí tuệ
nhân tạo đang gây bão, thử thách mọi lĩnh vực của cuộc sống con người, cả sự
sáng tạo nghệ thuật nói chung, vậy thì nghệ thuật chèo của ta sẽ đi về đâu, nào
ai đoán định được?...
Tào Mạt là kịch tác gia. Chẳng hiểu
sao, cuộc đời ông lại có một cái kết đầy chất kịch, mà là bi kịch. Sau này, nhà
thơ Trần Đăng Khoa kể tôi nghe chuyện. Ở vào giai đoạn cuối của căn bệnh ung
thư, ông yếu lắm phải nằm viện cầm cự. Bà vợ quê mùa từng đi bán trứng thêm thắt
vào để chăm bệnh cho ông khi bệnh chưa quá nặng, lại vào viện đêm hôm khuya sớm
chăm ông những ngày cuối cùng. Nghe đâu, trước đây, Tào Mạt cũng có lúc than thở
với bạn hữu thân tình, rằng ông tiếc là bà vợ thật thà tốt tính đấy nhưng quê
mùa quá nên không thể cùng ông tiếp khách, giao đãi chuyện văn chương. Cậu con
trai thương mẹ vất vả lên chăm bố đỡ mẹ thì lại không may bị tai nạn giao thông
tử vong. Bà vợ quê mùa ấy đã làm một việc không tưởng. Ấy là, bà đã giấu chồng
lặng lẽ nén nỗi đau tột cùng lo ma chay cho con trai, nhưng lúc chăm ông thì vẫn
nói năng bình thường, thậm chí phải làm bộ tươi tỉnh để ông không nghi ngờ gì,
bà nói dối rằng con bận đi đâu làm việc gì đó, lúc ông muốn gặp con căn dặn, trối
chăng. Mỗi lần vậy, bà đã kìm nén dối ông, nhưng ra khỏi buồng bệnh ông đến một
góc hành lang thật xa bà mới bật khóc tức tưởi. Bà khóc con, thương chồng,
không muốn ông biết tin đau xót ấy mà gục ngã, bà khóc cho cả thân phận khổ ái
đến tận cùng của mình! Ông ra đi, bà sẽ sống ra sao những năm còn lại của cuộc
đời? Và nếu cha con ông có gặp nhau ở thế giới bên kia, thỉ hẳn, họ sẽ thương
bà bao nhiêu cho xiết, hả trời?!... Trớ trêu thay, cả một đời ông theo nghiệp kịch
nghệ, hát xướng, từng chứng kiến biết bao vai diễn song đâu có ngờ rằng, vai diễn
tài nhất, bi nhất lại chính là người vợ quê mùa của mình khi bà phải làm “diễn
viên bất đắc dĩ” trong vở kịch cuối cùng của đời ông!...
Cho dù có thế nào đi chăng nữa, giờ
tôi vẫn ước, được biết về một sự đeo đuổi đầy tâm huyết khác nữa của Tào Mạt
khi ông còn sống, ấy là những bản dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ nổi tiếng đời Đường
mà ông kính nể và yêu thích, ra sao?... Và nữa, vở kịch về Đỗ Phủ mà ông từng ấp
ủ?
TRẦN ĐÌNH HIẾN
từ dịch thuật đến văn chương
Tôi thật không ngờ mình lại có chút
duyên được gặp dịch giả Trần Đình Hiến thường xuyên đến như vậy.
Có thể khẳng định, với Trần Đình Hiến,
dịch các tác phẩm của Mạc Ngôn là quá trình ông chuyển ngôi vị từ một người dịch
thuật trở thành nhà văn đúng nghĩa. Điều này cho thấy ông đã đồng hóa được
nguyên tác và biến nó thành một ngôn ngữ khác (tiếng Việt) chứ không chỉ là người
chuyển ngữ thông thường. Đây là cái tài của riêng ông mà không phải người làm
công việc dịch thuật nào cũng làm được. Thế nên, Trần Đình Hiến, dịch để trở
thành nhà văn là vậy.
Trong số nhiều tác phẩm của nhà văn Mạc
Ngôn được dịch và xuất bản ở Việt Nam thì dịch giả Trần Đình Hiến chiếm 6 cuốn
mà theo giới nghiên cứu, đó là những tác phẩm điển hình đại diện cho phong cách
Mạc Ngôn (Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận, Rừng xanh
lá đỏ, Tửu quốc, 41 chuyện tầm phào). Cùng với đó, nhà
văn Trần Đình Hiến còn là dịch giả một số tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn
Trung Quốc khác như: Cây hợp hoan
(Trương Hiền Lượng), Tô tem sói
(Khương Nhung), Cây không gió và Ngân thành cố
sự (Lý Nhuệ).
Chất lượng cao và sự thành công qua
các bản dịch của nhà văn, dịch giả Trần Đình Hiến về văn học đương dại Trung
Quôc, đặc biệt những tác phẩm của Mạc Ngôn đã được giới dịch thuật và bạn đọc
Việt Nam khẳng định, nên ở đây, tôi chỉ bàn về tính đặc thù trong văn chương Mạc Ngôn sau khi
nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết của ông nhà văn này, để thấy sự khó khăn và cái
tài dịch thuật của Trần Đình Hiến mà thôi.
Để thấy được diều này, ta cùng trở lại
lý do vì sao mà Hội đồng Nobel văn học thuộc Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao giải
cho Mạc Ngôn: “chủ nghĩa hiện thực ảo
giác hòa quyện với những câu chuyện
dân gian, lịch sử và đời sống hiện đại được sáng tạo ngay trên mảnh đất quê
hương ông”; thêm nữa, thi pháp tiểu thuyết của Mạc Ngôn, ấy là, khác với lối kể
chuyện truyền thống xuôi chiều trong văn chương Trung Hoa cổ trung đại, Mạc
Ngôn đã làm ngược lại, ông đi tìm, nhặt nhạnh đâu đó các câu chuyện dân gian,
hoặc hiện đại mang ra kể, và từ các chuyện kể đó khái quát nên xã hội rộng lớn,
mà người đọc thấy thời cuộc, thấy được bóng dáng thời đại mình để rồi tự rút ra
những thông điệp cho mình, nói chung là vậy, song cần phải nói đến cái tài của
Mạc Ngôn là các câu chuyện đời thường, có vẻ rất thật, thậm chí trần trụi lại
được ông nhào luyện, khuấy đảo tít mù, đến mức gây ảo giác,... tạo không gian
truyện riêng có, đặng gây hiệu ứng tâm lý mê hoặc....
Thế nên, khi chuyển ngữ tác phẩm của
Mạc Ngôn dịch giả sẽ rất khó khăn trong việc bao quát chung, nắm bắt ý tưởng,
theo kịp mạch văn, “khúc chiết hóa” từng phân đoạn để không sa vào tình trạng mất
phương hướng, không kiểm soát được tình tiết và nội dung câu chuyện. Qua đó, đủ
thấy sự am hiểu khá tường tận về văn hóa Trung Hoa để đạt đến độ “thấu tình đạt lý” trong bản dịch. Thêm nữa,
văn của Mạc Ngôn giàu chất uy-mua, một thứ hài “ý tại ngôn ngoại” nên
không dễ chuyển ngữ chút nào, bởi không khéo, bản dịch sẽ mất chất này.
Trở lại những cuộc đàm thoại với dịch
giả-nhà văn Trần Đình Hiến. Biết tiếng ông đã lâu, nhưng phải đến khi về làm
biên tập ở tạp chí Nhà văn &cuộc sông
của Hội Nhà văn Việt Nam thì tôi mới lần đầu gặp ông. Trần Đình Hiến bảo, ông
yêu quý tờ tạp chí này, bởi lịch sử lâu dài và uy tín của nó từ ngày đầu thành
lập mang tên Tác phẩm mới rồi trải
qua năm tháng với nhiều lần đổi tên Tạp
chí Nhà văn, Tạp chí Nhà văn và tác
phẩm và nay là Tạp chí Nhà văn
&cuộc sống. Ông cũng quý trong các vị tổng biên tập qua mỗi thời kỳ, nhất
là những năm gần đây là nhà văn Nguyễn Trí Huân và nhà thơ Trần Đăng Khoa. Vì
quý trọng, yêu mến mà đến thăm tòa soạn, để gặp gỡ và đàm đạo văn chương thôi,
chứ không phải để tạo quan hệ gửi bài cộng tác thông thường. Quả là không ít lần,
nhà thơ Trần Đăng Khoa và tôi mời Trần Đình Hiến cộng tác nhưng ông đều cười hiền
từ chối, bảo không có bản dịch hay để ông gửi đăng cả. Lại bảo, nếu có gì đặc
biệt, mình sẽ gửi các bạn.
Từ đầu năm 2020 đến cuối năm 2022, Trần
Đình Hiến hay đến Tạp chí lắm. Tòa soạn Tạp chí rời từ 65 Nguyễn Du về trụ sở Hội
Nhà văn ở số 9 Nguyễn Đình Chiểu, ông vẫn hay lui tới, kể cả thời điểm hạn chế
đi lại vì phòng dịch Covd 19 tuy có thưa hơn nhưng ông vẫn đến khi có thể. Ông
tự đi bằng chiếc xe máy Cub Tôm đời cũ, bảo nhà gần (phố Phan Bội Châu, Hà Nội)
đi xe máy cũng nhanh và tiện. Chuyện trò gần trưa thì ông về, dù nhiều lần nhà
thơ Trần Đăng Khoa níu giữ, mời ông dùng
bữa trưa. Ông từ chối khéo bảo về kẻo vợ con chờ cơm. Mỗi lần dến, ông đều ăn mặc
lịch sự, hay mang theo quà, sô-cô-la cho phái nữ và thuốc lá ngon cho phái mày
râu,...Khen ông sức khỏe tốt, ông bảo, nhờ trời vẫn đi được xe máy, rồi ông còn
khoe, vài năm trước ông vẫn tự chạy xe máy về quê cách mấy chục cậy số. Còn khỏe
ấy là còn lao động dịch thuật được. Thật mừng cho ông và hy vọng cho bạn đọc chờ
đợi,...
Chẳng biết các thành viên khác của Tạp
chí thế nào, nhưng tôi tin mọi người đều quý trọng một người có tài, có tâm và
lịch lãm như vậy. Riêng tôi, thực lòng tôi rất quý trọng ông, nên mỗi lần ông
xuất hiện ở Tạp chí, tôi vui vì biết mình sẽ tiếp nhận và học được từ nơi ông
nhiều điều sau mỗi buổi gặp gỡ như vậy. Có những lần thưa khách, cả buổi sang
chỉ tôi với ông ở tòa soạn, thầy trò đàm thoại với nhau, mặc sức chuyển từ vấn
đề này dến vấn đề khác, chuyện nọ sang chuyện kia, say sưa, không bị ai quấy.
Tôi đặc biệt “khai thác” từ nơi ông,
mà tôi xem như “mỏ quặng quý” tất thảy
những gì thuộc về văn hóa, văn học Trung Hoa. Cứ rỉ rả mà khai thác, mỗi lần một
chút, đặng tích lũy thêm kiến thức cho mình về lĩnh vực này. Sách thì đầy rãy
ra đấy nhưng qua sự thẩm thấu cùng những bình phẩm sâu săc của ông, vẫn thích
hơn nhiều. Về Mạc Ngôn, về các nhà văn đương thời, ngược sử về cận đại, trung đại,
cổ đại Trung Hoa, ông đều am hiểu, thấu tỏ. Có một vấn đề tôi đặt ra, ấy là tại
sao, trong khi văn xuôi đương đại Trung Hoa vẫn tiếp nối dòng chảy cổ-trung-cận
đại thì ở lĩnh vực thơ phú, mặc dù từng có một nền thi ca Đường, Tống rạng rỡ bậc
nhất đông tây kim cổ thế giới, nay lại không có một tác giả, tác phẩm thơ nào
khả dĩ cả? Hình như, ông tỏ ra bất ngờ và lúng túng trước câu hỏi này của tôi.
Hiện thực cho thấy, cùng với Cao Hành Kiện và Mạc Ngôn đã giật Nobel văn học,
văn xuôi Trung Quốc đương đại còn hàng loạt tên tuổi khác như Vương Mông, Giả
Bình Ao, Thiết Ngưng, Khương Nhung, Tô Đồng...
và gần đây nổi bật với cái tên Tàn Tuyết. Ngẫm nghĩ, ông bảo là có thế
thật, nhưng lý giải cho thỏa đáng thì không dễ chút nào. Rồi ông chuyển hướng,
bảo là thơ hiện đại thì Đài Loan khá hơn Trung Hoa đại lục, có lẽ bởi, người
Đài Loan hiện giờ phần đông gốc rễ đại lục và dù họ đã qua mấy đời thì vẫn mang
nỗi tha hương, ấy là nỗi nhớ về quê cha đất tổ ở đại lục kia; chính nỗi hoài
quê hoài quán đó làm nên sắc thái u hoài đầy nỗi riêng chung trong thơ họ. Tôi
đồng ý với Trần Đinh Hiến về nhận định này. Nhưng còn lý giải sự mờ nhạt và thiếu
bản sắc thơ Trung Quốc đương đại thì vẫn còn là một câu hỏi mở,...
Tôi thử lý giải hiện trạng này, Trung Hoa quá tự hào
về nền thi ca Đường, Tống đỉnh cao của mình hàng ngàn năm nay, đến mức, vô hình
chung tự giàng buộc mình mà không thoát
ra nổi. Cùng với đó, sự phát triển quá nhanh chóng về đời sống xã hội và văn
minh vật chất khiến văn hóa nói chung và văn học (thi ca) không bắt kịp. Văn
xuôi dễ bung phá, chứ thi ca thì không. Chính sự hoàn thiện của thể loại, tính
chất niêm luật chặt chẽ của Đường thi, Tống từ vô hình chung gò bó trói buộc
khiến các nhà thơ khó thoát ra được, mà sự cách tân vốn không dễ thành.
Cách lý giải này của tôi, Trần Đình
Hiến nghe, gật gù, lẽ thế chăng. Song tôi biết, có thể ông thấy có lý nhưng
chưa hẳn đồng tinh !?
Bẵng đi, đâu giữa năm 2023 thì phải,
không thấy ông đến Tạp chí, tôi tìm hiểu thì ai đó, hình như nhà thơ Quang Hoài
bảo là ông yếu đi nhiều, gần như một chỗ không ra khỏi nhà. Vậy là qua cái tuổi
chín chục, con người ta có cố gắng cũng khó vượt qua cái ngưỡng tuổi tác. Thế
cũng là ông trời chiều lắm rồi.
Có một điểm mờ trong cuộc đời và sự nghiệp của Trần Đình Hiến, nhưng lại là điểm
mở, biến ông với tư cách là một nhà
ngoại giao thành một nhà văn-nhà dịch thuật chuyên nghiệp. Tôi nghe nhà văn
này, nhà thơ nọ bàn về ông trong những lúc trà dư tửu hậu, rằng khi ông còn làm việc ở đại sứ quán Việt Nam tai nước
bạn, vì đam mê tìm hiểu và thu thập tài liệu văn hóa gì đó khiến phía họ nghi
ngờ này nọ, nên buộc ông phải về nước. Vậy là sự nghiệp ngoại giao của ông bị
đóng lại. Nếu không, rất có thể ông thăng tiến lên vị trí cao hơn song chắc gì
văn học Việt
Chẳng hiểu ông trời có cho Trần Đình
Hiến khỏe lại, để ông tiếp công việc nghiên cứu và dịch thuật của mình thêm ít
năm nữa? Thiết nghĩ, con người ta, có tài đến mấy thì tinh anh cũng chỉ phát tiết
ở một thời điểm và kéo dài đến một thời gian nào đó, chẳng thể dài cả đời được.
Vậy nên, chúng ta cũng không nên trông chờ ở người đã đến ngưỡng U100 như Trần
Đình Hiến.
Và rồi, ông giời cũng gọi ông đi mà
chẳng rõ ông có để lại gì còn chưa xuất bản hay không? Nhưng có một quan điểm của
riêng Trần Đinh Hiến khi ông kiến giải về tên gọi “Thiền phái Trúc Lâm”
của Phật giáo Việt Nam, tôi xin tiện nêu ra đây. Ông nghĩ và lý giải khác với
cách hiểu thông dụng hiện nay. Hơn một lần, tôi nghe Trần Đình Hiến lý giải điều
này, vả lại cũng không rõ ông có bài viết nào (công bố hay chưa?), nên nay chỉ
nêu lại những gì nghe được từ chính ông, tôi không bênh vực ông và cũng không
có ý định bàn luận đúng sai ra sao. Chỉ là cách lưu giữ ý kiến của một người đã
khuất (dịch giả-nhà văn Trần Đình Hiến). Theo Trần Đình Hiến, hai từ Trúc
Lâm trong tên gọi “Thiền phái Trúc Lâm”, một dòng thiền với các vị Trúc
Lâm tam tổ là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang từ thế kỷ
13, được hiểu “Rừng Trúc” là không đúng. Người Việt ở vùng Bắc Bộ xưa
khi phát âm không phân biệt rõ hai âm CH và TR nên sau này hiểu lầm từ CHÚC là
TRÚC; thế nên, tên Thiền phái Phật giáo là Chúc Lâm thành Trúc
Lâm; theo đó, từ Chúc với nghĩa hiểu là sự vui mừng (ví
như chúc mừng, chúc tụng), chứ không phải Trúc là cây trúc (một loại cây
họ tre nứa theo phân loại thực vật); còn từ Lâm, âm Hán Viêt, đồng âm với
từ “lâm” chỉ Rừng, nhưng mạo tự khác và cũng mang nghĩa khác, cụ thể trong trường
hợp này, “lâm” là chỉ sự hiện diện, đến đây, đang ở đây (ví như lâm trận,
lâm bệnh, giá lâm…). Với ngữ nghĩa như
thế, “Chúc Lâm” là sự hàm ý rằng, Phật đã đến đây, hiện diện ở đây và ấy
là sự đáng vui mừng. Triết lý nhà Phật sâu xa như vậy chứ không đơn thuần sơ
sài là ở nơi Rừng Trúc. Vậy nên, tên gọi của Thiền phái Phật giáo xuất phát từ
thế kỷ 13 với trục khung Thăng Long-Vĩnh Nghiêm-Yên Tử là Chúc Lâm
(không phải Trúc Lâm) và cách gọi chuẩn phải “Chúc Lâm thiền phái”
Thêm một lần nữa nhấn mạnh, tôi nêu lại
ý kiến này trong bài viết, hoàn toàn không có ý tranh luận đúng hay không đúng
mà đơn thuần chỉ là một cách lưu giữ một quan điểm kiến giải của dịch giả-nhà
văn-nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hiến, khi ông không còn nữa.
Bởi với ngần ấy thứ để lại, Trần Đình
Hiến cũng đủ để ngạo với đời rồi!...
TRẦN MAI HẠNH
truân
chuyên nghề báo nghiệp văn
Suy nghĩ về cuộc đời nhà
báo Trần Mai Hạnh, nhiều lần tôi băn khoăn tự hỏi, không biết ông có lá số tử vi không nhỉ. Sở
dĩ, muốn thử chiêm nghiệm và đối chiếu giữa lá số với thực tế cuộc đời ông bởi
sự truân chuyên quá thể. Nói theo ngôn ngữ dân gian, cuộc đời ông những “lên voi xuống ,... “.
Giờ
thì Trần Mai Hạnh đã về miền mây trắng. Là tôi muốn dùng cụm từ “về miền mây trắng” chỉ sự giã từ cuộc đời
trần thế của ông là ý muốn đặt ông trên một phông nền trắng tinh để bạn bè, đồng
nghiệp, người đời nhìn nhận, bình phẩm về ông một cách sòng phẳng, không e ngại
này nọ,...
Và
cả tôi cũng vậy, nghĩ gì về ông trong bài viết này?...
Thực
ra, cái tít bài viết này đã nói lên tất cả. Có điều, sự truân chuyên nghề báo nghiệp văn của Trần Mai Hạnh minh bạch ra
sao đâu cần sự nhìn nhận của cá nhân tôi. Người đời, mỗi người đều có cách nhìn
nhận và đánh giá của riêng mình, chẳng ai chịu ai đâu. Chỉ là tôi muốn bày tỏ
góc nhìn của riêng mình về ông mà thôi.
Tôi
biết đến tên tuổi nhà báo Trần Mai Hạnh từ khi tôi bước vào đời làm báo chuyên
nghiệp, năm 1987 khi về làm phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, Trần
Mai Hạnh đã là một nhà báo kỳ cựu của làng báo xứ Bắc và ông đang giữ chức trưởng,
phó ban gì đấy ở Thông tấm xã Việt Nam (TTXVN). Thời điểm từ khi Tổng bí thư
Nguyễn Văn Linh phát động “Những việc cần
làm ngay” với chuyên mục “Nói và làm”
(N & L) thì Trần Mai Hạnh nổi lên với tư cách một cây bút phóng sự điều tra
thiện chiến và sắc bén. Nhiều vụ việc tiêu cực được vạch trần trên công luận với
sự tham gia của ông và các đồng nghiệp báo chí. Như vậy, có thể nói, Trần Mai Hạnh
đã xác lập tên tuổi mình trong làng báo xứ ta thời kỳ đổi mới. Ông tham gia vào
ban lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam và có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển
của tổ chúc này.
Đâu
quãng năm 1995, Trần Mai Hạnh được bổ nhiệm chức vụ Tồng Giám đôc Đài Tiếng nói
Việt Nam (Đài TNVN-VOV) kế nhiệm nhà báo Phan Quang chuyển sang chuyên trách
công tác Hội Nhà báo. Ở thời điểm ấy, có thể nói, báo phát thanh sa sút, vào
cơn bĩ cực, bởi những nguyên nhân chủ
quan và khách quan; về chủ quan, lối phát thanh “ngăn kéo” – khung chương trình
định giờ thu trước do phát thanh viên đọc, từng phát huy tác dụng suốt một thời
gian dài vẫn nguyên cũ; trong khi, về khách quan, báo hình lên ngôi và báo điện
tử mới ra đời song đã báo hiệu tính ưu việt và lợi thế phát triển nhanh chóng của
mình. Trần Mai Hạnh, với tư cách vị tổng tư lệnh ngành báo phát thanh đã cùng một
lúc làm hai việc. Về phát thanh, ra các chương trình mới, tăng tính trực tiếp,
đảy các phóng viên, biên tập viên lên sóng, “nói hoá” các văn bản phát thanh, lập
thêm các cơ quan thường trú khu vực trong nước và nước ngoài, làm cơ sở để tăng
nguồn tin. Ông đặc biệt quan tâm đến thể loại phóng sự điều tra, nên đây cũng
là thời kỳ Đài TNVN có nhiều phóng sự điều tra rung chuyển làng báo và xã hội
lúc bấy giờ. Điều đó cho kết quả là cùng nhiệm vụ tuyên truyền, Đài gia tăng “chất
báo” theo đúng nghĩa chức năng báo
chí nói chung. Cùng với đó, về loại hình
báo chí, lập thêm tờ báo in (Báo Đài TNVN, nay là báo TNVN) Và đặc biệt là mở
báo Điện tử Đài TNVN, (VOV.VN) kịp theo xu hướng số hoá của thế giới. Có thể
nói, với tư cách Tổng giám đốc Đài TNVN (VOV), nhà báo Trần Mai Hạnh đã có những
đóng góp tích cực xây dựng nền móng đa phương tiện, đa nền tảng cho VOV để các
vị lãnh đạo kế nhiệm tiếp tục phát triển Đài hơn nữa…
Vê văn chương, Trần Mai Hạnh chạm đất văn khá
sớm nhưng do bận mải nghề báo nên ông chưa có gì nổi bật trong địa hạt này. Phải
sau kiếp nạn lao lý, ông mới thấy văn chương như cái nghiệp, là nơi chốn đặng vực dậy ý chí và lắng lại lòng mình sau
bao sóng gió bão táp cuộc đời ập đến. Năm 2015, tác phẩm tư liệu “Biên bản
chiến tranh 1-2-3-4.75” được xuất bản và ngay năm đó tác phẩm này được
giải thưởng hằng năm của Hội Nhà văn Việt Nam (sau đó còn được nhận giải thưởng
văn học ASEAN và ra tiếp bản tiếng Anh) thì Trần Mai Hạnh nổi tiếng với tư
cách một nhà văn. Sau tác phẩm này, tuy vẫn túc tắc làm báo nhưng ông chuyên
tâm theo văn học và cho đến lúc mất, ông xuất bản thêm 2 tác phẩm nữa, đó là “Thời
tôi sống” (tập truyện ký, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2018)
và “Sống đến bình minh” (tự truyện, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2024).
Văn
của Trần Mai Hạnh là văn thông tấn, nhiều thông tin, giàu chi tiết, sắp xếp hợp
lý, khoa học, tốc độ nhanh và luôn có những
góc nhìn đa chiều, sắc sảo của báo chí. Về thể loại nửa văn nửa báo mà thành
công, có lẽ ông chỉ đứng ngay sau bậc đàn anh đồng nghiệp là nhà báo nhà văn
Phan Quang mà thôi.
Viết
về nhà báo nhà văn Trần Mai Hạnh mà không đả động gì đến sự truân chuyên trong
nghề báo của ông sẽ là thiếu sót. Thật hiếm người trong làng báo ở ta truân
chuyên như Trần Mai Hạnh. Thời trẻ trung sung sức và giàu hoài bão, là phóng
viên Thông tấn xã Việt Nam vào chiến trường ác liệt nhất, Trung Trung bộ, liên
khu 5, vùng đất mà nhiều văn nghệ sĩ đã hi sinh (Dương thị Xuân Quý, Chu Cẩm
Phong, Nguyễn Mỹ, Hồng Chinh Hiền…) và nhiều cây bút trưởng thành như
Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Trí Huân…; thời bình, nổi tiếng với nhiều
phóng sự điều tra rung động xã hội; bị tai nạn giao thông nặng;
làm quản lý báo chí cấp cao (ủy viên trung ương Đảng, Tổng thư ký Hội
nhà báo Việt Nam, Tổng giám đốc Đài TNVN; vướng vòng lao lý vài ba năm; ra tù,
viết văn và nổi tiếng với tác phẩm được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và
giải thưởng văn học ASEAN … Và cả cái chết của ông cũng khác người, trên đường
vào đến Sài Gòn trong một hành trình tử Bắc (Hà Nội) chí Nam (Sài Gòn-Tp Hồ Chí
Minh) khi làm nhân chứng và người dẫn chuyện cho một phim tài liệu về chiến
tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước cho dịp 50 năm kỷ niệm sự kiên trọng
đại này.
Phương
diện cá nhân, bỏ qua những thị phi về chuyện Trần Mai Hạnh dính vòng lao lý,
tôi nể trọng ông về nghề báo, thích phong cách sống giản dị và có phần xuề xòa
của ông. Là lãnh đạo cao nhất ở cơ quan nên chẳng dễ gặp riêng ông để trò chuyện
dù là đơn thuần nghề nghiệp, tôi có mấy cuộc gặp riêng ông. Lần đầu là vào khoảng
năm 2001, khi ấy tôi mới được bổ nhiệm làm Phó trưởng ban biên tập Văn hóa xã hội.
Tôi được giao việc đến xin ý kiến ông về một dự án truyền thông phối hợp với Bộ
Y tế. Mặc dù trước đó không lâu, ông là người ký quyết định bổ nhiệm tôi nhưng
ông không thuộc mặt tôi nên vẫn nhầm tôi với một biên tập viên khác cùng ban.
Khi tôi đính chính xưng danh, nhân đó nói lời cảm ơn ông đã tin tưởng bổ nhiệm,
ông à lên cười bảo: “Mình bổ nhiệm cậu là nghe ý kiến đề xuất của chị Kim
Cúc, Phó tổng giám đốc, cũng nghe anh em cơ quan khen cậu giỏi chuyên môn,… lại
cũng biết tên cậu qua mấy cái truyện đăng báo…”. Đại khái vậy, để thấy quan
hệ đồng nghiệp trên dưới là vô tư trong sáng, tuyệt không tư túi cá nhân gì.
Khi ông gặp nạn vướng lao lý, tôi và vài ba đồng nghiệp cùng ban biên tập tình
cờ tác nghiệp một hội nghị đúng nơi ông bị giam giữ, chúng tôi đề nghị được
thăm ông. Cuộc gặp chừng hơn nửa tiếng thôi, buồn vui chộn rộn bao tâm trạng,
lúc tiễn ông trở vào nơi giam giữ, tôi có hỏi ông có viết được gì không, ông lắc
đầu bảo “Viết làm sao được hả em.
Lòng dạ nào…”. Hẳn là ông thật lòng. Dù điều kiện giam giữ có riêng biệt đấy
nhưng tâm trạng nào, lòng dạ nào mà viết cho đặng. Song nhất định đấy là quãng
thời gian ông nung nấu để sau này trút hết gan ruột, vốn sống, nỗi đau đời vào
ba tác phẩm để đời của mình?...
Tôi
còn có mấy cuộc gặp riêng ông nữa, khi thì tôi và ông ngồi cạnh nhau trên máy
bay từ Hà Nội vào Tp. Hồ Chí Minh, khi thì ở phòng làm việc riêng của tôi. Nhờ
thế mà tôi biết thêm về cuộc đời làm báo “ba chìm bảy nổi” của ông
Khi
thời gian đã lùi xa, đủ để mọi sự lắng lại, người ta cũng bàn ít nhiều về mức độ
đúng sai trong vụ án khiến ông “ngã ngựa”, nhưng cũng chẳng để làm gì. Điều
quan trọng nhất là ông đã vượt qua tất cả, để tiếp tục cầm bút, cho ra những
tác phẩm có giá trị để đời về tư liệu lịch sử và sự chiêm nghiệm cuộc đời.
Vậy
là nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh đã tự điền nốt những chỗ còn trống thiếu
trong biên bản cuộc đời mình.
Tôi
tin thế !...
TÔ HOÀNG
cần mẫn mót nhặt những nỗi buồn và vẻ
đẹp Nga
Mùa thu năm
2020, lần đầu tôi gặp mặt nhà văn Tô Hoàng,
Khi ấy dịch
Covid 19 đang lan tràn toàn cầu. Trong bối cảnh ấy, Hội Nhà văn Việt Nam vẫn cố
gắng mở trại sáng tác hằng năm tại Đà Lạt. Trại viên hơn hai chục người, những
cái tên như Võ Thị Xuân Hà, Trần Thị Trường, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyên An, Phạm
Hồ Thu, Y Ban, Tôn Phương Lan, Lê Đăng Hoan, Phạm Đình Ân, Vương Tâm, Phạm
Thanh Khương, Nguyễn Linh Khiếu, Trần Quang Đạo, Đỗ Thị Tấc, Nguyễn Thị Phước… Nhà
văn Nguyễn Hiếu tưng tửng: “Nghe nói, còn ông Tô Hoàng ở Sài Gòn, gần tám chục
sọi, lên muộn”. Tôi nghe vậy thôi, biết tên ông nhà văn này nhưng ít đọc và
cũng chưa biết mặt. Sáng khai mạc trại, Tô Hoàng xuất hiện, cao to, nhanh nhẹn,
nói năng khoát đạt, không mấy giống một ông già chạm ngưỡng bát tuần. Ông phát
biểu hay, có mấy điều tôi tâm đắc và tôi có thiện cảm với Tô Hoàng từ đấy. Ông ở
chung phòng với nhà thơ Phạm Đình Ân. Những ngày ở trại viết, tôi hay ghé phòng
ông chuyện phiếm và cũng hay rủ ông đi cà phê bàn chuyện văn chương cùng các
nhà văn Nguyễn Hiếu, Y Ban, Phạm Thanh Khương,…
Những tưởng vậy
thôi, song như một lẽ đương nhiên, ông và tôi trở thành người trò chuyện tâm
giao. Dù hơn tôi những 16 tuổi, nhưng ông coi tôi như người em út, tháng nào
cũng dăm ba lần ông gọi điện từ thành phố Hồ Chí Minh, chuyện văn chuyện đời đủ
cả. Cũng từ đây, tôi chăm đọc Facebook của ông với nhiều bài viết hay, và ông
cũng hay gửi cho tôi đọc những bài viết của ông hoặc của người khác mà ông cho
là bổ ích, nên đọc… Đã dăm năm như vậy, con người ông, từ văn chương đến cuộc đời
dần hiện rõ trong cái nhìn của tôi,…
Tô Hoàng quê
làng Xuân Cầu, Nghĩa Trụ, Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (cũ), một làng quê văn vật nổi
tiếng của vùng đồng bằng Bắc Bộ (cùng đó là làng Hành Thiện, Nam Định, làng
Đình Bảng, Bắc Ninh, làng Mộ Trạch, Hải Dương, làng Đường Lâm, Hà Tây,…). Ông
sinh năm 1941, tuổi Tân Tỵ, tại thành phố Nam Định (cũ), gia đình thuộc diện
viên chức bậc trung. Thời kháng chiên chống Pháp, gia đình ông chuyển vào sinh
sống ở vùng tự do Khu 4, đến cuối năm 1954 thì trở về Hà Nội. Năm 1964, sau khi
tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, Tô Hoàng xung phong nhập ngũ, là
quân của Sư đoàn 316 Tây Bắc (còn có Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đình Ảnh, Vương Trí
Nhàn…). Do có năng khiếu văn chương nên từ 1965-1966, Tô Hoàng được cử đi học lớp
bồi dưỡng văn nghệ sĩ cho chiến trường tại Trường Tuyên giáo trung ương, cùng với
một số văn nghệ sĩ như nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sĩ Hoàng Việt, nhà viết
kịch Ngô Y Linh, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu… Tô Hoàng làm trợ lý ở Phòng
Chính trị thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh (pháo mặt đất). Năm 1968, được cử vào Vĩnh
Linh – Đường 9, thời gian này ngoài viết tin bài, Tô Hoàng sáng tác được nhiều
truyện ngắn, bút ký đăng tải trên báo Văn Nghệ và tạp chí Văn nghệ
Quân đội. Đến mùa hè năm 1969, Tô Hoàng vào mặt trận Tây Nguyên và ở đó đến
tận tháng 3 năm 1973. Trong quãng thời gian này, ông hai lần được bầu là Chiến
sĩ Thi đua do xông xáo, dũng cảm, hoạt động hiệu quả. Sau chiến thắng
30.4.1975, chuyển ngành nhưng mong muốn trở thành người của tạp chí Văn nghệ
Quân đội không thành, Tô Hoàng về đầu quân ở Xưởng phim Quân đôi nhân dân.
Hơn một năm sau, Tô Hoàng thi và trúng tuyển đi nước ngoài học chuyên ngành Đạo
diễn phim Phóng sự Tài liệu tại Đại học quốc gia Điện ảnh Liên Xô (VGIK) từ
1979 đến1985.
Năm 1986 tốt
nghiệp VGIK về nước, Tô Hoàng chuyển ngành, vào Tp. Hồ Chí Minh viết báo, phê
bình điện ảnh và làm phim tài liệu. Ông đã làm hơn chục phim tài liệu nhựa và
truyền hình, trong đó đáng kể là phim tài liệu “Hồ Chí Minh-nguồn cảm hứng
sáng tạo” 3 tập, đoạt giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim
Việt Nam ở Tuy Hòa (2012), Bên cạnh đó, công trình lý luận điện ảnh bằng phim “Có
một thế giới khác được nhìn qua ống kính” được trao giải Bông sen
vàng Liên hoan phim Việt Nam ở Vinh (năm 1999)… Về lĩnh vực điện ảnh,
cho đến nay, Tô Hoàng còn có hơn hai mươi năm giảng dạy tại Đại học Sân khấu-Điện
ảnh Hà Nội và Đại học Sân khấu Điện ảnh Tp. Hồ Chí Minth
Tô Hoàng viết nhiều thể loại, tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, chân
dung văn học, tiểu luận và phê bình văn học, phê bình điện ảnh và địch thuật.
Có thể kể đến một số tác phẩm đã xuất bản tiêu biểu của ông như “Ngửa mặt kêu
trời” (NXB Hội Nhà văn, 1991),” Một thế giới khác được nhìn qua ống kính” (NXB
Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh, 1999), “Quanh
năm là tháng Bảy” (NXB Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh, 2001), “Nỗi buồn lâu quên” (NXB
Hội Nhà văn, 2014), “Đường xa gánh nặng, NXB Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh, 2014), “Số
một và số nhiều” (NXB Hội Nhà văn, 2015), cùng nhiều tác phẩm dịch thuật. Trong
số đó, đàng kể là tiểu thuyết “Ngửa mặt kêu trời” được ông khởi thảo từ
khi còn hoạc tập ở Liên Xô cũ. Ở vào thời điểm đó, Tô Hoàng đã nhận ra và đưa
vào tác phẩm của mình một vấn đề lớn có tính dự báo, ấy là sự bất hợp lý và trì
trệ của mô hình kinh tế kế hoạch và quản lý xã hội tập trung dẫn đến sự rạn nứt,
đổ vỡ của Liên Xô sau đó.
Đọc văn của Tô Hoàng, dù qua tác phẩm
đã xuất bản, đăng báo hay tạp chí và cả ở trang cá nhân trên mạng xã hội, khiến
tôi ấn tượng và yêu thích ở mấy điểm sau:
Thứ nhất, chuyện chiến trường, đúng ra là những hồi ức
về chiến tranh mà ông kể lại với tư cách một người lính trực tiếp tham gia, cầm
súng và cầm bút ở mặt trận Bắc Tây Nguyên thời chiến tranh chống Mỹ Ngụy. Chuyện
chiến trường thì nhiều lắm, vui có buồn có, đầy rẫy gian khổ hy sinh, đói khát
đồ ăn thức uống và cả chuyện tình cảm nam nữ… Đặc biệt, ám ảnh bởi chuyện về những
người linh ở tổ “thọc sâu” (mũi nhọn) lấy sắt ống bơ đục khắc tên mình giấu
trong người trước mỗi trận đánh phòng khi hy sinh thì đồng đội còn phân biệt nhận
diện làm công tác tử sĩ. Và chuyện nữa, ấy là chuyện về sex của lính, cả ta và
địch, một nhu cầu sinh lý bản năng thường tình rất con người, bi hài có cả, giận
mà thương, thương mà giận.
Thứ hai, ấy là mảng chân dung văn học.
Phải công nhận, Tô Hoàng là một người có tài khắc họa chân dung bạn văn và các
cây bút văn chương. Ông bắt được thần thái và bằng một giọng điệu nhẹ nhàng,
hóm hỉnh, kể chuyện pha chút bình luận, ông “phảy” ra ngay diện mạo và tính
cách nhận vật của mình. Qua ngòi bút của ông, các nhà văn tên tuổi cùng thế hệ
hiên lên sinh đông, như Chu Cẩm Phong, Phạm Tiến Duật, Đỗ Chu, Hữu Thỉnh, Nguyễn
Khắc Phục, Nghiêm Đa Văn, Nhật Tuấn, Bế Kiến Quốc, Tô Đức Chiêu, Hà Đình Cẩn…
Và cũng vậy, các cây bút thế hệ sau như
Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Hàng Tỉnh… được ông nâng niu, trân quý.
Thứ ba và nổi bật nhất, ấy là mảng Dịch
thuật. Tô Hoàng không chủ tâm dịch tác phẩm văn học nước ngoài như nhiều nhà dịch
thuật khác, mà ông đặc biệt yêu thích và tìm tòi, chọn dịch rất thành công những bài viết mang tính tư liệu, tiểu luận
và chân dung các nhà văn, các nhà điện ảnh, hội họa, nghệ thuật ba-lê, trong đó
xuất sắc hơn cả là các vị thuộc nền văn học nghệ thuật Nga-Xô viết như N.
Gogol, X Pushkin, M. Lermontov, A. Tsekhov, I. Turgeniev, I. Bunin, M. Gorky,
L. Tolstoi, S. Esenin, A. Akhmatova, K. Paustovsky, I. Levitan, I. Erenburg, M.
Solokhov, A Fadeev, K. Fedin, A. Tolstoi, B. Paternasc, K. Simolov, Y.
Bondarev, M. Bulgakov, V. Nabokov, A. Rybakov, E. Evtusenko, T. Aimatov, R.
Gamzov… và các nhà thơ Nga hải ngoại đoạt
giải Nobel văn học như M.Solzhenitsyn, I. Brodsky. Qua những bài viết mang tính
tư liệu và hậu trường văn chương này, người đọc thấy được cội nguồn sâu xa của
tác phẩm, những câu chuyện rắc rối bên lề, những góc khuất éo le, những khúc mắc
văn chương và ngoài văn chương nan giải liên quan đến cuộc đời thân phận các
văn nghệ sĩ cùng với tác phẩm của họ. Cũng ở đó, vẻ đẹp thiên nhiên và vẻ đẹp
tâm hồn, tính cách con người hiện lên khi phảng phất khi đậm nét, vô cùng sinh
động. Vậy nên, nói Tô Hoàng là người cặm cụi, cần mẫn mót nhặt, gom góp những nỗi
buồn và vẻ đẹp Nga là thế. Những nỗi niềm và sắc thái ấy tồn dư đâu đó trong những
mảnh vỡ của quá khứ vương vãi đến giờ. Một việc không khó nhưng chẳng dễ chút
nào, bởi ở ta, nay còn mấy ai quan tâm, chịu làm và làm hay phi Tô Hoàng?
Giờ ở tuổi U 90, hàng ngày Tô Hoàng vẫn
chăm chỉ làm việc, không chỉ lục lọi mọi ngóc ngách để truy tìm quá vãng mà ông
còn rất chi là thời sự. Để ý, mấy năm nay, hầu như ông không bỏ qua một sự kiện
văn chương điện ảnh nổi bật nào của nước nhà mà không tham góp ý kiến bày tỏ
quan điểm, góc nhìn riêng của mình, xác đáng, chân thành và đầy sức thuyết phục,
ví như gần đây, về tác phẩm văn học và điện ảnh “Mưa đỏ”, tác phẩm “Thuyền”
của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đức Tùng, tác phẩm điện ảnh “Quán Kỳ Nam” và cuộc tranh luận về
tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Nịnh khi nó từng là một
trong số 50 tác phẩm văn học nghệ thuật được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chọn
trao giải thưởng (1975-2025).
Với riêng tôi, kể từ khi làm quen và
giao du với Tô Hoàng, ông luôn coi như một cậu em nhỏ quý mến. Hễ có sự gì, về
văn học nghệ thuật và đời sống xã hội, khi cần bày tỏ nỗi lòng hay ý kiến này nọ,
muốn sự tham góp của tôi là ông bốc máy alo. Và tôi, mỗi khi vậy, bắt máy ông,
tôi đều có ý hóng chờ một ý kiến chân thực từ ông.
Tô Hoàng, người đàn anh đáng kính của
tôi!
TRÚC THÔNG
thấp
thoáng người và thơ
Mùa thu năm 1987, tôi bước chân vào
ngôi nhà 58 Quán Sứ Hà Nội, bắtđầu cuộc đời làm báo chuyên nghiệp của mình. Khi
ấy. Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam chiếm trọn ngôi biệt thự trong cùng, một
trong ba ngôi biệt thự kiến trúc Pháp ở khu vực trụ sở Đài. Phòng làm việc của
tôi thuộc Ban Thính giả, là vài căn phòng cấp 4 ngay bên dưới tòa biệt thự của
Ban Văn nghệ. Hằng ngày, nhìn các anh chị của Ban Văn nghệ đi lại ngang qua, và
nghe tiếng các vị bàn chuyên văn chương đến chuyện chợ búa mớ rau con cá lạng
thit từ tầng cao vọng xuống, mà ngưỡng mộ. Nhiều lần tôi đứng dưới ngước nhìn
lên ô của sổ tầng trên biệt thự với những cánh cửa chơp mở ra, của kính khép hờ
mà ước ao một ngày nào đó, mình được là biên tập viên văn học làm việc ở đấy.
Thú thực, ngày ấy, với gia tài vỏn vẻn một bài thơ đăng báo Văn Nghệ từ năm
1978 lúc là sinh viên đại học năm thứ ba, thì ước vọng trở thành biên tập viên
văn học nhà Đài thật viển vông...
Thế rồi, dịp tết năm ấy, biên tập
viên Thu Liên, người cùng phòng với tôi, con gái của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, bảo
: "Em nghe bố em nói, chương trình Tiếng thơ đêm ba mười tết này anh có
một bài thơ được phát sóng đấy". Quả tình, tôi nghe mà không tin, Quả
nhiên, bài thơ của tôi được đứng chung với các bài thơ của các tên tuổi làng
thơ Việt trong chương trình Tiếng Thơ tết ăm ấy. Nghe mà sướng run người vì
không tin vào tai mình. Sở dĩ, tôi nhắc lại sự việc này là để nói tới một ban
biên tập văn học thời ấy của Đài Tiếng nói Việt Nam với các nhà thơ nhà văn,
biên tập viên kỳ cựu. Cùng với nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, còn có nhà thơ Trần Nhật
Lam và vợ ông-biên tập viên Nông Thị Nhuận (một trong những biên tập viên thế hệ
đầu của chương trình phát thanh Tiếng Thơ nổi tiếng), nhà thơ Trần Nguyên Vấn,
nhà thơ Trần Mạnh Thường, nhà thơ Trúc Thông, nhà văn Tuấn Vinh, nhà thơ Lâm
Huy Nhuận,...Để lọt qua các con mắt xanh, nhất là Trúc Thông vào chương trình
thơ tết, thật không phải dễ. Và đấy cũng là cái cớ để sau đó tôi lân la làm
quen với các “nhà”, các “cây” của Ban Văn nghệ. Cùng với việc, năm 1978 khi còn
là sinh viên, đã có thơ đăng báo Văn nghệ, nay lại có thơ phát trong chương
trình Tiếng Thơ tết, tôi thêm phần tự tin để theo đòi mộng văn chương, thơ phú.
Thú thực ngày đó, dù yêu văn học
nghệ thuật đến mấy, bản thân đã có thơ và có truyện ngắn đăng báo Văn Nghệ,
nhưng tôi ngại bén mảng đến Phong phát thanh Văn học, mà chỉ hay ghé Phòng phát
thanh Văn học thiếu nhi, nơi nhà thơ Lê Đình Cánh và Trường Hữu Lợi phụ trách.
Khi ấy, Ban Văn học nghệ
thuật (Đài TNVN) cùng với Báo Văn nghệ, (Hội Nhà văn Việt Nam) Tạp
chí Văn nghệ Quân đội, (Bộ Quốc phòng) và Tạp chí Văn học (Viện Văn
hiọc thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam) thực sự là Tứ trụ về lĩnh vực
Văn học Việt Nam. Có thể nói, ở đấy, chủ trương, quan điểm , sự chỉ đạo về văn
học nói riêng và văn hóa văn nghệ mói chung được thể hiện rõ nhất. Đó cũng
chính là yếu tố cơ bản làm nên cái uy của những cơ quan này trong làng văn học
nghệ thuật ở nước ta. Cũng vì lẽ ấy, các văn nghệ sĩ, nhà thơ nhà văn, các biên
tập viên làm việc ở đấy được hưởng lây cái uy. Là các vị nghĩ thế, mà bạn đọc
cũng cho là vậy. Oai lắm đấy.
Với những ai đó oai thế nào thì
tôi không rõ, song với văn nghệ sĩ người nhà Đài thì không. Trúc Thông không giống
các đồng nghiệp như nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, Trần Nhật Lam, Trần Nguyên Vấn, Trần
Mạnh Thường, Lê Đình Cánh ở sự giản dị, dễ gần, mà cũng không thoải mái, cởi mở
như nhà thơ Trường Hữu Lợi, Lâm Huy Nhuận… Ông nhẹ nhàng, lịch thiệp đấy song
không dễ gần. Thế nên, mỗi khi gặp hoặc tiếp xúc gần với ông, tôi đều giữ sự
kiêng nể, cẩn trọng trong thái đọ và lời ăn tiếng nói. Tôi cảm nhận từ ông, gần
đấy mà xa ngay đấy, dễ chịu dấy nhưng khó tính ngay đấy,...
Với tư cách nhà thơ, Trúc Thông
có xuất bản vài tập tiểu luận phê bình văn học và bình thơ, song tôi nghĩ, sự
nghiệp chính của ông vẫn ở thi ca. Mà chủ yếu là những tập thơ: Chầm chậm tới
mình (1985), Maraton (1993), Một ngọn đèn xanh (2000) và Vừa
đi vừa ở (2005). Năm 2017, nhà thơ Trúc Thông được Giả thưởng Nhà nước về
Văn học nghệ thuật, là sự ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp của ông trong
lĩnh vực thi ca, nhất là sự tìm tòi không mệt mỏi trên hành trình đổi mới thơ
Việt thời kỳ hiện đại,...
Trước hết, Trúc Thông thuộc số
các nhà thơ theo đuổi chủ trương đổi mới thơ Việt. Ông cẩn trọng, kỹ lưỡng và
có gì đó cầu kỳ trong từng câu chữ, đến tít bài thơ và cả trong việc đặt tên tập
thơ. Tôi nghe một nhà thơ kể rằng, một nhà thơ đàn anh và là đồng nghiệp của
Trúc Thông từng nhận xét về thơ ông, “Trúc Thông là người đau chữ đau câu,...”.
Không rõ thực hư sao, nhưng cứ lẽ mà suy thấy có lý. Trở lại với việc nhà thơ
Trúc Thông đặt tít bài, têt sách thì biết. Nghe đâu, cũng như việc ông đặt tên
cho con, các ái nữ của mình....
Nói có lý, còn bởi, đã có lần,
trong lúc đàm đạo văn chương ở Ban Văn học nghệ thuật nhà đài, tôi nghe Trúc
Thông cao hứng bày tỏ quan điểm của mình, rằng: “Thơ khi in, trên báo hay
vào sách, nên in khổ chữ to, để câu chữ nào lép không có chỗ ẩn nấp”. Thế
này thì rõ là “đau chữ đâu câu” chứ đâu? Cứ theo quan điểm này của nhà
thơ Trúc Thông, tôi thử suy luận, ông coi mỗi bài thơ như một bông lúa. Dĩ
nhiên, thơ không là lúa, mà có là lúa đi chăng nữa thì hiếm có bông lúa nào
toàn bộ hạt đều căng mẩy cả, thế nào chẳng có dăm ba hạt lép, thậm chí rất nhiều
hạt lép. Thế nên, mỗi bài thơ, những câu chữ hay là nhưng hạt mẩy, còn câu chữ
độn, câu như văn nói, hoặc ngô nghê là những hạt lép. Nhìn cả bông khó thấy hạt
lép, cũng như đọc cả bài thơ, câu chữ dở, lép lẩn trong cả bài. Vậy mới phải
tìm cách để câu chữ dở, lép không có nơi ẩn nấp, lộ diện ra,... Quả là ý tưởng
độc đáo, khác người đấy nhưng cũng không dễ làm chút nào.
Trở lại thơ Trúc Thông. Sau Chầm
chậm tới mình (hẳn là nhà thơ tìm đường hướng, giọng điệu?), Ông tự tin,bắt
đầu tăng tốc với Ma-ra-tông, rồi giữ nhịp ở Một ngọn đèn xanh. Và
sau đó, có chút lắng lại, thoáng băn khoăn ở Vừa đi vừa ở. Khác với nhiều
nhà thơ, lấy tên sách như một cách sáng tác, Trúc Thông chọn tên sách với nhãn
quan phê bình, thể hiện quan điểm sáng tác của mình. Bao quát, thơ Trúc Thông,
dù vần điệu hay không, đều hàm súc, suy ngẫm, hình ảnh và giàu sức liên tưởng.
Ngày trước, khi tôi còn tham gia
giữ mục cho một tờ báo nọ, tôi từng chon bài thơ “Lát sông quê”
và “Nho nhỏ mùa thu” của Trúc Thông để bình. Liên tưởng đến minh
triết “Chẳng một aai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”, bài “Lát
sông quê,” cùng cảnh tượng trước mắt, tác giả sống lại ký ức xa xưa với
hỉnh bóng bà cụ già, hình bóng người mẹ và câu bé cùng lũ trẻ suốt nửa thế kỷ
trôi qua,... như nhau mà lại khác thế, để ngộ ra một sự thật đơn giản “vẫn sông
Châu yên lặng thế thôi mà”. Nhưng bà cụ giờ đây rất có thể là con của bà cụ
ngày xưa, còn cậu bé “tim loạn nhịp” ngày xưa là tác giả, nhà thơ đứng tuổi lịch
lãm phong trần và người mẹ vội chợ ngày ấy giờ đã nằm lại ở bờ sông lẫn với đám
ngô mà “bờ sông vẫn gió người không thấy về”.Tìm quy luận vận hành của cuộc sống
luôn đau đáu và chẳng dễ với Trúc Thông. Tính ông vốn thế mà.
Ở bài thơ “Nho nhỏ mùa thu”,
ngôn ngữ thơ văn xuôi, Trúc Thông tô màu bức tranh: “Đôi chim câu chân son mỏ
đỏ, bên bờ con sông Sa Lung/ chim đi đâu đây?/ cúc cù cu chúng tôi kiếm mồi.
Cúc cù cu chúng tôi rong chơi? Rồi chim bay vù. Một quãng đáp xuống. Chim lại
đi đôi trong cỏ gật gù/ cỏ mùa thu xanh ngả đượm chút vàng. Sông Sa Lung tháng
bảy nước chảy phù sa. Trời thu rộng rãi, gió nhè nhẹ trải/ vợ chồng chim như
hai anh em như hai bè bạn. Áp trắng ,mắt xườm, chân son, mỏ đỏ. Gật gù đi trong
cỏ pha thu.” Nguyên bài thơ như vậy, đầy ắp sắc màu, hình ảnh, sống động,
làm nên một bức tranh thu thật đẹp. Sự cầu kỳ cũng đáng giá đấy chứ?
Bản chất của sự vật và hiện tượng
cùng mối liên kết sâu xa của nó mới là mối quan tâm và làm ông bận lòng. Điều
này có thể tháy ở một số bài thơ, như: Cảnh quan, Múa cổ. Qua
tháp Dương Long, Vũ nữ Trà Kiệu bước ra từ sa thạch, Dặn bức
tranh năm cô gái, Bài ca các em bé theo công trường,... Ví như, bài Múa
cổ: “Em múa điệu rông đô thời cổ/ bàn chân chắc nịch sau làn váy/ da
đồng quê/ khăn mận chín vùng vẫy/ ngực căng/ yếm sồi/ rông đô/ chân trần tiếp đất/
làng ta thế kỷ mười/ đất âm thầm tự do trong cầm giữ/ rông đô/ trống vỗ/ rông
đô/ vai trần/ rông đô/ không biết mệt...” Cảm giác, Trúc Thông mải miết,
không mệt mỏi đi tìm cách diễn đạt mới.
Nhưng thấp thoáng đó đây, lại thấy
một Trúc Thông rất đỗi thật thà, chẳng hạn như bài thơ “Cao Bằng”:
“Sau khi qua đèo Gió/ Ta lại vượt đèo Giang/ Lại vượt đèo Cao Bắc/ Thì ta tới
Cao Bằng... Rồi đến chị rất thương/ Rồi đến em rất thảo/ Ông lành như hạt gạo/
bà hiền như suối trong.../ Bạn ơi có thấy đâu/ Cao Bằng xa xa ấy’ Vì ta mà giữ
lấy/ Một dải dài biên cương”. Lời thơ giản dị những tình cảm dạt dào. Có lẽ
vậy mà các nhà giáo dục đã chọn đưa vào sách giáo khoa Tiềng Việt để giảng dạy
cho học sinh bậc tiểu học. Tuy nhiên, cái sự thật thà như đếm này lại khiến tôi
nghĩ, phải chăng đây mới là bản chất thật của Trúc Thông, còn như cái sự cách
tân kia là ông “diễn”, là sự cố tình làm khác đi chăng?
Hay đâu, có một Trúc Thông nhuần
nhị, thấm đã tình người, tình mẫu tử trong bài thơ “Bờ sông vẫn gió.”
Theo tôi, đây không những là bài thơ hay của Trúc Thông, mà còn là một trong những
bài lục bát khá hay ở xứ ta. Hay về mọi nhẽ, ý tứ, ngôn từ, vần điệu,... Cùng
câu mở rất gợi, lời thơ ra tựa lời cửa miệng nhẹ bẫng như không mà đằm nặng
nghĩa tình: “Xin người hãy trở về quê/ Một lần cuối... một lần về cuối thôi/
Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh/ Lệ xin giọt cuối
để dành/ Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha/ Cây cau cũ, giại hiên nhà/ Còn
nghe gió thổi sông xa một lần/ Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần... rồi mẹ
hãy dần dần đi. “
Còn có một Trúc Thông thẩm thơ bằng
“con mắt xanh”. Gần bốm chục năm làm biên tập thơ của chương trình Tiếng
thơ, Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã đọc, đã chọn lựa, bình
luận, phê bình hàng vạn bài thơ để giới thiệu cũng thình giả, công chúng. Đây
là sự đòng góp không nhỏ của Trúc Thông cho sự phát triển của thi ca Việt hiện
đại. Cũng nhờ vốn tích lũy và kinh nghiệm của ngần ấy năm mà nhà thơ Trúc Thông
đã thêm vào gia tài tác phẩm của mình dày dặn.
Với riêng tôi, mấy chục năm công
tác cùng cơ quan với nhà thơ Trúc Thông, gặp mặt khi mau khi thưa, ông vẫn cứ
thấp thoáng đâu đó, gần gũi đấy mà xa cách đấy, thân thiện đấy mà lành lạnh
cách nhỡ đấy,... Về phần mình, tôi luôn kính nể ông, mỗi khi tiếp xuc mạn đàm về
văn chương hay cuộc sống, tôi thường nghe ông nói, hơn là chia sẻ, giãi bày,...
Tiếc là, sau nhiều năm nằm bệnh
sau đột quỵ, hoạt đông văn học của ông phần nào hạn chế. Song với những gì Trúc
Thông để lại khi ông rời cõi tạm, bạn bè văn chương và người yêu thơ đất Việt
chắc chắn sẽ nhớ đến ông không riêng chỉ “Bờ sông vẫn gió” và tên
những tập thơ khác lạ !...
Với tôi, nhà thơ Trúc Thông cứ thấp
thoáng thế thôi. Thấp thoáng mà lại rõ ràng,... ./.
TRỊNH TUYÊN
“lão chăn dê” xứ Thanh.
Sở dĩ tôi đùa vui gọi nhà văn Trịnh
Tuyên như thế, bởi truyện ngắn Chuyện
tình lão chăn dê là truyện ngắn hay, một trong ba truyện mà tôi chọn để giới
thiệu trên trang của Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.net).
Sau đó, truyện ngắn này còn được nhà văn Nguyễn Văn Thọ chọn và nhà thơ Trần
Đăng Khoa, Tổng biên tâp, phê duyệt đăng ở số 2 (bộ mới) Tạp chí Nhà văn & cuộc sống, Hội Nhà văn Việt Nam.
Đây là một
trong mấy truyện ngắn khởi đầu nghiệp văn của Trịnh Tuyên. Tuy xuất hiện trên
văn đàn muộn nhưng Trịnh Tuyên đã nhanh chóng khẳng định mình ở thể loại truyện
ngắn và chỉ trong vòng gần chục năm, ông đều đặn xuất bản mấy tập truyên ngắn,
đó là Những mảnh vỡ
của số phận (2012), Hang cóc thần (2014), Giấc mơ lạnh (2016), Nhớ đêm thời xa ấy (2018),…
Trịnh Tuyên là hội viên Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa và
hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Mặc
dù. Trịnh Tuyên viết đều cả văn và thơ, nhưng bạn văn chương và bạn bè nói
chung chẳng ai gọi ông là nhà thơ cả,
Phải chăng, truyện ngắn của Trịnh Tuyên nổi trội hơn thơ ông nên người ta ấn tượng
một Trinh Tuyên văn? Song có lẽ, con người góc cạnh, tính cách quyết liệt, phản
biện sắc sảo, đã làm nên một Trịnh Tuyên-nhà
văn?
1. Trịnh Tuyên văn,
Trịnh
Tuyên chào làng văn, chào bạn đọc bằng truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê, và gần như lập túc, ông ghi dấu ấn, khiến
bạn đọc ngoài xứ Thanh biết đến tên ông, khi mấy tờ báo, tạp chí địa phương
cùng đăng. Tôi nhìn nhận phẩm chất nhà văn ở Trịnh Tuyên, khiến ông khác với
nhiều người viết ngày ấy. Quả nhiên, truyện ngắn này nâng vị thế của Trịnh
Tuyên trong con mắt của dân chuyên nghiệp, khi duyệt bài lên trang, nhà thơ Trần
Đăng Khoa, Tổng biên tạp Tạp chí Nhà văn &
cuộc sống , gật gù bảo: “Truyện này chẳng
khác gì chuyện Chí Phèo, Thị Nở thời nay”. Lẽ dĩ nhiên, đến nay, với gần
trăm truyện ngắn đã xuất bản, Trịnh Tuyên còn có một số truyện ngắn khác khá chắc
tay,
Hãy
xem Trịnh Tuyên viết gì. Có thể thấy, các truyện của Trịnh Tuyên tập trung vào
mấy mảng đề tài chính: chuyện chiến tranh và hậu chiến, chuyện về các loài vật,
chuyện mang tính trinh thám, vụ án, chuyện màu sắc tâm linh, và chuyện đời sống
xã hội, tình ái...
Nhìn
chung, như phần đông các cây bút viết theo bản năng vốn có, khởi thủy thường chọn
thủ pháp kể chuyện truyền thống, diễn biến câu chuyện theo trình tự thời gian,
dù đan xen hồi tưởng, ký ức, với nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (tôi), hoặc ngôi thứ ba (nó, hắn...), Trịnh Tuyrn cũng vậy. Hầu hết,
các nhân vật của ông kể chuyện ở ngôi thứ nhất, số ít truyện ở ngôi thứ ba. Với
thủ pháp vậy, tác giả dễ bề điều hành nhân vật theo chủ quan của mình nên hay nặng
cảm tính hơn là theo logic của sự việc, vấn đề. Tuy nhiên, Trịnh Tuyên “bài binh bố trận” khá linh hoạt, đã biết
cách thoát ra khỏi sự nhàm chán của lối kể chuyện bằng cách thay đổi kết cấu,
khai mở gây sự chú ý, cài đặt chi tiết bất ngờ...
Có lẽ,
chuyện chiến tranh và hậu chiến là mảng đề tài Trịnh Tuyên để tâm khai thác. Mặc
dù, bản thân không nhập ngũ, không trực tiếp tham gia chiến tranh, mà là chiến
sĩ công an, song cũng là lực lượng vũ trang, vả lại, ban bè, người thân của ông
tham gia quân ngũ rất nhiều nên ông hiểu chuyện binh nghiệp và những vấn đề xã
hội thời hậu chiến... Ở mảng đề tài này, có các truyện Nhớ thời xa ấy, Tên lính ngụy, Hồi ức một cung đường, Kẻ ném đá,... Nhưng có thể thấy, tác giả
chỉ hoàn thành việc kể chuyện, các nhân vật như thiếu hồn vía nên chưa để lại dấu
ấn đáng kể,
Trái ngược,
mảng đề tài về đời sống xã hội và tình ái là thế mạnh thực sự của Trịnh Tuyên.
Ông viết như không, kể chuyện chơi vậy thôi nhưng hầu như truyện nào cũng sống
động và khá ấn tượng, mà qua đó, ông gửi gắm ý tưởng, triết lý nhân sinh, hoặc
tự thân truyện toát lên giá trị nhân văn và thông điệp về cuộc sống,... Cùng với
Chuyện tình lão chăn dê, ở màng đề
tài này, có thể nhặt ra một số truyện chắc tay, như: Những mảnh vỡ của số phận, Giọt máu rơi, Đồng không mông quạnh, Ông kão câu cá, Cây
bút máy mạ vàng, Liên, Thiếu nữ bên bãi biển chiều thu, Bà Thanh-kiu, Chuyện
tình xóm núi, Những mùa dưa đi qua...
Cùng mảng
đề tài về đời sống xã hội, Trịnh Tuyên cũng khá thành công với những truyện về
tâm linh như: Cây gậy của Lý Tước, Hang
cóc thần, Giấc mơ lạnh, Thần cây, Bí mật hang cá thần, Con rắn hổ lửa trên bàn
thờ tổ, Con chuột trong nhà thờ họ, Cối đá quý, Ma học trò, Anh ơi em chết mất,...Từ
những giai thoại, chuyện kể mang màu sắc dân gian tâm linh, Trịnh Tuyên sưu tầm
xây dựng nên cốt truyện rồi đắp thêm da thịt phù phép thành truyện, và ở đây,
quan hệ nhân-quả được ông sử dụng thành triết lý nhân sinh, Vậy nên, yếu tố tâm
linh không phải là chuyện mang ra để hù
ma, dọa quả báo, mà như một sự nhắc nhở về đạo lý thiện lương, về nhân
nghĩa ở đời....
Những
chuyện vụ án, chuyện mang màu sắc trinh thám cũng là một điểm nhấn trong sáng
tác của Trịnh Tuyên. Xuất thân ngành công an, nhiều năm là cảnh sát điều tra,
Trịnh Tuyên có vốn kiến thức phong phú, óc suy đoán logic, sự nhanh nhậy của một
chuyên viên phá án, nên ông khá chắc tay trong mảng đề tài này. Ở các truyện: Kẻ tự thú, Đánh ghen, Bóng đè, Ăn miếng trả
miếng, Tiếng chó sủa đêm, ông thỏa sức
tung tẩy với kinh nghiệm cảnh sát điều tra của mình. Không chỉ thế, Trịnh Tuyên
viết truyện như làm án, nên để dấu ấn nghiệp vụ điều tra trong hầu hết các truyện
ngắn của ông về việc cài đặt tình tiết và tiết tấu câu chuyện,...
Còn một
mảng đề tài, khiến Trịnh Tuyên khác nhiều cây bút văn xuôi, ấy là về các loài vật.
Để ý, các truyện của ông đều thấp thoáng bóng dáng các con vật, (hoăc cây cối, đồ vật), mà ở đó, chúng là
các nhân vật phụ, có liên quan, và có tác dụng làm nổi nhân vật chính. Nhiều
truyện, con vật trở thành nhân vật chính, như: Đôi chim cu già, Sữa chó, Chó đẻ, Con mọt, Con khỉ, Con mèo tam thể,
Con ngựa già, Con lợn nghĩa tình, Con gà tài nguyên, Con trâu bạc, Đốm ơi,...
Ở đây, Trịnh Tuyên tỏ rõ sự hiểu biết tường tận về đặc tính sinh thái của từng
loài vật, mối quan hệ đồng loại và mối quan hệ với con người. Dĩ nhiên, nói đây
chết cây chỗ khác, ông mượn chuyện con vật là để nói con người, nhắn nhủ con
người,..
Vậy nên,
đương nhiên, có một Trịnh Tuyên-truyện ngắn,
2. Trịnh Tuyên thơ,
Cho đến nay,
nhà văn Trịnh Tuyên tuy chưa xuất bản tập thơ nào, song ông là tác giả của hàng
trăm bài thơ rải rác nhiều năm qua. Dấn thân vào nghiệp văn. Trịnh Tuyến có thế
mạnh và chủ tâm theo văn xuôi, nhưng cũng như nhiều cây bút văn xuôi khác, thậm
chí các lão làng (như Hà Minh Đức, Võ Huy
Tâm, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp...), ông cũng bị nàng thơ quyến rũ và không
thể làm ngơ. Thơ ông chủ yếu đăng trên mạng xã hội để bạn hữu đọc bàn chơi, hay
lúc trà dư tửu hậu bình phẩm, thi thoảng gửi đăng báo này nọ. Tôi nghĩ, sẽ có
ngày Trịnh Tuyên tập trung thành tập, xuất bản.
Là cây truyện ngắn vững, khi viết, chủ đề, ý từ, bố cục, chi tiết rõ,
nên sang thơ, Trịnh Tuyên cũng theo đúng cách viết truyện ngắn mà làm. Nghĩa
là, lập tứ, có cốt rồi lắp câu chữ cho bài thơ nên da thịt, sao cho diễn đạt được
ý từ là ổn, nên đôi khi khó tránh khỏi tình trạng ngượng ép, khiên cường, Ví
như:“Đừng tìm người đi cấy anh ơi/ Phía trước, phía
sau, đều không rõ mặt/ Cuộc mưu sinh gần đất nhất.../ Họ sẽ nhìn anh qua khung
hình tam giác/ Mặt ruộng là gương, không cần tráng ni tơ rát bạc// Âm bản đen, ống
kính chổng lên trời!!!” (Người đi cấy); hay như: “Người cả tin/ Biên giới hay xê dịch/
Người tâm thần/ Biên giới bỏ ngỏ/ Người tham lam/ Tự thu hẹp biên giới/ Người
cuồng tín/ Biên giới thuộc địa hạt tư duy kẻ khác/ Người thông minh/ Biên giới
chôn chìm...”
(Biên giới)…
Và đây “Bến lạnh lùng, con tim buốt sang ngang/ nước đã lạnh, lòng người
còn lạnh nữa/thôi đừng khoắng thêm dòng sông tình tan vỡ/ Cho mái chèo mươn mướt
những niềm đau! (Chẳng
còn mùa thu nữa đâu em); Rồi đây nữa: “Có anh đây rồi, em cứ vững niềm
tin/ Biển là em, em thẳm xanh như biển/ Nếu chúng vắt vòi rồng, anh còn cố nhịn/
Nhưng khoan vào là anh băm xác chúng ra/ Nên chúng cứ thụt vào rồi kéo ra!”
(Thơ tình cảnh sát biển)_
Đại loại, những khổ thơ, câu thơ
gượng ép, cố gò theo ý tưởng như thế không hiếm trong thơ Trịnh Tuyên, Như đã
nói, thơ Trinh Tuyên, hầu như bài nào cũng ý tứ rõ ràng, nhiều khi lộ ý, vấn đề là diễn đạt ra sao. Trịnh Tuyên luôn ý
thức tạo sức nặng cho thơ mình, nên ông ưa triết lý, Một khi triết lý. thì năm
ăn năm thua, rất có thể gượng và khô cứng, nhưng thành công thì lại được những
câu thơ hay. Có thể tìm nhặt ra trong thơ Trịnh Tuyên những triết lý hay. Chẳng
hạn, như: “Quên tên cây/ làm thuyền/ Tận cùng
nỗi cô đơn-/ độc mộc!/ Khoét hết ruột/ Chỉ để một lần ngược thác/ bất chấp đời/
lênh đênh...” (Độc mộc); Hay như: “Chưa nở đã mang bầu thai quả/ Phận
đau như gái chửa không chồng/ Buồng the nứt toác tình chưa thỏa/ Cuối mùa trơ
cuống với hư không.(Hoa
chuối): Đây nữa: “Đêm
tất niên một mình ra ngõ/ Say mèm húc phải đống rơm/ Hai kẻ cô đơn chợt tỉnh:/
Nhận ra xác những linh hồn!/ Ngươi: xác của mùa màng/ Ta: xác của thời gian/
Ngươi: Cháy lên còn chút lửa/ Ta: Một nhúm tro than..../ Ngươi đứng lù lù trước
ngõ/ Ta thì lọm khọm trong nhà/ Ta buồn đắng tình thế thái/ Ngươi vui ngọt miệng
trâu bò!”
(Đêm tất niên): Và đây: “Nơi
đây là mộ địa/ Chôn/ những mối tình đã chết từ lâu/ Đã vô duyên kiếp trước/
Mong gì gặp kiếp sau? (Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Nếu chịu khó tìm kiếm, còn không
ít những câu thơ triết lý thú vị như thế trong hàng trăm bài thơ của Trịnh
Tuyên Thực lòng, tôi thích thơ Trịnh
Tuyên hơn truyện của ông, bởi nhìn chung, thơ ông có ý tưởng lạ, khá hàm súc,
câu chữ bất ngờ. Ví như bài thơ này: “Ta lại đến
điểm đầu từ điểm cuối/ đường tình ngắn chẳng tày gang/ Cưới lại đi em/ Ừ! Cưới
lại!/ Cơm đã nguội rồi thì đổ ra rang.../ Đêm cưới lại/ tình nồng không trở lại/
chỉ có đôi môi/ lặng ngắt/ ưu sầu!/ Đêm cưới lại/ ái ân/ không trở lại/ chỉ tiếng
thì thầm thoảng trong đêm mau/ Đêm cưới lại/ chẳng còn gì trở lại/ chỉ một lần
khờ dại mãi trong nhau..” (Cưới lại); Hay như: “Nghẹn ngào khói thoảng về mây/ Run run một nén tâm đầy con dâng...” (Thăm
mộ cha); “Khi anh yêu em/ Biên giới của
người điên” (Biên giới); “Rằng nay đang tiết thanh minh/
Tôi đi viếng cái mộ mình mai sau...” (Tôi đi viếng mộ của tôi): “Nơi
đây là mộ địa/ Dưới đáy mồ không một khúc xương/ Chôn những mối tình đã chết! “
(Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Theo tôi, Trịnh Tuyên có một bài
thơ hay, thuộc hàng hay nhất của ông, kiểu như Chuyện tình lão chăn dê
trong truyện ngắn, ấy là bài Thành nhà Hồ.: “Thành
xưa đổ nát, hoang tàn/ Hồ vương rời bỏ ngai vàng ngự đâu(?)/ Thạch long, tuế
nguyệt dãi dầu/ Bước chân khanh tướng công hầu vắng tanh/ Sông xưa đổ mé đông
thành/ Mà nay đồng bãi, tươi xanh bốn mùa/ Đế vương mà ngỡ trò đùa/ Trẻ trâu kể
mấy đời vua suy tàn./ Cho hay thành quách, ngai vàng/ May ra còn lại mấy trang
sách nhàu!/ Có gì vĩnh cửu mãi đâu/ Bao nhiêu lăng tẩm nhuốm màu liêu hoang/ Bao
đời áo mão xênh xang/ Mấy ai xây được ngai vàng- Lòng dân”
Hơi thơ cổ, tứ hay, câu chữ chắt
lọc, phong vị trầm bi, ý nghĩa sâu sắc và giàu sức gợi. Nghe đâu, bài thơ này
có câu được các nhà bình chọn lấy để treo vào bóng thơ thả lên giời một Nguyên
tiêu nào đó ở Văn Miếu-Quốc tử giám. Trịnh Tuyên cũng lấy đó mà tự hào.
Đấy là sự ghi nhận về tính triết
lý trong thơ Trịnh Tuyên. Song cùng vì
ham triết lý mà nhiều bài thơ của ông giảm sức gợi. Thơ hay, trước tiên cần sức
gợi, rồi đến ý tứ, câu chữ, nhạc điệu... Có cả thì dĩ nhiên toàn bích rồi. Thế
nên, làm thơ, dụng công quá thường hỏng. Nhiều khi buâng quơ, viết chơi chơi lại
được. Trịnh Tuyên có những bài thơ như vậy, Ví như ờ Chiều trên bãi ngô, ông tả
cảnh đồng bãi, vô tình thấy môt em nào đó đang cắt cỏ trên bãi ngô ven sông Mã,
để rồi buông một câu kết lửng lơ: “Xin em đừng gánh cỏ về lối cũ/ Kẻo vương vào phiền muộn của
riêng anh...” thì bài thơ sống động hẳn lên, bỗng có hồn và rất gợi... Hay
đâu, những câu thơ đầy ngẫu hứng thú vị như “Biển oan, sóng mãi gầm gào/ Bao nhiêu trong đục đổ vào một tôi! “
(Em); “Lời thương/ em gửi cuối nguồn/ Lời
yêu/ em gửi cánh chuồn chuồn bay” (Nhà em): “Đường chiều mây nhẹ đường mây/ Đường tình tôi nặng những đày đọa tôi” (Chiều
quê); “Thanh minh tôi viếng mộ tôi’Mai sau biết có ai người ghé
thăm?”(Tôi
viếng mộ tôi); “Một năm lửa đỏ để dành/ Đủ
cho anh đốt cơm canh một ngày!” (Thơ ngày 8.3); “Tháng sáu thương phận cá trôi/ Đồng xa, nước ngập, bồng bơi ngả nào?.
Con rô lách ngược mưa rào/ Con ếch nồng nỗng cầu ao đợi mồi/ Tháng sáu, em hẹn
thăm tôi/ Ao sâu, nước cả, tôi ngồi câu suông!” (Tháng sáu); “Mặt trời thì ngã đằng tây/ Em thì ngã trọn
vòng tay gã khờ/ Khi em ngã ngửa vào mơ/ Là tôi ngã sấp bơ phờ tóc sương” (Ngã)
...
Những câu
thơ này, dẫu không đến mức “tuyệt diệu hảo
từ”, thì cũng không phải là những câu thơ dễ viết dễ có !... Và như thế,
tôi nghĩ, đủ có một Trịnh Tuyên-nhà thơ!...
3.
& lão chăn dê xứ Thanh,
Năm nào
cũng vậy, cứ sau tết nguyên đán, độ cuối tháng hai ta, Trịnh Tuyên lại rủ tôi
vô Thanh, còn nhắn là nhớ rủ thêm nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Nguyễn Vĩnh
Tuyền, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, họa sĩ Lã Minh Kính và nhạc sĩ Phạm Qiamg Hiển.
Chẳng là, từ nhiều năm nay, cứ vào độ này khi tiết xuân còn chưa vãn, cánh
chúng tôi thường vô xứ Thanh, dổ bộ vào nhà Trịnh Tuyên ở Cẩm Tân, Cẩm Thủy.
Nhóm văn bút xứ Thanh tụ hội ở nhà Trịnh Tuyên thường có Phạm Duy Đức, Ngô Xuân
Tiếu, Lê Văn Sự, Trọng Nghĩa, Đào Phan Toàn, Cao Nguyên Quyền, và Trương Thị Mầu,
Ma Bích từ Bá Thước xuống, cùng vài ba người khác... Đông vui, thân mật, ấm áp
tình bạn bầu văn chương.
Tôi
quen và thành thân với Trịnh Tuyên gần hai năm nay, qua mang xã hội Blog Tiếng Việt. Lúc ấy, mạng xã hội
chưa phổ biến như giờ. Nhóm vài chục blogger ở Hà Nội gặp gỡ, giao lưu với nhau
vui lắm, còn Trịnh Tuyên mãi vùng xa Cẩm Thủy xứ Thanh. Phàm dân viết, ngửi văn
nhau thấy được là chơi với nhau ngay. Và rồi, những chuyến Trịnh Tuyên ta Hà Nội
mỗi dịp Nguyên tiêu, hay những chuyên đổ bộ của chúng tôi vào xứ Thanh kết nối
và gắn bó chúng tôi.
Gặp
rồi nên thân mới thấy chơi được với Trịnh Tuyên không dễ chút nào. Ông tuổi
Nhâm Thìn (sinh 1952), cầm tình còn rồng,
mệnh Thủy-Trường lưu thủy (nươc chảy
dài), lại sống bên bờ sông Mã, nên tính cách mạnh, linh hoạt, lấn lướt,...
Thiên can Nhâm cỉa tuổi Nhân Thìn, tương hợp với Đinh, mà tôi tuổi Đinh Dậu (1957) nên Trịnh
Tuyên với tôi, anh em hiểu nhau, dễ chia sẻ, bổ trợ thành hòa hợp,...Có mấy yếu
tố làm nên tính cách con người Trịnh Tuyên, chất nam nhi xứ Thanh điển hình, cộng
cái ngất ngưởng của kẻ có chữ, pha trộn thêm sự nhanh nhậy linh hoạt của nghề cảnh
sát điều tra. Thường ra, thấu hiểu và dễ cảm thông, song khi cần, sắc lẻm phân
minh, nhất bét tới cùng, không ngại va chạm mất lòng, Tôi nhớ, trong một lần
vào xứ Thanh, tôi cảm hứng thành thơ, bài thơ Thăm bạn xứ Thanh, mang đọc lúc tiêc vui, có câu thơ “Xứ Thanh bề bộn nước non/ người
một khoảnh, đất vuông tròn một khoanh”, mọi người đều không để ý, riêng Trịnh Tuyên nhận ra ngay ý tứ.
Ông khoái, khen câu thơ ấy đã khái
quát được cả vùng đất và tính cách con người xứ Thanh,…
Trịnh Tuyên là
vậy đấy, trực tính, yêu ghét rõ ràng, Ai chơi được với ông dễ thành chí cốt. Hễ
cứ nghe Trịnh Tuyên phán về một ai đó “Hắn
chơi được lắm” thì tôi không phải ngại,
cứ yên tâm mà giao du. Chẳng thế mà, lão
chăn dê xứ Thanh quy tụ được nhiều cây bút,
bạn bè yêu văn chương trong vùng, thường xuyên gặp gỡ, đông viên, chia sẻ
cùng nhau không chỉ văn chương mà cả những vui buồn cuộc sống...
Mấy năm nay, bạn văn miền tây xứ
Thanh của ông cứ vơi dần. mấy người vân du về cõi hạc (Trọng Nghĩa, Phạm Duy Đức, Ma Bích), riêng ông vẫn thủng thẳng sớm
trà, chiều tửu, cần mẫn kể chuyện đời qua văn thơ,…
Lão vẫn còn bầy dê thả chăn trên núi
kia mà !...
Đúng vậy, vào những ngày cuối năm
2025, lão chăn dê xứ Thanh, Trinh Tuyên vừa dâng lễ vật một con dê béo ngậy
trong bầy dê của lão cho Thần Núi, ấy là cuốn tiểu thuyết mang màu sắc trinh
thám tâm linh “Cô gái trong ngôi nhà lưu giữ tro cốt” được Nhà xuất
bản Công an nhân dân ấn hành.
THÁI SINH -
“Chưa bao giờ thèm viết như lúc này…”
Đây là những dòng tâm sự nghẹn lòng của nhà văn Thái Sinh
trên giường bệnh trong thời gian ông chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, ung
thư mật giai đoạn cuối. Khi sức lực đã yếu, một lần ông để lộ sự ngã lòng viết
trên trang cá nhân: “Chưa bao giờ ta lại
thèm viết như lúc này. Đầu óc đầy ắp tư liệu, nhưng bàn tay không chịu sự điều
khiển. Muốn khóc mà không khóc được. Ông trời còn hành ta dến bao giờ?”.
Ngã lòng vậy, đương nhiên, khi một người thấy cái chết dần đến gần mình mỗi
ngày, nhưng rồi Thái Sinh lại tự vực mình dậy, khi dẫn lời bạn bè báo chí văn
chương đến thăm ông động viên: “....
Hoàng Anh bảo, Thái sinh là người không sợ trời không sợ đất thì chiến thắng bệnh
tật là chuyện bình thường” ...
Lần giở những ngày tháng Thái Sinh
giành giật với cái chết mỗi ngày khi ông gắng gượng gõ máy tính trên giường bệnh,
rút ruột gan viết những trang văn cuối đời mình, chân dung bạn bè văn nghệ sĩ từng
một thời gian khó cùng ông,...
Tôi nhớ, vào quãng giữa năm 2021, khi dịch
Covid 19 còn mù trời, Tạp chí Nhà văn
& cuộc sống (Hội Nhà văn Việt nam) phát động cuộc thi viết Chân dung cuộc sống, tôi gọi điện thông
báo và đặt bài Thái Sinh, ông hào hứng nhận lời nhưng rồi ỉu xìu ngay, bảo “Tôi đang có vấn đề về sức khỏe.... Nhưng tôi sẽ gắng,... dự thi chỉ là
một chuyện thôi, song viết được gì cũng là viết cho mình, cho anh em bạn bè nữa
...”.
Bẵng đi, rồi tôi nhận bài viết của
Thái Sinh, kèm ảnh, về nhà thơ dân tộc Pa Dí, Pờ Sảo Mìn. Tôi đọc thấy thích,
chuyển bộ phận biên tập, vào số. Ít lâu sau, tình cờ mục sở thị nhà thơ Pờ Sảo
Mìn về xuôi, ghé thăm tòa soạn, tôi gặp ông nhà thơ này, ngẫm chân dung Thái
Sinh phác họa Pờ Sảo Mìn, thấy thú vị làm sao,...
Tôi biết tên tuổi nhà văn Thái Sinh lâu
rồi, thời Thái Sinh mới về đầu quân báo Nông
nghiệp Việt Nam (NNVN), còn tôi khi ấy cũng là cộng tác viên thưòng xuyên của
tờ báo này. Rồi chạm mặt, gặp loáng thoáng vài ba lần ở Trụ sở tòa soạn trên phố
Ngô Quyền, Hà Nội mỗi dịp họp hành hay tổng kết cuối năm gì đấy. Thú thật, khi
đó tôi chưa mấy đọc văn Thái Sinh, nên không bàn chuyện văn thơ, tuy nhiên, những
bài phóng sự, ký sự về miền núi Tây Bắc của Thái Sinh gây ấn tượng tốt với tôi.
Tôi nể Thái Sinh, trước hết bởi sự dấn thân, từng trải, hiểu biết vùng đất và
con người Tây Bắc, còn bởi tính nghiêm trọng của vấn đề đặt ra, cùng thái độ,
trách nhiệm của người cầm bút. Cùng là dân làm báo chuyên nghiệp với nhau, đọc
dăm bài báo của nhau là “ngửi” ra ngay cái chất của người viết, để rồi nể
trọng hay không. Thế đấy. Và tôi thực sự nể trọng Thái Sinh với tư cách người
làm báo. Tôi có tìm hiểu thêm về Thái Sinh, qua người bạn học của tôi, nhà báo
Trịnh Bá Ninh (Phó Tổng biên tập Báo NNVN),
biết Thái Sinh từng làm việc ở Hội Văn học nghệ thuật Hoàng Liên Sơn (Lào Cai,
Yên Bái), rồi báo Lào Cai trước khi về đầu quân giữ chân thường trú Báo NNVN
khu vực Tây Bắc. Xa hơn nữa, khi còn trẻ, Thái Sinh là giáo viên lên vùng núi
Than Uyên, Lai Châu dạy học, dù quê ở Phúc Thọ, Hà Tây (cũ),...
Ngày ấy, Thái Sinh thuộc những người cầm
bút trẻ, như tôi, vả lại người viết văn chưa đông như bây giờ, nên mỗi khi ngó
thấy trên báo chí có cái tên mới là dọc kỹ, đặng thầm so sánh với mình, với người
này kẻ nọ, hoặc học lỏm của nhau,... Năm 1993, tôi xuất bản tập truyện ngắn đầu
tay “Đêm
nguyệt thực” (NXB Hà Nội,1993) vào giải cuộc thi truyện ngắn về đề tài
Hà Nội, thì Thái Sinh bắt đầu nổi lên khi giật giải Nhì cuộc thi truyện ngắn (dưới 1.000 từ) của Thế Giới Mới với truyện Thuyền Lá. Nếu không nhầm, kỳ yhi ấy
Phan Thị Vàng Anh (ái nữ của nhà thơ Chế
Lan Viên và nhà văn Vũ Thị Thường) giành giải Nhất với truyện Hoa
Muộn thì phải. Thú thật, cuộc thi ấy tôi lưỡng lự muốn dự thi, nhưng rốt
cuộc lại thôi, bởi khi ấy biết mình chưa thể viết ngắn hay. Thế nên, tôi đọc kỹ
mấy tác phẩm giải cao ấy lắm, bụng thầm nể trọng. Cái tên Thái Sinh in vào đầu
tôi từ đấy,...
Cuộc sống bận mải, tôi có thấy đâu đó
truyện củaThái Sinh trên báo, nhưng cũng ít đọc, ngoài những phóng sự, ký sự
đăng trên báo NNVN nơi ông là phóng viên thường trú, biết ông vẫn túc tắc viết
văn (truyện ngắn, tiểu thuyết) và làm thơ. Mãi đầu năm 2018, trong một đám cưới
ở Hà Nội, tình cờ, chúng tôi ngồi cùng mâm với nhau, tôi giữa Thái Sinh và nhà
văn Văn Chinh. Vài lần cụng ly câu chuyện của chúng tôi thêm phần cởi mở. Sau
cuộc gặp mặt mấy, tôi và Thái Sinh kết bạn “mạng xã hội” và kể từ đó, hai người
đọc nhau khá đều, ghi comment, thích thì chat messinger, lâu lâu lại alo buôn
chuyện này nọ. Thái Sinh có hai trang trên Facebook, một tên Thái Sinh và một tên Thao Dan Nguyen và chịu khó lên bài đều
cả hai. Điều này cho thấy ông rất tích cực sử dụng mạng xã hội và hiểu rõ công
dụng của chúng. Cùng về hưu, nhưng cả hai cùng làm thêm, Thái Sinh vẫn bám trụ
vùng Tây Bắc cho Báo NNVN, còn tôi thì làm cho VTC (Đài truyền hình kỹ thuật số), rồi trang Web và Tạp chí Nhà văn & cuộc sống của Hội Nhà văn Việt Nam. Cùng với
văn chương, chúng tôi có nhiều chuyện khác để nói . Quãng thời gian này, Thái
Sinh túc tắc đăng tải “Chuyện làng Tào” trên trang cá nhân.
Ở đó, các câu chuyện được kể bằng giọng văn châm biếm, hài hước và chúng có mối
liên hệ mật thiết với nhau, tạo nên bức tranh rất sinh động về một làng quê Bắc
bộ, đâu như làng Ngọc Tảo quê ông chẳng hạn... Đọc ông nhiều, tôi dần nhận ra
và thêm hiểu chất văn, chất người Thái Sinh,...
Khát vọng văn chương & Sự dấn
thân,
Rời quê, Ngọc Tảo. Phúc Thọ, Hà Tây
cĩ, một vùng đất trù phú đậm đặc trầm tích văn hóa đồng bằng Bắc bộ. chàng trai
trẻ Nguyễn Đình Sinh (tên thật của Thái Sinh) lên Than Uyên, Lai Châu xa tít
mù, làm nghề gõ đầu trẻ, hẳn khi ấy, chẳng bao giờ chàng trai trẻ này nghĩ có
ngày mình trở thành nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp.
Để nên một Thái Sinh, như chúng ta biết,
con người và tác phẩm, tôi nghĩ, có hai yếu tố cơ bản, khát vọng văn chương và sự dấn thân. Thái Sinh đã đi theo con đường,
cái cách mà các bậc đàn anh lớp trước đã đi, những thầy giáo miền xuôi lên vùng
cao dạy học, như Vũ Đình Minh, Bùi Nguyên Khiết, Nguyễn Thái Vận,... Dạy học,
đương nhiên là một nghề cao quý, xã hội xưa nay vẫn tôn vinh. Nếu chỉ đơn thuần
lập thân, lập nghiệp, vậy là ổn, song khát vọng văn chương (lập ngôn) lại thôi thúc tâm can. Chẳng
đành lòng và thế là thầy giáo trẻ Nguyễn Đình Sinh cầm bút. Dấn thân thôi. Nuôi
mộng văn chương, ấy là khao khát nội tâm, nhưng với Thái Sinh khi đó còn là chiếc
cầu duy nhất nối người thầy giáo trẻ miền xuôi lên miền ngược này với đời sống
xã hội bên ngoài,... Chỉ có viết văn, bằng
cách này, thầy giáo tiểu học Nguyễn Đình Sinh mon men dần sang nghiệp
văn chương, báo chí. Quả nhiên, chàng ta đạt được mục đích. Chẳng rõ, Thái Sinh
có yêu nghề gõ đầu trẻ hay không, nhưng chắc chắn không ghét nó. Chẳng qua, công
việc đó ít nhiều bó buộc chân cẳng, không thể đi xa, nên đành rời bỏ thôi. Người
ta có thể quên những truyện ngắn thuở ban đầu của cây bút trẻ Thái Sinh như “Con sáo biết nói”, “Người ngồi trước tôi hai hàng ghế”, “Rừng có nhiều hoa cúc dại”... song khó có thể quên “Thuyền lá”, cái truyện ngắn dưới một
ngàn từ đoạt giải cao một cuộc thi truyện ngắn đặc biệt, khiến độc giả biết đến
tên Thái Sinh. Thông điệp của truyện ấy thì đã rõ, cái ước mơ mong manh hão huyền
ấy thì trẻ con ai cũng từng có, nhưng chuyển hóa nó thành một hình tượng văn học
thì chẳng dễ chút nào. Vậy mà Thái Sinh đã làm được chỉ bằng ngần ấy chữ... Tôi
đã quên không hỏi ông, mà tốt nhất là không nên hỏi, rằng cái thời đương trai
gõ đầu trẻ con ở nơi thâm sơn cùng cốc Than Uyên (Lai Châu) ấy, thầy giáo Nguyễn
Đình Sinh có bày cho lũ học sinh nhãi ranh của mình chơi trò thả thuyền lá xuống
suối cùng những lời ước hay không? Rất có thể lắm chứ. Để rồi sau này, Thái
Sinh ký thác vào truyện ngắn Thuyền lá.
Mà đâu chỉ trẻ con, cả người lớn đấy chứ. Thả một con thuyền lá là gửi điều ước
cầu mong sự tốt lành, kỳ diệu, nhất là khi cònmột nỗi niềm riêng tư ẩn giấu,
nhưng thực tế cuộc sống vốn khắc nghiệt, nhiều khi ngược lại điều mình mong muốn,…
Viết truyện gửi đăng báo, gửi dự thi, Thái Sinh đã làm cái việc thả những chiếc thuyền lá mong manh, và chúng đã mang
mơ ước của chủ nhân ra tận cửa sóng để hòa vào biển cả bao la,... Hình dung này
của tôi về buổi ban đầu Thái Sinh đến với văn chương càng được củng cố thêm khi
mà mới đây tôi đọc một status của nhà văn Đỗ Bích Thúy. Ở đấy, Thúy kể câu chuyện
rất hay về thời mình bé con đi học trường bản ở vùng cao Vị Xuyên, Hà Giang, rằng
những xúc cảm văn chương đầu đời mình có được là từ một cô giáo tên Nhuần gieo
mầm,... Với Thái Sinh ngày ấy, tôi nghĩ, không chỉ gieo chữ, gieo mơ ước, khát
khao cuộc sống cho học trò mà cho cả chính bản thân mình ?!
Dấn thân, là bước tiếp theo để Thái
Sinh chuyển hẳn sang con đường báo chí, văn chương. Rời bỏ một cuộc sống tương
đối ổn định, tĩnh tại nhưng lâu ngày dễ sinh nhàm chán, chuyển hẳn sang nghiệp
viết lách, lênh phênh nay đây mai đó đầy bất trắc, ngày đó với Thái Sinh đã là
một sự dấn thân rồi. Song thú vị là cái chắc. Với một người đầy sức vóc, ham
đi, ham tìm tòi, ham viết lách như Thái Sinh, những ngày làm ở Văn nghệ ở Hoàng
Liên Sơn hẳn là những ngày tháng thoải mái nhất. Được tiếp xúc hàng ngày, cùng
ăn cùng ở, cùng những chuyến đi dài ngày với các văn nghệ sĩ có tiếng mà mình
quý trọng, ngưỡng mộ bấy nay thì thú vị lắm chứ. Nhưng rồi, đâu chỉ yên vui,
song gió cũng không ít, nhất là thời điểm chia tách tỉnh, tan đàn xẻ nghé, mỗi
người một nơi,... Những chuyện ngày ấy, bao tâm sự buồn vui dồn nén, để sau
này, Thái Sinh trút hết gan ruột vào ngòi bút khi ông khắc họa chân dung các
văn nghệ sĩ cùng ông thời gian khó, Pờ Sảo Mìn, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Lâm
Quý, Dương Soái, Ngọc Bái,... Chuyện người mà ra cả chuyện mình, thân phận
mình.
Song le, dấn thân cho văn nghệ chưa thấm
đâu nỗi cực nhọc của nghề làm báo. Để có những phóng sự điều tra, phanh phui
các vụ tiêu cực này nọ thì gian khổ cực nhọc đã đành mà còn nguy hiểm đến tính
mạng không chừng.... Tất cả những cái ấy, Thái Sinh từng trải qua hết khi chuyển
sang làm báo (Báo Lào Cai, Báo Nông nghiệp Việt Nam). Dõi theo mấy chục năm nghiệp báo của Thái
Sinh, người ta có thể thấy được nạn phá rừng, nạn buôn bán lâm thổ sản, nạn
khái thác và buôn bán trái phép khoáng sản qua biên giới đến mưc nào. Báo thôi
chưa đủ, Thái Sinh đi bằng hai chân, đưa các vấn đề nóng ấy vào tiểu thuyết của
mình. Có thể nói, mấy chục năm qua, Thái Sinh ngang dọc khắp các nẻo đường Tây
bắc, không chỗ nào vắng dấu chân ông. Dấn thân gian nan là thế nhưng gặt hái được
thành quả xứng đáng cũng bõ công sức lắm
chứ ?!...
Một Thái Sinh nặng nỗi niềm thơ
Người ta rõ ngay diện mạo một nhà
báo, nhà văn Thái Sinh mạnh mẽ, xông xáo, sắc sảo, đầy bản lĩnh và trung thực,
mà không biết hoặc quên đi một Thái Sinh cũng nặng nỗi niềm thơ,...
Quả là, tôi cũng không mấy biết về
thơ Thái Sinh, nên không lạm bàn, suy diễn. Chỉ bạn bè văn chương nghe nói, hồi
còn trẻ, khi mới chạm ngõ văn chương, Thái Sinh yêu thơ và từng là một người
biên tập thơ có hạng ở Hội văn nghệ tỉnh. Vậy thôi là để thấy Thái Sinh không hề
thờ ơ với thơ. Để ý, các cây bút văn chương xứ ta, hầu hết khởi đầu từ thơ, rồi
sau họ mới lựa chọn và theo đuổi thế mạnh riêng của mình.... Tôi tin, Thái Sinh
cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Thơ là ngôn ngữ của cõi lòng, là chiếc thuyền
chở nỗi buồn con người ta mà đôi khi còn là phép tu tâm dưỡng tính... Thế
nên, một thầy giáo trẻ miền xuôi lên mạn
ngược, tuổi tráng niên thừa sức lực và đầy khao khát lại bị bó chân trong môi
trường dạy học, như Thái Sinh, kiểu gì chàng ta cũng thả hồn vào thơ... Thơ
Thái Sinh đây: “Nỗi buồn đổ xuống giếng
khơi/ Giếng không lấp được em lôi lên bờ/ Trách cho người ấy hững hờ/ Buồn em,
em bán, bây giờ ai mua?” (Buồn).
Rất có thể, khi đã chọn văn xuôi (bút ký,
truyện ngắn, tiểu thuyết) là chủ lực, lại cộng thêm công việc làm báo bận rộn
hàng ngày, Thái Sinh tạm để thơ lắng lại nơi đáy lòng mình, chờ cơ hội mà bột
phát.
Cuộc đời nhiều đổi thay, thăng trầm,
có thời gian Thái Sinh tưởng chừng mất việc, những lúc lòng trĩu năng nỗi đau đời
như vậy, hẳn chỉ có thơ là chỗ bấu víu để vực mình dậy. Tiếc là, tôi chưa được
đọc thơ Thái Sinh những năm tháng ấy. Có điều này, chăc chắn Thái Sinh không hề
thờ ơ với thơ. Ông quan tâm đến thơ bạn bè, mặt bằng thơ nói chung. Dăm năm trước,
tôi viết về nhà thơ Vũ Đình Minh, trích nhiều thơ ông, Thái Sinh đọc bài, bị cuốn
hút bởi những bài thơ, câu thơ của Vũ Đình Minh hồi nhà thơ này còn dạy học ở
Cao Bằng. Thái Sinh ham bàn, bình luận thơ, rồi nhân đó góp chuyện kể thời mình
dạy học ở Than Uyên. Có lẽ, thơ Vũ Đình Minh đã vô tình thức dậy trong lòng
Thái Sinh ký ức quá vãng, khơi gợi cảm
xúc về một thời làm thầy giáo vùng cao của mình,...
Có một dạo, tôi đăng tải liền mấy trường
ca của tôi trên trang cá nhân. Thái Sinh đọc kỹ, tỏ ra thích thú, nhất là các
trường ca viết về miền núi là Tây Bắc thương nhớ và Đất
nước nơi đầu núi. Ông hết alo cho tôi, lại chát bảo, rất thú vị. Nếu có
chăng, ông chỉ không đồng tình mỗi chi tiết, là tôi có ý chê người vùng cao uống
quá nhiều rượu và mòn mỏi vì điều đó. Ông bảo, không phải vậy, gần năm chục năm
đi khắp mọi nẻo núi rừng Tây Bắc, từng nhiều năm ăn ở với người đồng rừng, ông
nhận thức, người miền núi họ không uống rượu mà làm bạn với rượu, họ chỉ nương
vào đó để tự vỗ về an ủi mà vượt qua cuộc sống đầy khó khăn bất trắc hàng ngày,
vậy thôi. Ngẫm ra, thấy Thái Sinh có lý. Ông cũng rất thích trường ca Con
sông tuổi thơ tôi của tôi, bởi chăng, Thái Sinh tìm thấy bóng dáng tuổi
thơ của chính mình qua trường ca này? Chưa hẳn, được Thái Sinh khen thơ mà tôi
thích ông, còn bởi tôi có thêm người hiểu, đồng cảm và chia sẻ cùng mình. Là
người trực tính, ưa nói thật, một khi Thái Sinh đã khen là thực lòng, bởi
chưng, ông chẳng cần và không quen thói xã giao lấy lòng ai bao giờ ,...
Quãng năm 2021, khi phát bệnh và biết
mình mang trọng bệnh, bằng linh cảm,
Thái Sinh ý thức được thời gian sống hữu hạn của mình, chữa bệnh đấy nhưng ông
bắt đầu tăng tốc. Với ông, lúc này, viết được cái gì kịp cái ấy... Ở vào thời
điểm ấy, Thái Sinh đã ý thức về nơi an nghỉ vĩnh viễn của mình. Đêm 06.9.2021,
ông viết bài thơ Nếu: “Nếu ngày mai tôi từ
giã cỗi trần/ hãy chôn tôi bên mẹ mình trên quê cha đất tổ/ Nơi cái núm rốn của
tôi mẹ chôn dưới gốc khế, gốc đa/ Cuộc đời bể dâu gốc khế, gốc đa cũng không
còn nữa/ Cái núm rốn của tôi đã hóa đất lâu rồi/ Muốn tìm lại tôi cái thời trèo
me trèo sấu/ Đã hóa thành mái tóc phôi pha/ Nay tôi đã già lại muốn về nằm bên
mẹ/ Để nghe mẹ kể chuyện ngày xửa ngày xưa... Mẹ dặn chúng tôi- sống gửi thác về/
Sống nhân nghĩa đừng làm điều ác/ Tôi đã sống như điều mẹ dặn/ Nếu tôi mất muốn
về với mẹ/ Tôi là con của mẹ, mẹ ơi”. Giờ thì ông được toại nguyện, về bên
mẹ mình.
Khi sức lực đã yếu, Thái Sinh vẫn gắng
gượng. Khi Tạp chí Nhà văn & cuộc sống in bài viết của Thái Sinh về nhà
thơ Pừ Sảo Mìn, tôi chụp ảnh bài viết gửi cho Thái Sinh qua Messinger, hôm sau
đọc trang cá nhân của ông, Thái Sinh viết: “Hôm
qua đang nằm thở vì quá mệt do bệnh tật hoành hành, thì nhận được bài viết của
mình đăng trên Tạp chí hà văn & cuộc sống viết về Pờ Sảo Mìn. Đã hứa với
Chunhac Nguyen (Nguyễn Chu Nhạc) sẽ viết về những nhà văn mình từng sống và làm
việc cùng; Nguyễn Ngọc Bái, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Dương Soái,... Đêm qua, đã
hình thành bài viết về Lò Ngân Sủn với nhiều chi tiết rất đời của nghệ sĩ nhưng
ốm quá lại không mang máy tính, đành cất trong đầu. Về già thường hay nhớ về bạn
bè, những người còn sống và những người đã mất”. Thật thương và nghẹn lòng
làm sao. Lúc muốn được viết nhất thì Ông Giời lại chẳng cho. Nghẹn lòng hơn,
lúc Thái Sinh bất lực, dùng phép thắng lợi tinh thần, ông đã cầu xin làm người
quét đền các Vua Hùng: “Con tên là Nguyễn
Đình Sinh (Thái Sinh) .... xin các Vua Hùng cho làm người quét đền...”
May mà, Thái Sinh còn kịp để lại đôi
ba chân dung văn nghệ sĩ bạn bè một thời !...
Tôi tin, cùng với “Thuyền
lá” và một số sáng tác khác, các chân dung văn nghệ sĩ anh em bạn bè mà
Thái Sinh kịp phác thảo trước khi ông rời cõi tạm, sẽ là những chiếc đinh ghim
văn chương của ông lại với cuộc đời này !...
VĂN CAO
mùa bình thường,...
Văn Cao là một người tài hoa.
Gọi ông là nhạc
sĩ, thi sĩ hay họa sĩ đều được.
Song tôi nghĩ,
gọi ông là nhạc sĩ, chuẩn hơn cả, bởi đó là điểm khởi đầu và cũng là lĩnh vực
ông bộc lộ tài năng nhất và cũng thành công nhất. Nhưng hãy khoan bàn về điều
này, để phác họa mấy nét về con người Văn Cao qua ấn tượng của tôi sau hai lần
gặp mặt ông,...
1.
Lần đầu,
ấy là vào mùa thu năm 1994, cách nay hơn ba mươi năm, dịp kỷ niệm 40 năm tiếp
quản thủ đô Hà Nội. Khi ấy, tôi đang là phóng viên của chương trinh Tạp chí truyền thanh Đài Tiếng nói Việt
Nam (VOV). Chúng tôi làm chương trình đặc biệt với thời lượng phát sóng 45
phút. Không thể không gặp gỡ hỏi chuyện
Văn Cao về cảm hứng sáng tác ca khúc Tiến
vè Hà Nội. Điện thoại trước đến nhà ông và được ông đồng ý cho cái hẹn.
Đúng hẹn, tôi và nhà báo Trần Nhật Minh mang máy ghi âm đến nhà riêng của Văn Cao
ở phố Yết Kiêu. Ông và vợ, bà Thúy Băng đợi chúng tôi ở phòng khách. Văn Cao
ngồi trên chiếc ghế mây thấp chân, mặt hướng vào cây đàn piano, trên bàn là một
chén rượu nhỏ. Khi chúng tôi tự giới thiệu và đặt yêu cầu, Văn Cao chậm rãi vẻ
am tường “Mình đồng ý, nhưng mà hẵng từ
từ...” Ông khẽ nheo mắt hóm hỉnh: “Mình
biết, các bạn thường thu rất nhiều, nhưng khi phát sóng chỉ trích một chút
thôi... Mình cứ kể, dùng thế nào là tùy hai bạn trẻ nhé...” Văn Cao cười
nhẹ ra chiều thông cảm, chiêu một hớp rượu, trầm ngâm, cái nhìn xa xăm: “Đây là bài ca tôi hái lượm được trong
chuyến đi thực tế ở khu 3. Tiến về Hà Nội được sáng tác từ năm 1949, mà
mãi năm 1954 ta mới tiếp quản Thủ đô... Ngày ấy, chúng tôi sinh hoạt văn nghệ,
vẽ tranh là chính. Làm xong tranh thì có lệnh vào Tết năm 1949, và điều ấy gây
nên sự hào hứng khác thường trong lúc mình đang nhớ Hà Nội da diết. Lúc đó, chúng
tôi đang ở chợ Đại (Nam Hà), đêm đêm nhìn về, thấy quầng sáng hắt lên từ Hà
Nội, nhớ lắm. Những người kháng chiến ra đi tháng rộng năm dài... Mỗi khi tụ
nhau thường nghĩ tới Hà Nội, bàn về Hà Nội, thế nên mới có câu thơ của Quang
Dũng: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm... Tuy mới nghe nói chuẩn bị tổng phản công,
mà lòng ai cũng nghĩ tổng phản công đến nơi rồi. Anh Chu Hà, Tổng biên tập báo
Thủ đô cho gọi tôi họp cùng với anh em trong nội thành để nhận nhiệm vụ mới.
Riêng điều đó cũng đủ làm sôi lửa. Anh em ở Tòa báo bảo tôi nên làm ngay một
bài hát về tổng phản công. Tôi viết bài hát đó, thể hiện cái không khí hào hùng
của Thủ đô, của chung dân tộc, mà có chút mộng mơ của riêng mình. Hồi đó mộng
mơ lắm... Chưa có Không quân đã nghĩ tới Không quân, chưa có Hải quân cũng đã
nghĩ đến Hải quân... Có ai dám nghĩ rằng bài hát cho Tổng Liên đoàn thành bài
ca của công nhân, bài Chiến sĩ Việt Nam lại có tác dụng như tiếng kèn xung
trận... và dường như, những điều ấy luôn ẩn chứa ở người nghệ sĩ cách mạng
trong sự sáng tạo của mình, nên thế, bài hát viết từ năm 1949 nhưng 5 năm sau
khi tiếp quản Thủ đô, tình hình giống như mình đã viết...” – Văn Cao lặng
đi, thân hình khô gày, cớm nắng của ông lút đi trong chiếc ghế mây thấp chân,
rồi ông chậm rãi như nói với chính mình, như thể không có ai đang ở bên cạnh
ông: “Nếu viết những lời thơ mộng mà nói
cảnh quân ta tiến về Hà Nội thì nhẹ nhàng quá... Hà Nội mình như một đài hoa mở
ra năm cánh mà sương nhỏ vào từng cánh. Đoàn quân ấy trở về nhìn Hà Nội với con
mắt như vậy... Và đoàn quân ấy sẽ ươm lại những vườn hoa đẹp cho Hà Nội sau
này...”.
Rồi Văn Cao còn kể về ấn tượng mạnh trong ông khi Hà
Nội kỷ niệm 30 năm ngày tiếp quản Thủ đô 10/10, đó là năm 1984. Khi ấy, ông
đang ở Thái Bình. Hôm ấy, Đài Tiếng nói Việt Nam có phát bài hát Tiến về Hà Nội, ông nghe mà hình dung ra
cảnh đoàn người đi quanh Hồ Gươm và hát vang bài hát đó. Ông bảo, ông biết có
một nhạc sĩ ở châu Âu xưa được người ta kể lại rằng khi chơi bản nhạc của ông
thì cả thành phố đều nhảy, gọi là Tout la
ville dance, nên khi mường tượng như vậy, Văn Cao đã gọi bài hát của mình
là Tout la ville chante, nghĩa là bài
hát cả thành phố đều hát
Ấn tượng của tôi về ông là cây đàn piano kê áp ngay
của sổ nhìn xuống phố ngách bên, tường treo mấy bức ảnh và tranh chữ, cái dáng
còng còng, thân hình gày guộc, gương mặt đầy nếp nhăn, mái tóc xòa bạc phơ.
Vì chúng tôi dùng máy ghi âm chuyên dụng
ghi lại để phát sóng nên sau đó tôi đã rải băng, chỉ cắt bỏ những chỗ ông ậm ừ
nên có văn bản ông nói về quá trình sáng tác ca khúc Tiến về Hà Nội.
Trong bài viết này, tôi đưa lại nội dung văn bản lưu lại, nhằm cung cấp cho bạn
đọc, những ai còn chưa biết, thêm thông tin về ca khúc đó của Văn Cao.
Hôm ấy, Văn Cao còn đưa tôi xem và ký tặng tôi một bài
thơ ông mới làm, bài “Tôi ở“,
và poster ca khúc Suối Mơ của ông với bút tích đề tặng.
Tôi vẫn giữ chúng và coi như một kỷ vật về người nghệ sĩ tài hoa ... Tôi chép
lại bài thơ này của ông ra đây: “Tôi ở/
Một căn nhà bên đầu ngọn suối/ Chỗ nước rỏ ra chính nơi tích tụ/ Và hình thành con suối./ Những mùa thay lá/ Những mùa cảm xúc/ Rừng vẫn
bao dung với bóng lá trên đầu,/ Tôi
sống/ Nhìn những chiếc lá trôi theo
dòng nước/ Đến mùa gió Nam thổi/ Tôi lại đi theo những chiếc lá/ Phiêu du/ Tới bao giờ tôi gặp được biển. (Hà Nội, tháng Tám 1994)”.
Sau này, có ý kiến cho rằng, rất có thể, bài thơ này
là bài thơ cuối cùng của Văn Cao, bởi đến khi ông mất vào năm 1995, không thấy
ông công bố thêm bài thơ nào nữa. Không rõ trong di cảo của Văn Cao còn bài thơ
nào ông sáng tác sau bài thơ “Tôi ở” nữa hay không?
2.
Sau lần gặp ấy không lâu, tôi được gặp ông lần nữa.
Khi ấy nhà thơ Trần Đăng Khoa đã tốt nghiệp trường Gorky ở Nga, về đầu quân ở
Văn nghệ Quân đội. Tôi hay ghé vào số 4 Lý Nam Đế thăm Khoa. Nhân một lần
chuyên gẫu giữa các nhà văn nhà thơ ở Nhà số 4 với nhau, có nhắc đến Văn Cao,
Khoa bày tỏ muốn gặp Văn Cao, nhờ tôi liên hệ giúp. Gọi điện đến nhà Văn Cao,
biết Trần Đăng Khoa muốn đến thăm, ông đồng ý ngay, còn đùa: “Tôi cũng muốn
gặp cậu ấy… xem mặt mũi sáng sủa thế nào… độ này thơ phú ra sao?”.
Theo hẹn, tôi đưa Trần Đăng Khoa đến gặp Văn Cao, Hai
con người tài năng, một già một trẻ ấy, lần đầu gặp nhau, chuyện vãn cả buổi
sáng. Tôi thành người chầu rìa, hóng chuyện, vô tình là nhân chứng câu chuyện
giữa hai nhân tài đất Việt. Văn Cao hỏi Trần Đăng Khoa về việc học hành ở nước
ngoài, về thi ca... Phần mình, Khoa đưa ra những nhận xét rất tinh về ca khúc
của Văn Cao. Thoáng chốc mà đã hết cả buổi. Tôi không thể nhớ hết, hai nhân tài
ấy đã nói qua lại với nhau những gì. Thâm tâm, tôi nghĩ, hai con người tài năng
ấy tuy thuộc về hai thời kỳ khác nhau, song hình như họ có điểm chung, ấy là
tài năng âm nhạc và thi ca bẩm sinh trong người, và nó chỉ được phát lộ, thăng
hoa nhờ thời đại, nhờ lịch sử đấu tranh giành tự do độc lập của dân tộc, mà ở
đó, thân phận mỗi người dân cần lao hiện rõ trong hành trình đầy gian khổ hy
sinh… kích hoạt mà thành !... Qua cuộc chuyện trò, tôi thấu hiểu tấm lòng Văn
Cao, cũng là tấm lòng của người trí thức một lòng đi theo cách mạng đầy nhiệt
huyết vì lý tưởng và sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc. Cũng chính vì lẽ đó,
mà bài hát Tiến quân ca của ông đã
được chọn làm Quốc ca, và bài hát Tiến về Hà Nội, cùng nhiều bài hát khác
do ông sáng tác trở thành bài ca cách mạng, mà đến nay, tuy ông không còn nữa,
những bài ca ấy vẫn tồn tại và được nhiều người yêu thích!...
Hôm ấy, Văn Cao và Trần Đăng Khoa còn nói nhiều về thơ
và hội hoạ. Ra về, Khoa bảo, Văn Cao là
người đa tài, âm nhạc, thơ ca và hội hoạ, gì cũng thạo, nhưng nổi bật và thành
công hơn cả là âm nhạc. Có thể nói, trong nền âm nhạc Việt Nam hiện đại, Văn
Cao là nhạc sĩ tài năng hàng đầu,… Riêng về thơ, Văn Cao viết ít, khá chắt lọc,
nhưng có thể nói, ông thuộc diện đầu tiên cách tân thơ bằng những câu thơ không
vần, giàu ý tưởng,… Ngay từ năm 1956, với trường ca Văn Cao viết về Hải Phòng
-“Những người ra đi từ cửa biển”, ông đã được nhìn nhận là người sớm
cách tân thơ bằng lối thơ không vần nhưng giàu hình ảnh và âm điêu, đủ thấy ông
chủ trương trình diện một lối thơ riêng, để sau này có một Văn Cao – thơ, khác
người.
Tôi cơ bản đồng ý với nhận định của Trần Đăng Khoa về
Văn Cao. Tôi nghĩ, sự nghiệp của Văn Cao là âm nhạc. Ở lĩnh vực này, ông thực
sự tài năng, được khẳng định. Còn thơ ca và hội họa của ông, là cái cách ông “thi
hóa” và “hình hóa” âm nhạc của ông mà thôi.
Trước hết vê âm nhạc, các ca khúc “Buồn tàn thu”,
“Cung đàn xưa”, “Đàn chim Việt”, “Đống đa”, “Bạch Đằng
giang”, “Thăng Long hành khúc”, “Suối mơ”, “Thiên thai”.
“Trương Chi”, “Thu cô lieu”… đã sớm làm nên tên tuổi Văn Cao. Đặc
biệt những các khúc cách mạng và kháng chiến càng làm cho Văn Cao nổi bật, như
“Tiến quân ca” (sau là Quốc ca Việt Nam), “Bắc Sơn”, “Ca ngợi
Hồ Chủ tịch”, “Chiến sĩ Việt Nam”, “Làng tôi”, “Ngày mùa”,
“ Sông Lô”, “Tiến về Hà Nội”, v.v… và sau này là “Mùa xuân đầu
tiên”. Tài năng và nổi tiếng như vậy, có những đóng góp lớn cho âm nhạc
Việt Nam thời tiền chiến và cả trong cách mạng cùng kháng chiến chống thực dân
Pháp nhưng Văn Cao lại bị xem là gặp vấn đề về tư tưởng khiến sự nghiệp âm nhạc
của ông khựng lại,…
Có lẽ vậy, sự thăng hoa về âm nhạc của Văn Cao có cơ
hội chuyển dần sang thơ và họa. Tôi nghĩ, sáng tác thơ và họa của ông cũng khác
người. Thực ra, Văn Cao làm thơ như ông viết lời cho ca khúc vậy. Trong số các
nhạc sĩ sáng tác nhạc mới ở ta thì Văn Cao và Trịnh Công Sơn là hai trong số ít
người không phổ thơ người khác mà tự viết lời cho ca khúc của mình. Nhiều ca
khúc của họ, nếu bóc tách riêng rẽ phần lời, có thể đứng vững thành nột bài
thơ. Thế nên, đọc thơ Văn Cao, tuy không vần nhưng giàu âm điệu. Còn hội họa,
tôi không được xem tranh màu nước hay sơn dầu của ông nên không dám bàn, nhưng
để ý, các ký họa, phác thảo minh họa cho báo, tôi nhận thấy ông phác họa đấy
nhưng không đơn thuần cho nội dung câu chuyện cần minh họa, mà phóng
bút theo cảm hứng từ sự liên tưởng của mình là chính. Ấy cũng là khác
người rồi.
Trở lại với thơ. Trước hết, với tư cách người làm thơ,
Văn Cao là một trong những nhà thơ tiên phong về thơ không vần. Tuy nhiên, là
nhạc sĩ tự viết lời cho ca khúc của mình nên ông làm thơ không mấy khác việc
làm lời cho ca khúc. Thơ không vần của Văn Cao giàu hình ảnh và nhạc điệu nên
vô hình chung có bản sắc riêng. Cứ xem lời các ca khúc của ông, nhất là giai
đoạn đầu đến với tân nhạc và thời tiền chiến, bóc tách lời mỗi ca khúc của ông,
đều thành thơ cả. Văn Cao đã quen thế, nên giai đoạn sau, cả thời kháng chiến,
thơ với nhạc quấn quện với nhau như hình với bóng. Hãy đọc lời các ca khúc “Làng
tôi”, “Ngày mùa” và trường ca “Sông Lô”… lời đẹp như thơ,
đúng hơn là thơ. Nhân đây, tôi muốn so sánh đôi chút với “Bên kia sông
Đuống” của Hoàng Cầm; cùng trường ca viết về kháng chiến chống Pháp,
nhưng lời thơ Hoàng Cầm êm dịu ru rín, làm duyên làm dáng như liền anh liền chị
quan họ hát giao duyên, còn “Sông Lô” của Văn Cao, tách riêng
phần lời với tư cách như một trường ca thơ, thì ngổn ngang những cảnh huống, nỗi
đời và chất chứa các cung bậc cảm xúc….
Mang đối chiếu với nhau cứ như âm bản và dương bản vậy. Cho tôi được
chọn, thì tôi chọn dương bản của Văn Cao. Những năm ông bị nạn “về tư tưởng”,
mất đi cảm hứng sáng tác âm nhạc thì thơ là chốn để ông ký thác tâm tư, như một
sự cứu rỗi tâm hồn mình. Vậy nên, cũng không có gì lạ cả khi Văn Cao thăng hoa
về thi họa.
Hơn một lần, tôi nghe nhà thơ Trần Đăng Khoa khen ca
khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao. Thực ra, về chất liệu âm nhạc, ca
khúc này chẳng có gì mới hơn, hay hơn nhiều ca khúc khác của Văn Cao, song về ý
tưởng lời ca khúc thì khác người đấy. Ca khúc được sáng tác sau giải phóng miền
Nam thống nhất đất nước năm 1975. Vậy mà mười năm sau, ca khúc này mới được phổ
biến, phát sóng. Vậy thì phải có lý do riêng của nó. Phải chăng, trong khi mọi người, từ lãnh
đạo đến người dân bình thường, nhất là các văn nghệ sĩ bằng các tác phẩm nghệ
thuật của mình ở tất cả các loại hình thi ca nhạc họa, sân khấu điện ảnh đều dùng
các mỹ từ ngợi ca thì Văn Cao lại gọi là
“mùa bình thường”. Vĩ đại, rực sáng là thế mà lại chỉ bình thường thì
nhất định không được rồì? Song vậy mới là Văn Cao. Hãy nghe ông lý giải qua lời
ca khúc :”Rồi dập dìu mùa xuân theo én về, mùa bình thường mùa vui nay đã
về, mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên với khói bay trên song, gà đang gáy
trưa bên sông, một trưa nắng vui cho bao tâm hồn,… một cuộc đời êm ấm, từ đây
người biết quê người, từ đây người biết thương người, từ đây biết yêu người…”
Thực tình, tôi muốn nêu trọn vẹn lời ca khúc ra đây để thấy rõ cái tài Văn Cao
khi ông viết lời thơ cho ca khúc này của mình… Thiên nhiên muôn đời là vậy, vô
tư luân chuyển các mùa với bao cảnh sắc theo đó, ấy là cái lẽ của mùa bình
thường. Song le, Nguyễn Du bảo “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”,
cảnh buồn hay vui là từ lòng người ma ra cả đấy, nên cái mùa xuân đầu tiên ấy,
là lòng người vui nên nhìn thiên nhiên cũng thấy cảnh sắc, vạn vật vui theo con
người… Cần chi phải dùng những mỹ từ, những từ ngữ đao to búa lớn để diễn đạt
cái phấn khích của con người đâu. Mùa xuân đàu tiên ấy, với Văn Cao, cả lời thơ
và âm nhạc nhất quán, quấn quện, dặt dìu như cánh én xuân, ngôn ngữ bình dị để
nói cái vĩ đại, cái khác thường, nói như không ấy mới là tài chứ. Dĩ nhiên, với
những ai đó thích nói năng to tát là việc của họ, còn Văn Cao là vậy, nhỏ nhẹ
khoan hòa là cái “tạng” mà cũng là cái “tài” của riêng ông, làm nên khí chất
con người ông chăng!? Còn như ai đó, không hiểu hoặc hiểu sai ông là lỗi của
họ… Chứ ông, một con người nhỏ thó, hiền hòa, giản dị, dễ gần như tôi thấy, lại
giàu cảm hứng sáng tạo nghệ thuật như ông thì làm gì nên tội?...
Có một chi tiết nhỏ, mấy lần đến nhà Văn Cao, chẳng rõ
nếp sinh hoạt hàng ngày thế nào, để ý, ngay cả khi tiếp khách, ông chỉ ngậm kẹo
và thi thoảng nhấp ngụm rượu suông. Lần đầu tôi đến phỏng vấn Văn Cao, ông có
hỏi quê tôi ở đâu, tôi bảo quê ở Văn Lâm, Hưng Yên, và để dễ hình dung, tôi nới
gần ga Lạc Đạo, ông à một tiếng rồi
thủng thẳng khen: “Này, rượu Lạc Đạo quê nhà em là ngon lắm đấy…”. Tôi phấn khởi vâng dạ
vì ông nhắc đến đặc sản vùng quê mình. Song tôi thật đoảng, vì lần sau đưa nhà
thơ Trần Đăng Khoa đến thăm ông, đã quên không thủ theo một chai rượu Lạc Đạo
nút lá chuối khô chính hiệu để biếu ông nếm thử. Giờ nghĩ lại cứ ân hận làm
sao!
Vậy là nhạc họa thi ca đã xong cả rồi ạ, chỉ xin khất
ông chai rượu Lạc Đạo nữa mà thôi!...
VŨ THƯ HIÊN
Đi thật xa để về gần
Năm 2024, nhà
văn Vũ Thư Hiên đến chơi toà soạn Tạp chí Nhà văn & cuộc sống
ở trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, số 9 phố Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội. Ông đi cùng
con gái, chị Lan, có sự trợ giúp của hoạ sĩ-nhà văn Lê Thanh Minh. Ở tuổi ngoại
chín mươi, chân ông yếu, nhiều khi phải ngồi xe lăn, nhờ có thang máy nên ông vẫn
lên được phòng biên tập ở mãi tầng 5. Vũ Thư Hiên ngồi đấy, sơ mi màu trứng sáo
xơ-vin quần âu trắng, nụ cười nhẹ với gương mặt trắng trẻo đầy vẻ thư nhàn hiền
lành, khác hẳn với con người ông gần 30 năm trước tôi tình cờ gặp ông lần đầu ở
Paris tại nhà riêng của nhà văn-lính thợ Đặng Văn Long, một Việt kiều định cư ở
Cộng hoà Pháp.
Thực ra, đây
là lần thứ hai tôi viết về nhà văn Vũ Thư Hiên, nhưng lần trước ông chỉ là nhân
vật phụ trong câu chuyện tôi viết về nhân vật chính, nhà văn Đặng Văn Long, một
cựu lính thợ (ONS), tác giả của hai cuốn sách, cuốn đầu là “Lính thợ ONS”
được xuất bản trước đó ở Việt Nam và cuốn sau về người Việt Nam ở Pháp dày cỡ
500 trang in. Tình cờ gặp nên Vũ Thư Hiên chỉ xuất hiện thấp thoáng thêm phần đậm
đà cho bài viết “Có một người văn Việt ở Paris” của tôi.
Chuyện là, cuối
thu đầu đông năm 1996, tôi cùng mấy đồng nghiệp ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV)
có học bổng dự một khoá đào tạo báo chí phát thanh hiện đại ở Paris. Cuối khoá,
nhóm chúng tôi thực hiện một chương trình báo cáo. Chúng tôi chọn đề tài về người
Việt ở Pháp, qua sự giới thiệu, liên hệ với nhà văn Đặng Văn Long. Đúng hẹn, Đặng
Văn Long đón chúng tôi ở nhà tiêng của ông, một căn hộ rộng trên tầng 7 chung
cư ở ngoại ô Paris. Chuyện trò, phỏng vấn xong xuôi, ông giữ chúng tôi ở lại dùng
bữa trưa, nấu theo kiểu cơm Việt mà ông đã nhờ người chuẩn bị. Ông Long bảo, chờ
thêm một thực khách người Việt, chắc mấy bạn Việt Nam sẽ biết người ấy là ai.
Người thực khách ấy đến, ông Long giới thiệu, nhà văn Vũ Thư Hiên, mới đến Pháp
ít lâu và dự định sống lâu dài ở Pháp. Tôi biết tên tuổi ông, chuyện ông từng bị
họa tù đày cũng chỉ nghe sơ, không mấy rõ, nhưng cuốn sách “Miền thơ ấu”
của ông thì tôi đã đọc vài lần và rất thích. Bữa cơm đông người, chuyện này nọ
đủ thứ, ẩm thực Việt, ẩm thực Tây, chuyện văn chương, đời sống xã hội, dĩ nhiên
có cả chuyện Vũ Thư Hiện bị giam giữ tù đày. Ông nói là chính, ông Long chỉ đỡ
lời, còn chúng tôi nghe hóng, có phần e ngại và cảnh giác nên ầm ừ cho qua chuyện
mà thôi. Khi ấy, ông mới ngoài năm mươi, gương mặt sạm đi, khômg mấy thiện cảm
và có gì đó u uẩn, sường sượng của một người trốn chạy khỏi quê hương, đất nước
của mình dù bất cứ lý do gì. Giọng nói, ngôn từ, kiểu cách không bình thường,
như thanh minh lại pha chút oán hận… Dĩ nhên là thế, ở hoàn cảnh cụ thể của ông
khi ấy, cũng không có gì là lạ.
Tôi mang theo mấy cuốn sách, có tập
truyện ngắn thứ hai của tôi mới xuất bản ở Việt Nam, ký tặng ông Long và ông
Hiên. Ông Long bảo quý quá, thèm đọc sách Việt để biết văn chương nước nhà. Còn
ông Hiên hứa, sẽ đọc cẩn thận và nhận xét sau khi đọc xong. Ông lấy số điện thoại
nơi chúng tôi thuê ở. Chia tay hai ông, chúng tôi về trước, ông Hiên ở lại thế
nào thì không rõ. Tưởng ông Hiên nói chơi, nhưng chừng ngót tuần sau, tối muộn,
ông Hiên gọi điện tới, bảo ông đã đọc hết tập truyện của tôi, các chuyện nói
chung là được, nhưng chỉ ở mức trên trung bình, riệng truyện “Biển của một
thời” thi ông khen hay. Ông Hiên còn nhấn nhá “Truyên này hay. Chả
kém gì Tây đâu. Truyện hay của Tây viếtcũng đến thế thôi”. Tôi nghe mà mừng.
Được một nhà văn thuộc hang tầm cỡ như Vũ Thư Hiên khen, thật không phải dễ. Tưởng
vậy thôi. Trước lúc kết thúc khoá học về nước, chúng tôi lại tình cờ gặp ông
Hiên trong lúc chờ metro. Lần này đi cùng ông có một bóng hồng. Chuyện vội mấy
câu xã giao để rồi ai đi đường nấy. Chúng tôi lên tàu trước, để lại ông ở sân
ga cùng bóng hống của ông,… Tàu chạy, tôi cứ mường tượng và nghĩ ngợi, hẳn cuộc
sống của ông Hiên sẽ không dễ dàng đâu mặc dù Pháp và phương Tây nói chung vốn
nổi tiếng là vùng đất của tự do dân chủ như họ tự nhận vậy. Chăn nào mà chả có
rận,…
Vâng, giờ thì ông ngồi đây, vẻ thanh
nhàn, thư thái và tự tin nữa. Thì có gì mà không tự tin, tưởng chẳng thể về nước
được, nhưng rồi nay về nước, vào Nam ra Bắc, đi lại thoải mái, gặp gỡ ngươi
này, tiếp xuc chốn nọ, có sao đâu, có ai làm gì đâu. Mà đến nơi nào cũng được
người thân, anh em, bạn bè văn chương đón tiếp chu đáo, ấm áp tình người… Thì
đã ngót ba chuc năm trôi qua, kể từ khi tôi gặp ông lần đầu ấy, đất nước thay đổi
nhiều lắm, tương quan thế giới thay đổi từng ngày và hẳn chính ông cũng đã thay
đổi không ít, suy ngẫm, tâm thế, cách nhìn nhận, đánh giá, từ những buồn vui cuộc
đời mình đã trải?... Các nước từng gây hấn với mình, bao chết chóc đau thương,
ngần ấy năm (như chính Pháp và Mỹ sau đó), giờ còn hòa giải, hòa hợp, rồi
đối tác toàn diên với nhau nữa là, thì có gì mà mình lại không “hòa giải” được
với quê hương mình. Thực ra, có gì cần hòa giải đâu, là mình tự hòa giải với chính
lòng mình đấy chứ? Là mình chối bỏ đất nước mà ra đi, đương nhiên vì lý do này
nọ, chứ quê hương đất nước có chối bỏ mình đâu…
Vậy nên, giờ thì tôi muốn nhìn nhận
về văn chương của Vũ Thư Hiên, hay đúng ra về riêng tác phẩm văn học của ông, sự
đóng góp của ông cho văn học Việt Nam hiện đại. Thực ra, cũng không nhiều nhặn
gì cho lắm, song lại ấn tượng. Tác phẩm “Miền thơ ấu” của Vũ Thư
HIên đã được ghi nhận bằng tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và được bạn đọc
yêu thích, thật không có gì bàn cãi. Cùng với đó, ông có một số truyện ngắn và
bút ky, tản văn. Nhìn chung, văn của ông đẹp, dượm chất trữ tình, vì thế ông rất
thành công khi dịch văn chương Nga-Xô viết, đặc biệt là tác phẩm “Bông hồng
vàng” của K. Paustovsky với bút danh Kim Ân. Chúng ta đều biết, K.
Paustovsky, nhà văn Nga nổi tiếng ở thể loại truyện ngắn, tản văn, chân dung
văn học giàu chất trữ tình qua bộ ba tác phẩm Bông hồng vàng – Một mình với
mùa thu – Bình minh mưa từng làm hàng triệu trái tim Việt thổn thức,
thì công đầu thuộc về dịch giả Kim Ân (bút danh của Vũ Thư Hiên) với tác phẩm Bông hồng vàng.
Mang vẻ đẹp văn chương cua K. Paustovsky vào Việt Nam còn nhờ các dịch giả khác
nữa, song bản dịch của Vũ Thư Hiên như một tiền đề mẫu mực phô diễn vẻ đẹp văn
chương của nhà văn này,… Giờ hễ nói đến K. Paustovsky, dù các dịch giả Cao Xuân
Hạo, Phan Hồng Giang dịch cũng rất hay, nhưng người ta không thể không nói đến
Vũ Thư Hiên. Ơn giời, Vũ Thư Hiên được hưởng lộc từ ông nhà văn Nga- Xô viết
này. Dĩ nhiên, Vũ Thư Hiên phải là người có tài, giỏi tiếng người đã đành, còn
phải giỏi tiếng ta, thì mới bắt được cái thần của người ta mang về xứ mình
không những nguyên vẹn mà còn tô điểm thêm. Giờ đây, những truyện như Lẵng
quả thông, Người đầu bếp già, Chuyến xe đêm, Tuyết… trở
thành bất hủ, mẫu mực về thể loại chân dung văn học cho các cây bút ở xứ mình,…
Hơn ba chục năm bôn ba ở nước
ngoài, niềm mong ước được hồi hương của Vũ Thư Hiên rốt cuộc cũng thành hiện thực
cùng biết bao băn khoăn phấp phỏng. Năm 2024, Vũ Thư Hiên về Việt Nam, vào Nam
ra Bắc, đi đây đó, rộng mở và yên bình. Có ai làm gì ông đâu, không những thế,
đi đến dâu ông cũng được người thân, bạn hữu, dân văn chương, bạn đọc từng yêu
mến văn ông đón tiếp cởi mở, nhiệt thành, chu đáo, ấm áp. Thực tế vậy, hẳn ông cảm
nhận được và không lo lắng bị giám sát gì nhỉ. Của đáng tội, theo cách nói dân
gian, một ông già cửu tuần, ngồi xe lăn, đến độ sức cùng lực kiêt rồi, mong cụ
sống yên lành bên con cháu, viết thêm được gì thì viết, cũng tốt, chứ người ta
cũng bận rộn lắm, bao nhiêu việc phải làm, chứ,… Là tôi cứ nghĩ thế.
Hôm nhà văn Vũ
Thư Hiên đến toà soạn chúng tôi, thử trí nhớ của ông, tôi gợi chuyện cũ, rằng
mùa đông năm 1996, tôi từng gặp ông ở Paris tại nhà riêng của ông nhà văn-lính
thợ ONS Đặng Văn Long… Ông nheo mắt, lặng
yên một chút, lặp đi lặp lại mỗi câu “Anh Long ấy… Anh Long tốt. Tốt lắm”.
Dáng vẻ, hình như ông đã quên, lại cũng có thể, ông nhớ nhưng như muốn quên đi
tất cả,…? Ngày ấy, ông mới rời bỏ đất nước, trốn chạy hay ra đi, chỉ ;à cách
nói, là vì con người ứng xử với nhau mà sinh lòng khác, chứ đâu phải vì quê
hương chối bỏ mình,… ? Thời gian xoa dịu tất cả, trải đời, hiểu người, hiểu
mình, biết thiên hạ rộng lớn là thế nhưng đâu dễ tìm chỗ dung thân, biết quê
hương dẫu không lớn song lúc nào cũng đủ chỗ để cưu mang và bao dung mình… Với
nhà văn Vũ Thư Hiên, đi thật xa để về gần, là thế,…?!
Năm 2024, sau
hôm đến thăm Hội Nhà văn Việt Nam, rồi nữa, thăm toà soạn Tạp chí Nhà văn
& cuộc sống, đều được đón tiếp nồng hậu, ông tin tưởng gửi truyện đến in. Cái truyện của
ông mang tên “Đôi mắt màu đêm” dẫu không hay như kỳ vọng của tòa soạn
nhưng cũng là một truyện khá, ý tứ, văn phong hoạt. Tạp chí in ngay, điều đó hẳn
mang đến cho ông sự tự tin, rằng sáng tác của mình, cứ đúng là văn chương thì
chẳng có rào cản nào cả. Rồi đây, rất có thể, một số truyện ngắn của ông sẽ được
nhiều báo sử dụng, được xuất bản ở trong nước bình thường như bao nhà văn khác.
Kể cả khi, chẳng cần thêm gì nữa, thì “Miền
thơ ấu” và tác phẩm dịch thuật “Bông hồng vàng”, với ông
đã là đủ,…
VÕ HUY TÂM
không chỉ tiểu thuyết, còn có thơ…
1.
Phỏng vấn Võ Huy Tâm, người thật việc thật…
Nhà văn Võ Huy Tâm là người được bạn
đọc xứ mình sớm biết tên tuổi. Ấy là may mắn với mỗi người cầm bút, không riêng
gì ông. Nói đến ông là người ta nhớ ngay
tác phẩm “Vùng mỏ”, đơn giản bởi ngày trước, các tiểu thuyết về đề tài
chiến tranh hay nông thôn khá nhiều nhưng về đề tài công nhân, công nghiệp hiếm
lắm. Vậy nên, ngay từ khi ra đời, “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm không những
được đông đảo bạn đọc đón nhận mà các nhà phê bình văn học cũng quan tâm nhắc đến
trong những công trình nghiên cứu, phê bình văn học của họ.
Biết đến tên tuổi và tác phẩm của
ông từ hồi còn đi học, nhưng phải nhờ nghề báo, tôi mới có duyên gặp gỡ, không
những thế còn trực tiếp phỏng vấn nhà văn Võ Huy Tâm. Năm ấy (1995), trước dịp
Quốc khánh 2/9, tôi được phân công thực hiện một chương trình phát thanh chuyên
đề thời lượng 45 phút nhằm kỷ niệm 50 thành lập nước. Tôi nảy ý tưởng làm phép
so sánh đời sống của hai giai cấp cơ bản ở nước ta là nông dân và công nhân sau
50 năm (1945-1995) thông qua hai tác phẩm văn học là “Tắt đèn” của Ngô Tất
Tố và “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm. Ở đây, xin không nói đến nông dân qua “Tắt
đèn” mà chỉ nói về công nhân qua “Vùng mỏ”. Vậy là phải đi Quảng
Ninh để hỏi chuyện nhà văn Võ Huy Tâm.
Mùa thu năm 1995 sao lắm mưa. Những cơn bão cuối mùa hoành
hành ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Thị xã Hòn Gai và thị xã Cẩm Phả khi đó chìm trong
nước và ngổn ngang đất đá, bùn vữa từ sườn núi trượt xuống. Nước vịnh Hạ Long,
Bái Tử Long thường ngày trong xanh nên thơ là thế, cũng trở nên đen ngòm bởi
than trôi và lốc lật chìm mấy xà lan than đậu trên vịnh. Vào một ngày như thế,
nhóm chúng tôi (Nguyễn Chu Nhạc, phóng viên-kịch sĩ Nguyễn Huấn và phóng viên
Trần Nhật Minh) đi Quảng Ninh. Qua phà Bãi Cháy, ngược dốc Bồ Hòn ghé tư gia
nhà thơ Trần Nhuận Minh xin chỉ dẫn. Ông cho biết sau khi rời núi Võ Huy Tâm về
sống ở thị xã Cẩm Phả nhưng không rõ địa chỉ cụ thể. Lại mò đến tư gia nhà thơ
Trần Ngọc Tảo hỏi địa chỉ thì vợ nhà thơ tưng tửng không mấy thiện cảm: ”Ông
ấy nhà tôi vừa ra khỏi nhà, nghe đâu đi rượu thịt cày với nhà văn Tô Ngọc Hiến”.
Chán ngán thì chọt nhớ nhà văn Dương Hướng làm việc ở Hải quan Quảng Ninh bèn
tìm đến ông, may sao nhà văn Dương Hướng có địa chỉ chi tiết, chỉ dẫn cẩn thận,
vội lao ngay đi Cẩm Phả dù trời đã trưa.
Ở vào thời điểm đó, ông không còn ở trong núi mà đã về sống cùng gia
đình trong căn nhà lầu do Công đoàn các công ty than trích quỹ xây dựng tặng
nhà văn. Ngôi nhà mà lúc đùa vui, ông gọi là cái chum bạc vài trăm triệu. Trời
mưa đều hạt, cả thị xã Cẩm Phả đường sá ngập sũng, loanh quanh một hồi rồi cũng
tìm được nhà ông. Trời đã quá trưa.
Thật may, Võ Huy Tâm có nhà nhà, hình như trước đó ông đã có
rượu trong người, tiếp khách trong trạng thái ngà ngà. Ấy vậy, vì hiếu khách,
ông cứ liên tục giục bà vợ cầm chai đi mua thêm rượu về mời khách. Ngoài trời
thì đang mưa gió sầm sập, chúng tôi thấy ái ngại, phải can mãi ông mới chịu
thôi. Nhìn dáng vẻ và sắc diện Võ Huy Tâm, tôi thấy sức khỏe ông giảm sút nhiều. Và cũng cơn ngà ngà say, ông kể chuyện đời sống
công nhân mỏ thời Pháp thuộc cơ cực thế nào, chuyện ông đi thực tế để lấy chất
liệu viết tiểu thuyết “Vùng Mỏ” ra sao. Ông còn thuộc lòng và đọc cho
chúng tôi nghe lời vè tràng giang đại hải mô tả đời sống vùng mỏ xưa. Tôi cầm
mic trực tiếp phỏng vấn, Trần Nhật Minh điều chỉnh chiết áp máy ghi âm, còn
Nguyễn Huấn loay hoay tìm góc máy chụp ảnh bằng chiếc máy ảnh cũ kỹ của mình.
Ngộ nhất, người ông gày lòng khòng, cổ ngẳng lại như “sợ” chiếc míc nên cứ ngửa
đầu ra sau, còn tôi lo không đủ âm lượng nên
tịnh tiến chiếc míc gần miệng ông, ông càng ngửa đầu. Sau này xem lại bức
ảnh phải bật cười như cảnh đánh vật vì người phỏng vấn hệt bức hiếp hỏi cung
người trả lời. Say chuyện, ông kể cả chuyện ngày nhỏ ở quê hương Nam Định đã đi
học chữ quốc ngữ ra sao, học trường dòng thế nào... Xong việc, trời đã sang chiều,
cả nhóm đều đói lả, vôi chào chia tay để tìm một quán ăn kiếm miếng cho vào bụng thì ông bảo “Hợm đã, chờ tớ chút”. Rồi
ông lật đật lên gác và quay trở xuống, dúi vào tay tôi xấp giấy đánh máy chữ bảo:
“Tớ có mươi bài thơ, tặng các cậu về đọc chơi cho vui nhớ… Các cậu thấy đấy,
tớ không chỉ văn xuôi mà còn làm cả thơ”.
Tiếc là băng ghi âm cuộc trò chuyện ấy, anh em đồng nghiệp của
tôi không còn giữ đến giờ... Riêng bản thảo đánh máy 10 bài thơ ông đưa tặng
tôi hôm ấy thì hiện tôi vẫn giữ được... Thế nên, giờ tôi mới có cái để bàn,…
2.… Và chút thơ gửi lại
Cũng chính buổi gặp gỡ ấy, lần đầu
tiên tôi biết đến ông không phải với tư cách là tác giả của những tiểu thuyết,
truyện ngắn nổi tiếng một thời – “Vùng mỏ”, “Chiếc cán búa”, “Những
người thợ mỏ”, “Gánh chèo mảnh”, “Rượu Chát”,... và nhiều tác
phẩm văn xuôi khác, mà là một nhà thơ. Nhưng trước khi nói về thơ, tôi nghĩ
cũng nên phảy chút về văn xuôi của Võ Huy Tâm. Tác phẩm “Vùng mỏ” không
có gì để bàn về nghệ thuật tiểu thuyết, mà giá trị của nó nằm ở nội dung thuộc
số ít tác phẩm viết về đề tài công nhân, công nghiệp ở thời điểm ra đời, nên
gây được sự chú ý của bạn đọc và giới phê bình văn học nói chung. Cùng với nó,
các tác phẩm văn xuôi về sau của Võ Huy Tâm, có chuyện, có vấn đề nhưng ngôn ngữ
nôm na, mộc mạc theo lối kể chuyện truyền thống. Thế nên, hầu như không có đóng
góp gì đáng kể về nghệ thuật tiểu thuyết để bàn luận. Với Võ Huy Tâm, điều đáng
quý là nhân cách trung thực của người cầm bút và tình thương yêu con người mà
biểu hiện rõ nhất là một thời gian dài ông bỏ phố vào vùng núi Quảng Ninh chịu
đựng thiếu thốn, kham khổ để dạy chữ cho các cháu lang thang cơ nhỡ thất học.
Về thơ Võ Huy Tâm, chỉ có 10 bài thơ ông
đưa tặng, với tôi, cũng đủ để khắc họa diện mạo một Võ Huy Tâm – thơ. Không hiểu
ông còn những bài thơ nào khác hay không, hay chỉ có 10 bài vỏn vẻn được đánh số
thứ tự từ I – X? Thơ Võ Huy Tâm lạ. Ông viết tuyệt đối không làm dáng, không giống
một ai, không na ná như hàng trăm, hàng ngàn bài thơ – đau vờ, buồn vờ, yêu vờ,
suy tư cũng vờ, nhan nhản trên các tờ báo hàng ngày. Ông viết đúng những gì ông
nghĩ, chắt lọc. Bài số III (Hòn đá bên lều):
Bên lều một hóa thạch
Trong đá in hình cây
Trúc có riêng phong
cách
Triệu năm đốt vẫn
ngay.
Bài số X (Cặp
phạm trù đáng nhớ), ông viết:
... Rừng đước dông
không đổ
Nguồn nhâm nắng chẳng
vơi
Gốc bền ở tại lòng ta cả!...
Có khi, ông lại triết lý một
cách trần trụi, như thể tự nói với mình, tự nhủ mình vậy:
Ngẩng đầu chỉ sợ một
vật gì rơi
Trời là mái nhà không trần
... Đêm nay nằm dưới những
vì sao
ngửa mặt lên trần
Mắt trần không thấy bụi...!
(Bài số II – Trần
trời)
Có một số bài như ở dạng phác
thảo, câu thơ xổ bung ra theo ý tưởng và người ta dễ liên tưởng khi viết những
câu thơ như thế ông chỉ chú ý đến việc diễn đạt ý tưởng nhiều hơn là chú tâm
vào câu chữ. Chẳng hạn như ở Bài số V (Mưa xuân đặt phản đề cây cá):
... Ta vốn yêu những cảnh
đẹp vĩ đại
của trời đất bể sông
những hình khe
thế núi
những thành phố
cánh đồng
những rừng thưa
rừng già
những cổ thụ mười hai người
ôm...
Rồi ông lại tự trào cái nghiệp
văn chương thơ phú của mình, hơn thế, ông mượn cớ để lên án tệ tham ô trong xã
hội:
Cốc cốc đánh mõ rình cót
thóc
Hề tôi dòng họ Vũ...
... Chuột đang chạy trong các
kho dự trữ
Làm thơ chẳng đủ ăn phải viết
truyện ngắn
Viết truyện ngắn chẳng đủ ăn
phải viết truyện dài...
... Chuột đã bớt chạy trong
các kho dự trữ
Viết tiểu thuyết sợ quá giàu
phải viết truyện ngắn...
Chỉ ngỡ ông làm thơ, nhăm nhăm
triết lý, hoặc bất cần câu chữ trau chuốt cốt sao diễn đạt được ý tưởng mà
thôi, thì bỗng nhiên, ông lại trữ tình, sương khói:
... Đò qua Phủ Lạng
Tránh càn thuyền thúng nghé
thôn bờ
Nhà nền – đất – nện
rơm năm nắng
Sương đẫm sân cau mờ
Cống trắng
ngã ba
đồng Trảng
Đi đi anh! Kẻo sáng bây giờ!...
Bài số VI – (Chỉ
gặp một lần)
Có thể nói, dù là ở vùng mỏ than
Đông Bắc thời trước, hay khi đi kháng chiến, và sau này về sống lại vùng mỏ
trong cảnh hòa bình, viết văn, hay làm thơ, Võ Huy Tâm bao giờ cũng là một con
người nhập thế, nhập thế đến cùng, sống có trách nhiệm, và đích thực là người cầm
bút vì những người lao động. Trong Bài số I (Hòm mìn), ông
viết:
Bạn của tôi những người
thợ mỏ
đã giúp tôi dựng túp lều bằng
gỗ
Căn phòng của tôi
Sàn bằng gỗ hòm mìn
Trần bằng gỗ hòm mìn
...Tất cả căn phòng là một
cái hòm mìn!
Còn tôi, tôi phải là thuốc
nổ!
Sau này, xã hội ta nhức nhối
bởi nạn “than thổ phỉ” tàn phá thiên nhiên, sinh thái, môi trường vùng mỏ, còn
với riêng ông, không những đau, ông vẫn muốn làm một việc gì đấy, dù là nhỏ bé,
để ngăn ngừa tác hại của nó:
Gần sáng trăng lên dậy
vét ao.
Chỗ nào đào được người ta
đào.
Trời mưa, lũ quét bừa, vùng
trũng
Vỉa sạt bọn càn phạt lũng
cao...
... Be bờ trồng rú chờ mong nác
Dưới đáy chợt mừng thấy ánh
sao!
Bài số VIII – (Khi
vét ao suy diễn)
Võ Huy Tâm qua đời vào cuối thu
năm 1996, vừa đúng một năm sau lần tôi gặp ấy. Tôi vẫn cứ băn khoăn, khoảng thời
gian một năm đó, ông có thêm bài thơ nào không? Nhưng thôi, với tôi, dù ít ỏi
thế cũng đủ làm nên một nhà thơ và 10 bài thơ này là một chút thơ để lại đời! Ở
ông, sống và viết đều nhất quán. Trong Bài số IV – (Tiếng chim),
ông viết:
... Cánh chim trong bão
bả mồi lánh xa...
Có lẽ, cho đến lúc mất, ông
luôn tự nhủ mình, răn mình như vậy?!
Và cho đến mãi sau này, tôi mới biết,
ông còn có một trường ca có tên “Kể chuyện mỏ thời Tây”, được sáng tác
năm 1956, tác phẩm văn học thứ hai ngay sau ‘Vùng mỏ”. Chính cái buổi trả
lời phỏng vấn hôm ấy, khi diễn tả lại đời sống cơ cực của công nhân mở than thời
Pháp chiếm đóng, ông đã đọc một thôi một hồi dài cho chúng tôi nghe, song tôi
những tưởng là vè hay thơ ca khuyết danh chi đó do chính những người thợ mỏ
ngày ấy sáng tác mà ông sưu tầm và thuộc lòng, chứ đâu ngờ đó là một phần trong
trường ca của ông.
Về nội dung, tôi không bàn, song
về nghệ thuật thơ ca, chắc chắn là trường ca ấy non tay hơn với những bài thơ
ông sáng tác sau này. Nó gần với vè, ca dao, văn vần, nôm na, dễ thuộc, dễ nhớ.
Hẳn trường ca ấy phù hợp cho công tác tuyên truyền thời kỳ đầu...
Dẫu sao, cũng đủ thêm vào để nhận
diện một Võ Huy Tâm – Thơ, trong khi chờ đợi bổ sung những bài thơ khác của ông
(nếu có) mà chưa mấy người biết ?!...
Tôi mươn mấy câu thơ trích từ bài “Tinh
chất” của nhà thơ Trần Nhuận Minh tặng nhà văn Võ Huy Tâm để kết cho
bài viết này bởi tôi nghĩ, Trần Nhuận Minh đã hí họa rất thú vị người đàn anh
văn chương đất mỏ của mình: “Bản thảo mấy thếp dày/ Anh cho vào bao tải/ Đeo
lên lưng chậm rãi/ Nhà văn về Thủ đô…/ Vỉa than trong lòng đất/ Tiểu thuyết
trong bao này/ Nào ai mà biết được/ Cái nào quí hơn đây?/ Trông mình như hành
khất/ Trộm cướp nó sẽ tha/ Nhà văn híp mắt lại/ Hồn nhiên cười hà hà…/ Không
vào rừng thì đói…/ Nhà văn lại cười xoà/ Mà văn chương còn phải/ Vươn lên
những tầm xa…/ Tấm lưng hơi còng còng/ Đeo văn về Hà Nội/ Trong văn có biển rừng/
Bao kiếp người chìm nổi…/ Cả một vùng tụ lại/ Dưới đáy chiếc bao này/ Nhìn anh
cười hiền hậu/ Tôi bỗng nhòe mắt cay...” ./.
VŨ ĐÌNH MINH
Dung dị đời và văn
1.
Tôi biết đến Vũ
Đình Minh, trước hết là con người, chứ không phải văn thơ, mặc dù ông là hội
viên của cả hai hội danh giá, Hội nhà văn Hà Nội và Hội nhà văn Việt Nam. Với
ông, gọi là nhà văn, nhà thơ đều được. Hơn thế nữa, những năm trước khi nghỉ
hưu, ông còn khá thành công với tư cách là tác giả kịch bản-đạo diễn của xê-ri
phim về chân dung văn học nghệ thuật các tác gia tên tuổi của Việt Nam, được
chiếu định kỳ trên HTV và trên VTV3.
Về khía cạnh nào đó, ông vừa là
người anh, người bạn vong niên, vừa là người thày truyền nghề, người bạn đồng
nghiệp của tôi...
Trước khi về Hà Nội làm báo chuyên
nghiệp, tôi có gần bảy năm hành nghề kỹ sư canh nông tại miền Tây Nam bộ. Vừa
làm nghề, vừa tập tọng viết báo nghiệp dư, tôi còn túc tắc làm thơ, viết truyện
ngắn. Hàng năm, mỗi kỳ nghỉ phép ra Bắc, tôi hay đi theo người bạn thân là Trịnh
Bá Ninh, khi đó là phóng viên của Báo Nông nghiệp, thăm nom, giao du với một số
nhà văn, nhà thơ thuộc Nhóm Ong, trong đó có Vũ Đình Minh. Theo
tôi biết, các văn nghệ sĩ thuộc Nhóm Ong ấy, có nhà thơ Trinh Đường, nhà thơ
Ngô Quân Miện, nhà văn Trần Nguyên Vấn (Trần Phương Trà), nhà thơ Nguyễn Thái Vận,
nhà văn Vũ Đình Minh, và người trẻ nhất là Trịnh Bá Ninh. Gọi như vậy là bởi,
nhóm người này thường xuyên được Hội nuôi ong Việt Nam bảo trợ, tổ chức đưa đi
công tác đến những vùng nuôi ong cả nước, đặng viết bài (văn xuôi, thơ, báo)
đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm quảng bá cho nghề nuôi
ong. Từ công việc, nghề nghiệp, đến cuộc sống, các thành viên của nhóm gắn bó,
thân thiết, thương quý nhau lắm. Mọi người bầu nhà thơ Trinh Đường là Trưởng
nhóm, thường gọi là Trinh đoàn trưởng. Với hai bậc lão gia là Trinh Đường
và Ngô Quân Miện, tôi chỉ gặp loáng thoáng đôi lần tại công sở của các vị, còn
ba người là Trần Nguyên Vấn, Nguyễn Thái Vận và Vũ Đình Minh trẻ hơn, sêm sêm
tuổi nhau, thì Ninh và tôi thường đến, cả nơi công sở lẫn nhà riêng. Ở thời điểm
ấy, nhà văn Trần Nguyên Vấn và nhà thơ Nguyễn Thái Vận, gia đình vợ con đề huề
ngay nội thành, riêng Vũ Đình Minh, gia đình còn ở cả quê nhà, tít bên Mê Linh.
Ngày đó, Vũ Đình Minh công tác ở
Ban Văn nghệ, Đài Phát thanh Hà Nội, văn phòng trên căn gác hẹp nơi góc phố cổ
đông đúc Hàng Dầu, dốc ra ngay bờ Hồ Gươm. Ông sống một mình tại nhà riêng, căn
nhà cấp 4 ọp ẹp có chút sân vườn, ẩn sâu trong ngõ làng nơi chân dốc phố Lò Đúc
phía ô Đông Mác. Căn nhà ấy, trước thuộc đất làng, sau này thành ngõ phố, ông
gom góp bỏ tiền ra mua khi chuyển công tác từ Mê Linh về Đài phát thanh Hà Nội.
Vũ Đình Minh sinh năm 1944, tuổi Giáp Thân, quê xã Tráng Việt, huyện Mê Linh,
vùng đất xưa từng là nơi phát tích của Hai Bà Trưng. Ông tốt nghiệp khoa văn Đại
học Sư phạm Hà Nội, làm thày giáo dạy văn nhiều năm ở vùng núi Cao Bằng, rồi về
dạy cấp 3 Đoan Hùng (Phú Thọ). Ông bén duyên thơ văn khi còn làm thày giáo dạy
văn, có thơ văn đăng báo nhiều, nên sau chuyển sang hẳn Hội văn học nghệ thuật
tỉnh Vĩnh Phú một thời gian, rồi theo lời mời về công tác tại Đài Phát thanh Hà
Nội. Sống một mình ở phố, ông phải bươn chải nuôi mình và vợ con ở quê. Có được
căn nhà như vậy, khi đó đã là niềm hạnh phúc và ao ước của bao người nhập cư về
Hà Nội. Đầu năm 1987, tôi xin nghỉ không lương, ra Bắc tìm việc mới. Thời gian
đó, Trịnh Bá Ninh bận việc làm báo, tôi rảnh rỗi hơn, lang thang đây đó nên hay
đến nhà ông, kể cả sau này, ngôi nhà ấy có thêm vợ chồng người em trai ruột ở
cùng. Tôi nhớ, từ cuối phố Lò Đúc, đường xuống ngõ vào nhà ông phải qua một dốc
cầu thang dài gạch xây cũ kỹ, hai bên mép có lối để dắt xe. Mỗi lần đến, nếu
ông có nhà, hình ảnh tôi thường gặp là căn nhà lợp ngói xềnh xoàng lờ mờ trong
ánh sáng điện vàng ệch, nơi chiếc bàn thấp chân kê giữa phòng khách đặt chiếc
máy chữ cũ mèm đang đánh dở và bên cạnh là chén rượu quốc lủi và đĩa nhỏ lạc
rang. Vũ Đình Minh đang sáng tác. Ông có lối viết trực tiếp, không dùng bút viết
thảo nháp trên giấy nữa, mà gõ thẳng máy chữ, cậm cạnh nhẫn nại gõ, vừa sáng
tác vừa nhấp rượu với lạc rang. Sau này, tôi học ở ông cách làm việc này. Thường
là tôi mang đến một vài sáng tác văn xuôi của mình, nhờ ông đọc, góp ý, và nếu
được thì xếp vào chương trình đọc chuyện của Đài Hà Nội. Hôm nào, thấy ông đang
say việc và có vẻ viết được, tôi biết ý không chơi lâu. Có hôm, viết bí, lại
tâm trạng chi đó muốn giãi bày, ông giữ tôi lại, rót rượu mời uống, chuyện nọ dọ
chuyện kia. Và những lúc như thế, tôi biết thêm về hoàn cảnh gia đình, về đường
đời, sự nghiệp và quan niệm sáng tác của ông. Nhà bên quê Mê Linh, nông thôn
nghèo với những hủ tục, định kiến xưa cũ, gia đình mà ông là ông chủ, nào mẹ
già, nào chị gái, các em, vợ và con, ai cũng yêu thương cả, song không phải lúc
nào cũng cơm lành canh ngọt. Còn nghiệp cầm bút ư? Trước tiên, đã là việc làm
công ăn lương rồi, sau mới đến nghệ thuật, và nữa, là để có nhuận bút, thêm thắt,
đặng giúp vợ nuôi con.
Cuối năm 1987, tôi chuyển hẳn ra Bắc,
về đầu quân tại Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), trở thành đồng nghiệp làm báo
phát thanh với Vũ Đình Minh. Khi ấy, anh em gặp nhau thường xuyên hơn. Tuy bận
việc chính làm báo ở VOV, song tôi cộng tác thường xuyên với Ban Văn nghệ Đài
Hà Nội do ông phụ trách. Những lúc bù khú, có hơi men, ông tủm tỉm cười đùa
tôi: “Chú mày bây giờ oách hơn anh đấy nhé. Chú ở đài trung ương, còn ta, dù
là Hà Nội thủ đô đi chăng nữa thì cũng chỉ là đài địa phương thôi“. Vũ Đình
Minh hóm hỉnh nheo nheo đôi mắt cười, làm khuôn mặt sớm héo khô của ông rạng rõ
ra : “Anh phát sóng bài của chú, chú thì có thêm chút thu nhập dù nhuận bút
đài anh bèo bọt... Với lại, cũng là để có cái cớ anh em mình gặp nhau, nâng lên
đặt xuống thế này... còn lấy cảm hứng mà viết chứ...”. Có lần, cả tôi, anh
và Trịnh Bá Ninh đều ngà ngà, Vũ Đình Minh chỉ tay vào tôi, bỗ bã: “Này thằng
Ninh, thằng Nhạc có người yêu chưa? Nếu có rồi thì thôi... còn như chưa thì để
tao làm mối... Chỗ tao, có mấy cháu gái được lắm, xinh gái, ngoan ngoãn, con
nhà tử tế... gầm chạn lại cao. Thằng Nhạc nhỏ người, có thể chui vào được
... “.
Khi tụ họp, ngồi nhâm nhi với
nhau, món mấy anh em chúng tôi khoái khẩu, đậm bản sắc dân tộc, lại khá rẻ, hợp
với túi tiền ít ỏi thời bao cấp là tiết canh lòng lợn, mà dân nhậu gọi tắt là
TiCaLoLo. Có hôm, cạch ly vài lần, Vũ Đình Minh trầm ngâm : “Chủ nhật này,
tao dặn trước, đừng có đứa nào đến tao nhé. Tao về bên quê Mê Linh. Nghĩ cảnh kẽo
kẹt đạp xe mà ớn quá rồi. Muốn không về, ở đây viết đôi chút, song lại nghĩ
thương mấy mẹ con nó ở nhà ngóng bố về. Với lại, bà cụ mẹ tao cũng hay nhắc. Dạo
này, chẳng hiểu sao, bà cụ nghe ai nhỏ to thế nào, mà mẹ chồng nàng dâu lại...”.
Bỏ dở chừng câu nói, ngước mắt nhìn xa xăm đâu đó, chốc lát khuôn mặt già sọm hẳn
đi trông thấy... Ông trút một hơi thở dài, rồi khuôn mặt lại bừng phấn chấn
ngay : “Chúng mày ạ, anh là anh phải tậu cái xe máy mà đi cho đỡ cực cái
thân... Ja-va cà tàng thôi cũng được, miễn không phải gò lưng đạp xe ba bốn chục
cây số toàn đường đê nữa”.
Tưởng nói vui vậy thôi, lần gặp sau,
Vũ Đình Mình hớn hở khoe, rằng đã mua được cái Ja-va cũ rồi, chạy còn êm lắm...
Méo mó có hơn không, dẫu sao, ông không
phải còm cõi đạp xe, cồng kềnh nặng nhọc túi này, bao gai nọ chở về quê như trước
nữa... Ngẫm ra, càng ngậm ngùi thương ông, thương bạn bè, thương thân mình.
Về công tác ở Đài TNVN, tôi ổn định
được công việc, lại là việc yêu thích, song đời sống thì khó khăn gấp bội. Cơ
chế xóa bao cấp, khởi đầu bằng việc bỏ sổ gạo, mở cho người ta bung ra làm ăn,
song là với ai đó, chứ đâu với mình, lương còm, nhà cửa chưa có, nằm bàn cơ
quan, tất tần tật đều trông vào đồng lương, thì quả là khó khăn. Tôi lao vào viết
văn, viết báo vặt, thôi thì đủ thể loại, miễn có bài cộng tác với tất thảy tờ
báo, tạp chí ngành nào có thể được. Vũ Đình Minh bày vẽ, bài trước tiên dùng ở
mục văn nghệ đài anh, sau tiếp phát văn nghệ đài tôi, rồi đến gửi cho một báo
nào đó. “Nhuận bút các nơi đều còm cõi cả, nhưng gom góp lại thì cũng tàm tạm.
Gọi là phần nào đỡ thiệt thòi cho công sức lao động nhà văn...Làm thế, vạn bất
đắc dĩ, có biết thì cũng chẳng ai người ta nỡ trách mình đâu, chú em ạ“,
ông phảy tay cười xòa, nháy mắt tinh quái, bảo tôi vậy. Tôi chỉ còn biết cười
buồn, mà lòng đượm sự biết ơn. Ngay đến cái sự tinh ranh thì ông cũng rất đỗi
chân thành.
Về văn chương, Vũ Đình Minh không chủ
trương chọn lựa thể loại nào. Ô viết đủ loại, văn xuôi thì truyện ngắn, tiểu
thuyết, truyện ký, bút ký, kịch truyền thanh, truyện phim, và thơ. Để viết được
như vậy, trước hết phải thừa nhận, ông là người đa tài; thứ nữa, có lẽ là do
tâm lý kiếm sống của thời bao cấp khó khăn, nên báo đài nào đặt hàng gì, thấy
mình có khả năng đáp ứng được, là nhận lời viết ngay. Vừa có bài đăng phát, có
thêm chút nhuận bút nuôi gia đình, lâu ngày đủ vốn liếng thì tập hợp lại in
thành sách. Nhất cử lưỡng tiện. Mà đâu riêng mình ông, điểm lại, nhiều nhà văn ở
ta thời bao cấp đều làm vậy. Song các tác phẩm của ông, cả bạn đọc và giới cầm
bút đều thấy, Vũ Đình Minh thực sự thể hiện được thế mạnh của mình qua thơ và
tuyện ký, bút ký.
Về thơ, Vũ Đình Minh là tác giả của
mấy tập thơ, song người ta biết đến ông chủ yếu qua tập thơ “Mưa trước cửa
nhà“ được xuất bản từ mấy chục năm trước. Tập này, ông tập hợp sáng tác từ
thời còn dạy học ở miền núi Cao Bằng và khi về Hội văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh
Phú. Văn là người, chí ít đúng với Vũ Đình Minh qua thơ. Thơ ông dung dị, tình
cảm, đôn hậu, gần với ca dao, không có đột phá gì mới. Ở mỗi bài, mỗi câu, bạn
đọc có thể thấy được tình cảm của tác giả gửi gắm trên từng con chữ. Giờ đây, hễ
nhắc đến Vũ Đình Minh, người ta nhớ mấy bài: “Kỷ niệm ngày mưa”,
“Mưa trước cửa nhà”, “Hội Lim” và “Bây giờ là
mùa thu“...
Với riêng tôi, những câu thơ của ông,
mỗi đọc mỗi nao lòng “Sẽ đến ngày tóc mình ngả vào thu/ Hoa bèo tím chẳng mỏng
manh như trước/ Chim nhạn sẽ bay về thưa thớt/ Cay đắng phai dần thành những
bâng khuâng... “ (Bây giờ là mùa thu). Thơ ông nặng những nỗi
niềm người, đồng cảm, sẻ chia, an ủi ... “Hát đắm say cho đứt ruột gan người/
Hát như thể cuộc đời toàn nhàn hạ/ Chỉ để yêu, để nhớ, để thương thôi/ Xin gió
lạnh đừng lật nghiêng vành nón/ Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi...” (Hội
Lim). Và nặng nỗi niềm ta: “Tuổi của mình trầm tĩnh trước mưa êm/ Để
mưa thấm vào lòng bao kí ức/ Mưa làm cũ bao nhiêu ngày rét mướt/ Tất cả như là
mới sinh ra…/ Giá tóc mẹ cũng thể xanh lên được/ Mưa ơi mưa, mưa rơi trước sân
nhà” (Mưa trước cửa nhà) v.v...
Về văn xuôi, Vũ Đình Minh có “Mùa
cạn“ (tiểu thuyết), “Trả
giá cuối cùng” (tiểu thuyết), “Ông già ngồi dưới vòm cây gạo“ (tập truyện ngắn), “Một giờ làm quan“
(tập truyện ngắn), “Đi qua bão tố“ (truyện ký), “Chiếc diều nằm
trên cỏ“ (tập truyện thiếu nhi)... Song quả thật, cứ nói đến văn xuôi
Vũ Đình Minh, là tôi nhớ đến truyện ngắn “Ông già ngồi dưới vòm cây gạo“
của ông.
Sau này, ông đặc biệt thành công, được
mọi người ghi nhận và yêu thích là xê-ri phóng sự truyền hình chân dung các nhà
văn, nhà thơ, nhà hoạt động nghệ thuật thế hệ tiền bối của Việt Nam. Có lẽ, Vũ
Đình Minh là một trong những người đi tiên phong về làm phim chân dung nhân vật
văn nghệ sĩ ở xứ mình. Không riêng gia đình các nghệ sĩ được Vũ Đình Minh và đồng
nghiệp ở Đài Phát thanh & truyền hình Hà Nội ghi hình, khắc họa, mà cả Hội
Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam biết ơn ông về điều
đó, bởi giờ đây, họ và chính tác giả Vũ Đình Minh, đã là “người muôn năm cũ”...
2.
Tôi nhớ và viết
về ông như một sự tri ân với người đàn anh thân thiết, người thày về báo chí,
văn chương đáng kính.
Hồi Vũ Đình Minh
mới về cõi hạc, tôi phác thảo nhanh mấy nét về ông-“Dung dị Vũ Đình Minh”
đăng trên trang blog cá nhân của mình ở Blog
Tiếng Việt, sau đó Báo Nông nghiệp Việt Nam đăng số Tết nguyên đán. Đã có rất
nhiều bạn đọc, nhà báo, bạn văn chương đọc được bài viết này, cung cấp thêm cho
tôi một số chi tiết về Vũ Đình Minh. Các
nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến, Nguyễn Cao Thâm thì cho biết là rất thích truyện ngắn
và bút ký của Vũ Đình Minh. Còn nhà văn Thái Sinh và nhà thơ Bùi Hải Đăng lại
bày tỏ sự yêu thích thơ Vũ Đình Minh, nhất là những bài thơ ông sáng tác khi
còn dạy học ở miền núi. Ngay cả người con trai của ông, nhà báo Vũ Đình Thành
biết nên cung cấp thêm tư liệu về đời tư và sự nghiệp sáng tác văn chương của
ông. Từ những chi tiết và tư liệu này, tôi gom góp và xâu chuỗi lại, đặng khắc
họa đậm nét hơn bức chân dung về Vũ Đình Minh.
Đài Phát thanh Hà Nội ra thêm truyền
hình, cơ quan rời khỏi Hàng Dầu đến trụ sở mới to đẹp nhưng mãi tận phố Huynh
Thúc Kháng, nên hai anh em đã xa lại càng xa. Vũ Đình Minh rất hân hoan và bận
mải vì làm truyền hình, nên viết văn, làm thơ ít đi. Song chính quãng thời gian
này, Vũ Đình Minh đã đi tiên phong trong việc làm phim tài liệu chân dung các
văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa thuộc hàng gạo cội của Việt Nam. Ồng làm hàng trăm
phim chân dung, trong đó có những phim hay như nhà thơ Hoàng Hữu, nhà viết lịch
Tào Mạt, nhà thơ Huy Cân, Vũ Cao, nhạc sĩ Văn Cao, căp vợ chồng nhà thơ Lưu
Quang Vũ-Xuân Quỳnh v.v... được bạn bè đồng nghiệp và khán giả xem phim đánh
giá cao. Phát hiện và thực hiện ý tưởng đó, Vũ Đình Minh và các đồng nghiệp ở
Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội còn đi trước cả đài trung ương bởi sau đấy ít
năm, Đài Truyền hình Việt Nam mới làm phóng sự chân dung văn nghệ sĩ. Công việc
vào trớn, hanh thông, Vũ Đình Minh lại thêm niềm vui, cưới vợ cho con trai. Hôm
cưới, tôi đến muộn, khách khứa đã vừa mâm hết, tôi phải dợi mãi, ăn cùng mâm với
gia đinh hai họ. Vũ Đình Minh vừa vui, vừa mệt, kiểu mừng của người vừa làm
xong một việc lớn, ông cứ cốc bia trên tay, lẫm chẫm như con trẻ, la cà các
bàn, cụng lý cảm ơn quan khách. Bữa ấy, ngắm nhìn Vũ Đình Minh, tôi mừng cho
ông đã vượt qua những tháng năm vất vả, gian khó...
Nhóm bạn “bộ tứ huyền ảo” của Vũ Đình Minh cũng dần rệu rã bởi nhà thơ Trinh
Đường tuổi cao sức yếu ít ra ngoài, nhà thơ Nguyễn Thái Vận thì mất sớm vì bệnh
tim, chỉ còn mỗi nhà văn Trần Nguyên Vấn là hay đây đó. Vũ Đình Minh lại lần nữa
chuyển nhà lên phố, gần nơi cơ quan. Ngày ấy chưa có điện thooại di đông, liên
lạc qua máy bàn công sở hay nhà riêng. Có lần, tôi điện thoại nhờ ông giúp một việc, chuyện công việc xong,
ông đùa tôi, hỏi đã thăng tiến đến chức vụ nào rồi, đem tôi so sánh với người
này kẻ nọ. rồi ông cười sảng khoái lắm.
Trước lúc Vũ Đình Minh nghỉ hưu, tôi gặp
ông một lần. Đợt ấy, Hội đồng hương văn nghệ sĩ quê Hải Hưng tổ chức gặp mặt đầu
xuân ở Hội trường Đài PT&TH Hà Nội, do nhà văn Đào Quang Thép (Phó giám đốc
Đài) chịu trách nhiệm. Tôi đến dự, tan cuộc, ra về, đến cổng đài thì thấy Vu
Đình Minh đứng đấy. Tôi vội xuống xe, chào ông. Lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt
mừng, tranh thủ hỏi thăm đủ thứ chuyện. Vũ Đình Minh vẫn cười đấy, nhưng nụ cười
heo héo, và tôi thấy khí sắc ông không vượng. Ông bảo: “Mày ạ... Sắp tới. tao về hưu rồi. Xả hơi một chút rồi viết lại. Mấy năm
rồi, bận chương trình của Đài, hết kịch bản này đến kịch bản khác, nổi tiếp
nhau , tối cả mặt mày, chả viết được mấy”.
Tôi nhớ, năm 1990, báo Văn nghệ số 21 ra ngày 26 tháng 5, tôi
và Vũ Đình Minh có bài in chung một số. Bút ký “Thêm một viên gạch nhỏ”
của Vũ Đình Minh giới thiệu trang bìa, còn truyện ngắn “Vĩnh biệt những mùa trăng” của tôi in ở trang ruột. Khi ấy, niềm
vui trong tôi thật khó tả. Anh em, thày trò nghề văn thân nhau có truyện đi
chung một số báo, thật sướng.
Riêng tôi, học được
ở ông nhiều, cả quan điểm về sáng tác. Hơn một lần, lúc trà dư tửu hậu, Vũ Đình
Minh vỗ vai tôi bảo: “Này chú em, tao nói
cho mà biết... Nghề viết, chớ có kén cả chọn canh. Mình chỉ viết thể loại
nào.... bất kể, truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết. thơ ca, kịch phim, hay gì gì
đi chăng nữa... cứ thấy mình viết được, và có thể viết hay... là viết...:.
Ông đã làm thế, và đáng mừng là ở thế loại nào Vũ Đình Minh cũng có những thành
công nhất định.
Vậy mà đã mười mấy
năm ông rời cõi tạm. Ông mất vào mùa thu năm 2010, sau một thời gian chống chọi
với căn bệnh ung thư vòm họng. Hôm tiễn biệt ông ở nhà tang lễ bệnh viện, tôi
đi cùng nhà văn Trần Nguyên Vấn, hòa trong đám đông những đồng nghiệp, bạn hữu,
người thân của ông, lòng xúc động, nhớ về những ngày tháng đầy gian khó của mấy
anh em...
May sao, gần đây,
tôi xem một phim tư liệu về nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, lại thấy hình ảnh nhà thơ Vũ
Đình Minh đi lại, cười nói cùng những bạn văn thơ. Phim này do chính Vũ Đình
Minh làm, dựng chân dung nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, một trong se-ri phim chân dung
do Vũ Đình Minh chủ trương và trực tiếp thực hiện ở Đài Phát thanh và truyền
hình Hà Nội. Phim do Vũ Đình Minh đạo diên, đồng thời ông cũng vào một vai, bởi
ông là bạn học thời phổ thông xưa với nhà thơ Nguyễn Hữu Hà ở Trường cấp 3 Trần
Phú, thị xã Vĩnh Yên. Ngày ấy, Vũ Đình
Minh đang viên mãn nên dáng vẻ nhanh nhẹn, tươi tỉnh và rất chi hóm hỉnh,...
Ông đi trên đường đê hay lững thững đường làng, lúc lẫn vào màu xanh vườn chuối
nơi quê bạn mà như thả hồn về quê mình. Ai ngờ, chỉ mấy năm sau, bao nhiêu thứ
đổ ập xuống thân hình nhỏ thó gày guộc của
ông,... Tôi cũng đã từng đặt câu hỏi, Vũ Đình Minh dày công phác họa nên
bao nhiêu chân dung các văn nghệ sĩ đàn anh và bè bạn, liệu ông có làm chân
dung về mình? Chẳng rõ nữa... Nhưng thôi, cũng may, bóng hình ông cứ thắp
thoáng đâu đó trong chân dung bè bạn,... Có lẽ vậy, cũng là phù hợp với bản chất
dung dị vốn có của ông chăng?...
Thơ hay văn, hay nhà làm phim chân
dung, cái nào nổi trội của Vũ Đình Minh? Tôi tin là nhiều bạn bè văn chương của
ông từng đặt câu hỏi như vậy. Tôi cũng phân vân vậy. Nhưng đến giờ, tôi tự tìm
ra câu trả lời. Vũ Đình Minh khởi nguồn văn chương là thi ca từ khi ông còn là
sinh viên sư phạm và những năm tháng ông dạy học ở vùng núi xa xôi Cao Bằng,
thì đến khi ra đi, dù đã thử sức sáng tạo ở các thể loại văn nghệ khác, ông vẫn
là một nhà thơ đích thực. Nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, người bạn hoc cùng với ông thời
phổ thông ở Trường cấp 3 Trần Phú, thị xã Vĩnh Yên xưa kể một chi tiết thú vị,
Vũ Đình Minh yêu thơ và làm thơ từ khi học phổ thông. Ngày ấy (năm 1963), nhà
trường tổ chức thi thơ nội bộ do nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi làm giám khảo, thì Vũ
Đình Minh đã giành giải nhất với bài thơ “Đôi
dòng sữa”, ý tứ bài thơ là mỗi người ta lớn khôn trưởng thành được đều nhờ
vào đôi nguồn sữa, ấy là sữa mẹ, công sinh thành dưỡng dục và nguồn sữa kia
chính là công sức dạy dỗ của thầy cô giáo nhà trường. Cùng thi ngày ấy, có hai
học sinh khác đoạt giải nhì và ba mà sau này họ đều trở thành nhà thơ tên tuổi
của thi đàn Việt Nam hiện đại.
Thơ Vũ Đình Minh không giàu ý tứ và mạnh
ở sức khái quát, nhưng chan chứa cái tình, câu chữ, vần điệu có sức gợi, cái mà
thơ cần nhất. Vậy là đủ. Và giờ tôi gọi Vũ Đình Minh với danh xưng NHÀ THƠ, mà
không ngại khi so với những sáng tác khác của ông,...Và còn bởi, như tôi biết,
hết thảy những ai đã dính dáng đến thơ thì chẳng bao giờ bỏ nó được. Người ta
mê thơ, làm thơ như một thứ Giời hành vậy !...
Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tôi,
người đàn em văn chương, người học trò nghề của Vũ Đình Minh, cũng như ông, thử
sức mình ở các thể loại, y lời tâm sự chân thành như một lời khuyên bảo của ông
ngày nào, tôi nhận ra mình mạnh nhất ở thể loại nào rồi!...

Nhận xét
Đăng nhận xét