NIỀM CẢM HỨNG VĂN CHƯƠNG

 


@@@


Là người làm báo chuyên nghiệp, lại say mê văn chương, tôi sớm tạo lập và rèn cho mình thói quen viết hàng ngày.

Nói là vậy nhưng thực hiện khó lắm thay. Nếu không bận việc gì đó hoặc phải đi ra ngoài, mỗi ngày, tôi đều bật máy tính buộc mình phải ngồi vào bàn viết. Tôi cũng sớm bỏ lối viết bằng bút, mà viết trực tiếp trên máy. Những năm còn làm việc ở Bảy Búi, An Giang (1981-1987)tôi đã kiếm một chiwwsc máy chữ cũ cơ quan bỏ xó, lau chùi rồi cặm cạch tập gõ viết. Thói quen ấy theo tôi từ bấy đến tận giờ.

Nhưng viết cái gì, viết thế nào là một chuyện không dễ chuta nào. Vậy mà cứ phải khởi bút,… Viết xong một cái gì đấy, hay dở ra sao, thở phào như trút được gánh nặng. Thế mới biết, nghề cầm bút nhọc nhằn làm sao?

Dẫu đã thành nghề đấy, song khi cảm hứng thì viết gì cũng thành, còn như mất hứng, có ý có cốt đấy, câu chữ thiếu chất kết dính cứ tở ra… Vậy là,  phải khơi gợi, tự tạo niềm cảm hứng…

Có nhiều cách, nhưng hiệu nghiệm nhất với tôi, ấy là đọc lại chút gì đấy mà mình yêu thích, ví như những trang blog của mình có cảm nhận của bạn hữu; hay đọc lại đôi bài thơ hay, bài tản văn, thậm chí cả chương tiểu thuyết,… Bằng cách này, tôi lấy lại niềm cảm hứng sáng tác.

Năm nay, hè đến sớm, nắng oi sinh uể oải, ngại viết. Khởi thảo tập chân dung văn học mới mà chẳng mấy hứng. Bèn đọc lại vài chương Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, rồi xem lại dăm tập phim bản 1987 do Vương Phù Lâm đạo diễn. Đám công tử, tiểu thư trong Đại Quan Viên đối đáp thơ phú, quả có sức gợi. Văn thơ Tào Tuyết Cần tuyệt diệu đã đành mà bản dịch tiếng Việt cũng tài thay. Ở phân đoạn đám công tử tiểu thư theo hầu Giả Mẫu cùng Già Lưu chèo thuyền chơi sen đúng tiết cuối hạ chớm thu khi sen bắt đầu tàn lá ngả sắc vàng thu. Nàng Lâm Đại Ngọc trổ tài thơ phô kiến văn cùng chàng ngốc Giả Bảo Ngọc nhắc đến một câu thơ của Lý Nghĩa Sơn (tức Lý Thương Ẩn) đời Đường ca ngợi vẻ đẹp riêng có của sen tàn “Lưu đắc khô hà thính vũ thanh” (nghĩa: chỉ còn lại sen tàn khô nghe tiếng mưa), khiến Chàng Ngốc ấy tấm tắc khen hay mà sinh ngẩn ngơ suy tư. Câu thơ ấy được dịch thơ tiếng Việt bởi Vũ Bội Tuyền tài tình “Sen tàn nghe rốn tiếng mưa thu”. Đơn thuần, hiểu nghĩa câu thơ ấy đã hay rồi, nhưng tuyệt vời thay, ở bản dịch tiếng Việt này, dịch giả thật tài khi dùng từ “rốn”. Chỉ một từ thôi mà biểu thị được cái sự nấn ná, nuối tiếc, gắng níu giữ rồi cũng đành buông. Tứ ấy là “mắt” của câu thơ, thậm chí cả bài thơ (điểm nhãn). Dịch giả bắt được cái thần của câu thơ.

Thế rồi, lại phải truy nguyên cả bài thơ. Ấy là bài “Túc Lạc thị đình ký hoài Thôi Ung, Thôi Cổn” (Ở đình họ Lạc nhớ Thôi Ung, Thôi Cổn) của Lý Thương Ẩn. Để hiểu thêm, xin trách cả bài thất ngôn tứ tuyệt này “Trúc ổ vô trần thủy hạm thanh/ Tương tư điều đệ cách trùng thành/ Thu âm bất tản sương phi vãn/ Lưu đắc khô hà thính vũ thanh”; dịch nghĩa là “Lũy trúc không vương bụi, mái hiên xanh bên bờ nước/ Nhớ nhau mà lại cách trở thành trì xa xôi/ Bóng thu không tan nhưng rồi sương dần tản/ Chỉ còn lại sen tàn khô nghe tiếng mưa”.

Tôi cũng đã tham khảo một số bản dịch thơ sang tiếng Việt nhưng chẳng có bản nào hay hơn bản của Vũ Bội Tuyền, đặc biệt là câu kết.

Chỉ là một bài thơ thù tạc, mấy câu đầu tả cảnh thay vì tậm trạng. Nhưng câu kết thần tình nâng bổng cá bài thơ.

Thì cảm hứng từ đấy chứ đâu?!...

 

Nhận xét