@@@
ĐÌNH HIỂN
Thơ là
nơi để cõi lòng nương náu,…
(Nguyễn Chu
Nhạc)
“Ông này là nhà thơ đích thực”- đấy là lời nhận định của nhà thơ Trần
Đăng Khoa về tác giả bài thơ “Mù-cang-chải” cùng chùm thơ 5 bài của
ông đăng trên Tạp chí Nhà văn & cuộc sống, Hội Nhà văn
Việt Nam.
Người ấy là
Đình Hiển, một cán bộ ngành vận tải đã nghỉ hưu. Ông tên thật là Nguyễn Đình Hiển,
tuổi Đinh Hợi, gốc ngoại thành Hà Nội. Nhập ngũ năm 1965, trải qua hai cuộc chiến
tranh, chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam và bảo vệ biên giới phía Bắc, ra
quân học Đại học Giao thông vân tải, kỹ sư ngành vận tải Hà Nội, lên chức giám
đốc Công ty xe bus Hà Nội rồi nghỉ hưu.
Học hành, công
việc chẳng liên quan gì đến văn chương nghệ thuật cả song Đình Hiển lại yêu thơ
đến độ say. Thế nào là say thơ thật khó tả bởi chỉ có ngồi tay đôi cà phê với
ông, hay bàn trà dăm ba người, nghe ông đọc thơ thì hiểu thế nào là say. Cuộc gặp
măt nào có Đình Hiển tham gia thì chuyện gì rồi cũng xoay về thơ cả…
Tôi biết Đình
Hiển khá lâu rồi, trước tiên là thơ ông khi cũng tham gia mạng xã hội
blogtiengviet.net. Trên không gian ảo, ông là người khá kín tiếng, lặng lẽ đăng
thơ mình, không phản hồi cảm nhận (comment) của khách, mà cũng không la cà sang
nhà hàng xóm (trang của các bloger khác) giao đãi. Có vẻ như, Đình Hiển điềm
nhiên chơi thơ theo ý thích của mình, chẳng cần lấy lòng ai và cũng không ngại
khen chê. Mặc dù khi ấy tôi chưa giao thiệp gì và cũng chưa gặp mặt Đình Hiển
ngoài đời, nhưng đôi ba bài thơ, dăm câu lục bát của ông trên Blog gây ấn tượng,
khiến tôi để ý và có phần nể vì.
Và rồi, tôi gặp
Đình Hiển ngoài đời trong chuyến giao du của một nhóm bloger Blog Tiếng Việt lên Bắc Giang, có sự tham gia
của Gs. Nguyễn Lân Dũng, các nhà thơ Trần Đăng Khoa, Nguyễn Lâm Cẩn, Nguyễn
Vĩnh Tuyền, Chử Thu Hằng… Suốt chặng đường xe từ Hà Nội lên Bắc Giang, Đình Hiển
xuất hiện như một hoạt náo viên, khác hẳn sự mường tượng của tôi. Ông cùng mấy
cây bút nữ tụ lại, chuyện rôm rả, hát những bài tình ca một thuở và nghe ông đọc
thơ. Thú thực, khi đó, tôi không mấy thiện cảm với ông bởi lối giao tiếp ồn ã ấy.
Điều gì, thơ ông hấp dẫn tôi? Trái
ngược với tính cách ngoài đời. náo nhiệt, thơ Đình Hiển lại đằm về ý tứ, ngôn
ngữ đời thường nhưng không thường chút nào. Ý thức tu từ ở Đình Hiển khá rõ. Đây là cái mạnh nhưng đồng
thời cũng là điểm yếu của thơ ông, bởi ý thức tu từ quá độ dễ thành khiên cưỡng,
gò ép. Điều này không hiếm ở thơ Đình Hiển. Dẫu vậy, thơ ông, nhất là lục bát vẫn là điểm
sáng thể hiện tư chất một nhà thơ đích thực.
Cảm quan chung, Đình Hiển không lựa
chọn đề tài, bởi với ông, thơ là một thú chơi, đam mê đấy những không hơn thiệt
vì nó. Cảm hứng là viết, thích thì chơi, chẳng câu nệ. Non nửa đời binh nghiệp,
sống mà về được là quý rồi, nửa đời còn lại làm quản lý kinh tế cũng lắm bầm dập,
chọn thơ làm nơi nương náu nỗi niềm thì
hãy thả cho nhẹ cõi lòng. Tuy không ép thơ mình phải gánh vác xứ mệnh này nọ, nhưng
người đọc cảm nhận được ý thưc lập tứ của tác giả. Mạch nguồn thiên nhiên làng
quê với những biến thiên theo thời gian, ẩn chứa ký ức về ông bà, cha mẹ, người
thân, bạn bè và tình cảm đôi lứa với mọi cung bậc cảm xúc, khá rõ nét. Ông đặc
biệt nhạy cảm với sự phai mờ hoặc mất đi của những giá trị xưa cũ về văn hóa
phong tục qua tâm trạng đầy tiếc nuối: “Quê còn đâu nữa mà về/ Tôi bâng
khuâng đứng nhớ quê thuở nào/ Ai đảy quê tít lân cao/ Cò không bay nữa chào mào
cũng thôi” (Nhớ quê); “Cha khô mẹ héo đã lâu/ Ba gian nhà vắng ngồi đâu
cũng thừa/ Ngày nào cũng nhớ ngày xưa/ Hình như hai cụ mới vừa đâu đây” (Nhớ);
“Nhớ làng vào những ngày mưa/ Bờ tre thay áo như vừa biết xanh/ Con đường đất
thó lượn quanh/ Tường rêu cắm mấy mảnh sành óng lên/ Cổng làng đứng giữa nhớ
quên/…/ Bao nhiêu là chuyện nhà quê/ Tôi trốn tôi để trở về làng xưa”
(Làng); “Quán nghèo nép dưới gốc đa/ Thời gian chậm chập vẫn qua nơi này/ Bà
tôi thắp một bóng gày/ Chõng tre nước vối tiễn ngày tháng xa/ Lá khô rụng xuống
quanh bà/ Lưng còng dựa gốc cây đa cùng ngồi/ Chuyện xưa kể chẳng hết lời/ Thuốc
lào kẹo bột rối bời gió mưa/ Ngày thường giống hệt ngày xưa/ Dấu chân kim cổ như
vừa qua đây” (Quán nước gốc đa); “Mẹ tôi núp bóng ca dao/ Dòng sông nước
mắt thuở nào còn trôi/ Mùa màng gặt hái, mẹ tôi/ Cọng rơm xơ xác gặt trời tháng
năm” (Mẹ tôi); “Lộc vừng thêu những thuyền hoa nho nhỏ/ Chở Hà Nội đi
đâu mà mỏng mảnh quá chừng/ Cát bụi vô thường… Cát bụi rung rung” (Hà Nội
trong tôi) v.v.
Là một người lính, nhập ngũ từ những
năm đầu cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ và tiếp tục tham gia cuộc chiến bảo vệ
biên giới phia Bắc nên mảng đề tài về người lính trong thơ Đình Hiển khá đậm nét.
Thơ về chiến tranh và người lính của ông không chát chúa, vang vọng sắt thép,
bom đạn mà được kéo lùi về thời gian hậu chiến để lắng lại thành nỗi đau bản thể,
mất mát đau thương đấy song không hề bi lụy: “Trường Sơn núi tượng cụt đầu/
Bao năm vẫn thấy dìu nhau tìm đường/ …/ Bao nhiêu núi mẹ bồng con/ Vọng theo hồn
đá vẫn còn hành quân“ (Một thuở); “Làng mình có nhiều đàn ông/ Được đi bộ
đội mà không thấy về/ Đêm đêm ở phía bờ đê/ Rất nhiều đom đóm lập lòe như
sao/…/ Con đi giữ đất giữ trời/ Xác vùi trong cỏ hồn trôi quanhg làng” (Về
cõi); “Mười ngôi mộ dưới đất mềm/ Kết hình tiểu đội dựng nên lũy thành/ Tuổi
xuân mãi nức nở xanh/ Vàng hoen vỏ đạn sáng danh kỳ đài/ Môi hồng thơm cả ban
mai/ Tóc mây phủ nẻo đất đai chưa chồng” (Ngã ba Đồngg Lộc); “Bao bạn
chiến đấu ngày xưa/ Vẫn đang ôm súng phất cờ xung phong/ Khói hương theo gió
bay vòng/ Thơm mùi áo lính mãi không thấy về/ Một vùng non nước tái tê/ Đất nâu
vẫn ấm lời thề cỏ xanh” (Đêm Đông Hà); “Con dù ngã xuống mẹ ơi/ Mộ con vẫn
ấm mặt trời đi qua/ Cỏ xanh xao xác tiếng gà/ Tấm bia đựng gió nghiêng ba bốn lần/
Ba lô cũng đã từ trần/ Bởi trăm lỗ đạn ở gần quai đeo/ Khói nhang thơm chốn đất
nghèo/ Nghĩa trang lắng tiếng gió reo lưng trời” (Bài ca người lính)…
Chiến tranh đi qua, người lính trở về
với gia đình, phải bắt đầu cuộc sống mới. Là thế nhưng đâu dễ dàng gì. Ngay cả
những công việc mình từng làm từng quen trước khi nhập ngũ thì giờ cũng phải làm
lại để quen dần. Chẳng ai có thể mang ký ức vế quá khứ ra mà sống, phải biết
nén lại: “Giấu đi hai cuộc chiến tranh/ Bao nhiêu vết sẹo biết đành giấu đâu”.
Đình Hiển, người lính qua hai cuộc chiến đã tự nhủ lòng mình như vậy, mà cũng
là để động viên chia sẻ với những người bạn đồng ngũ của mình: “Uống đi. Nước
mắt bạn tôi/ Chén này chén nữa rối bời tri âm/ Bao nhiêu là chuyện thăng trầm/
Nhớ người ở lại lâm thâm rừng già” (Nhớ bạn cũ). Rồi nữa. cuộc sống thời hậu
chiến nhiều khi vất vả, khó khăn, vì buồn lòng mà thở than, các cựu binh cũng biết
cách an ủi nhau cho vơi nhẹ nỗi niềm: “Đi xa là để trở về/ Thương con đò mỏng
con đê giãi dầu/ Nỗi buồn lạc cả sang
nhau/ Sông không chở hết nỗi đau bao đời” (Lặng im). Vâng, lặng im như một
sự chấp nhận những gì là thiệt thòi về mình. Thực lòng, tôi thích sự biểu đạt
này trong thơ Đình Hiển về cuộc sống của người lính thời hậu chiến. Có thể nói,
ông chắt lòng mình mà ra.
Thơ Đình Hiển đa dang, nhưng thế mạnh
của ông là thơ lục bát. Một số bài thơ hay như Mù-cang-chải, Trò
chơi, Làng, Mẹ… đều là lục bát, giàu ý tưởng, hình tượng,
ngôn từ và nhịp thơ nhuyễn. Khi viết tự
nhiên, chơi chơi thì rất gợi và câu chữ tài hoa. Ví như: “Chập chờn hương phố
gió lùa/ Một dòng sông Cái đơm mưa mấy lần/ Hơi thu đợi cốm tần ngần/ Hàng trăm
cái nhớ khuất dần trong sương” (Chờ say); “Có gì xôn xao mà hạ/ Khi sen
thấp thoáng trong đầm/ Gió đụng vai ta rất khẽ/ Tưởng tiếng thở dài tram năm”
(Xon xao); “Cạn ly rượu ngoảnh lại thấy mùa xuân/ Đang chuếnh choảng cài hoa
lên cành cũ” (Mùa xuân); “Heo may thổi lệch con đường/ Váy H’ Mông thả
nõn nường vào mơ” (Mù-cang-chải); “Bước ngày vẫn lững thững qua/ Bao nhiều
tan chảy đã là sau lưng” (Nỗi niềm); “Vọng cổ thon thót đổ dài/ Một chùm
điên điển đọng vài tiếng chim”(Về miền); “Mùa xuân là giống đa tình/ Tôi
giăng lưới bắt được mình đưới hoa” (Người đi); “Đất trời giờ đã ngày
xưa/ Ai đem treo tiếng chuông chùa vào sương” (Nhớ mùa); … Ấy vậy, Đình Hiển
cũng mắc phải căn bênh như nhiều nhà thơ khác, nhiều khi dụng công và cầu kỳ
quá thành hỏng. Ông có không ít những bài thơ như vậy. Rồi nữa, ông cũng ôm đồm,
dài dòng mà thành thừa, mải mê theo cảm xúc, thiếu tiết chế nên vô tình làm
loãng ý tứ. Ví như, bài thơ Mẹ, một bài thơ hay của ông: “Mẹ không
còn nữa để già/ Ta đâu còn bé để mà trẻ con/ Một đời vất vả héo mòn/ Lòng ta dẫu
lớn mãi còn ngày xưa/ Mẹ giờ đã hóa thành chùa/ Con như chú tiểu bốn mùa chạy
quanh…”; Lý ra dừng ở đây thì hàm súc bao nhiêu, ông lại nối thêm mấy khổ, kể
lể dài dòng chẳng để làm gì chỉ càng loãng đi. Tôi nhớ, trong một lần tôi cùng ông
và hai cha con nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến du xuân lên trung du, trong hơi
men ngà ngà, Đình Hiển cao hứng đọc bài thơ này. Nguyễn Vĩnh Tiến đưa ra quan
điểm “cái kết nốc-ao” rồi phán xanh rì, khuyên ông cắt đi mấy khổ thơ không
cần thiết. Mặt ông đần ra đầy vẻ tiếc nuối. Sau này, chuyện đến tai nhà thơ Trần
Đăng Khoa thì ông thần tài này cũng đồng tình với Nguyễn Vĩnh Tiến, bảo ông hãy
mạnh dạn cắt bỏ đi. Chẳng hiểu ông có nghe không?
Dẫu thơ là nơi để cõi lòng nương náu,
Đình Hiển đã là tác giả của ba tập thơ đã xuất bản (Bến say, Thời
gian, Giấc sen cuối hạ). Nay nhhà thơ Đình Hiển dự kiến ra tập thơ thứ tư của
mình. Nhà thơ Trần Đăng Khoa thích cái tài hoa của Đình Hiển đã khuyến khích
ông bằng việc nhận đọc và biên tập bản thảo, thậm chí viết lời tựa cho tập thơ
mới này.
Là một người giàu lòng tự trọng, khi
ông từng viết “Nỗi xấu hổi ngồi rất lâu trên lưng cha lưng nẹ/ Hãy vỗ cánh
thoát khỏi hình hài thằng bé/ Tự lớn lên như một cách trả ơn”, tôi tin nhà
thơ Đình Hiển biết cách để “lớn hơn” ở tập thơ mới của mình./.

Nhận xét
Đăng nhận xét