@@@
TRẦN TÂM
Người
thợ mỏ khoan đào từng vỉa chữ
Người ấy là nhà văn Trần Tâm, hiện sống
ở Cẩm Phả, Quảng Ninh;
Trần Tâm là hội viên Hội văn học nghệ thuật Quảng
Ninh, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tử năm 1977 đến nay, ông nhận được nhiều giải thưởng về văn học của các cấp
ngành địa phương và trung ương.
“Tôi sinh ra trong một gia đình ba
đời là cu-li mỏ. Cụ là dân từ Mỹ Lộc (Nam Định cũ) ra làm than theo mùa khi
nông nhàn, đến vụ lại về quê. Ông cũng lớn từ quê ra làm mỏ, lấy vợ bán hàng
cơm, sinh ra bố tại Cẩm Phả. Khi vợ chết, ông lại về quê và mất ở đó. Bố lấy mẹ
cũng là công nhân mỏ (mẹ quê Thanh Liêm, Hà Nam cũ), sinh ra tôi tại Cẩm Phả
(01.01.1950)…”. Nhà văn Trần Tâm đã tâm sự như vậy về xuất thân của mình. Ông
cho biết, năm 1968 khi đang học dở lớp 9 (hệ 10/10) thì thôi học rẽ ngang làm
công nhân ở mỏ than Đèo Nai. Lại bổ túc văn hóa hết cấp 3 rồi trung cấp Cơ điện.
Từng trải qua đủ các công việc lái xe gạt, bảo vệ, xây dựng, thi đua… tóm lại, làm
đủ thứ theo phân công. Như vậy, đến Trần Tâm gia đình ông là đời thứ tư theo
nghề mỏ. Cái chất “thợ mỏ” ngấm vào da thịt xương cốt, thảo nào mảng đề
tài tâm huyết trong thơ văn của ông là cảnh sắc, thổ ngơi và đời sống con người
vùng rừng biển, mỏ than Đông Bắc. Chỉ riêng tiểu thuyết, ông đã xuất bản: “Người
kế nghiệp” (Nxb Lao động, 2005); “Đất bỏng” (4 tập, Nxb
Thời đại, 2011); “Miền nắng đỏ” (Nxb Văn học, 2014); “Sương
nắng một thời” (Nxb Lao động, 2019); “Người từ vùng than”
(Nxb Hội Nhà văn, 2020); “Người bên bóng núi” (2 tập, Nxb Quân đội
nhân dân, 2020). Trong số đó, đáng kể là bộ “Đất bỏng” gồm 4 tập,
bề bộn ngổn ngang lịch sử vùng đất trải hàng trăm năm với bao biến cố với bao
thân phận chìm nổi cay đắng ngọt bùi. Bản thân tên sách đã cho thấy ý đồ của
tác giả, con người sống trên tầng tầng vỉa vỉa vàng đen đấy những là “đất bỏng”
thì đâu có dễ sống. Nhọc nhằn, cơ cực, những phận người nhem nhuốc, đổi mồ hôi
và máu lấy vàng đen, nhưng quật cường mà vượt lên để đinh đoạt cuộc sống của
mình… Bộ tiểu thuyết như một biên niên sử của ngành Than, của vùng than Đông Bắc tổ quốc. Nếu không phải xuất
thân từ một gia đình truyền thống nhiều đời theo nghề thợ mỏ thì làm sao Trần
Tâm viết nổi bộ sách này?
Tuy nhiên, tôi không đánh giá cao mảng
tiểu thuyết của Trần Tâm. Tôi nghĩ, viết tiểu thuyết với ông là sự lựa chọn thể
loại đủ để chuyển tải khối lượng lớn sự kiện và nhân vật theo ý đồ, là thử sức
vóc mình, hơn là mong muốn đóng góp chút gì chọ nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam
đương đại. Không riêng gì Trần Tâm, ở ta có nhiều cây bút tiểu thuyết và mỗi
năm có đến hàng trăm tiểu thuyết được xuất bản, nhưng có mấy tác phẩm gây tiếng
vang, được nhắc đến có đóng góp cho sự phát triển nghệ thuật thể loại này? Ví
như: “Giông tố” và “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, “Sống mòn”
của Nam Cao, “Vỡ bờ” của Nguyễn
Đình Thi, “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng; “Thời xa vắng”
của Lê Lựu, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường; “Bến
không chồng” của Dương Hướng, “Đi về nơi hoang dã” của Nhật Tuấn… Sở
dĩ, ông gặt hái được một số giải thưởng về tiểu thuyết phần nhiều nhờ nội dung
của chúng phù hợp, đáp ứng được tiêu chí của cuộc vận động hay cuộc thi của các
bộ ngành, tổ chức của trung ương, địa phương. Tuy vậy, tiểu thuyết của Trần Tâm
chưa tới độ là “bách khoa thư” nhưng cho thấy muôn mặt đời sống vùng đất và con
người Quảng Ninh. Mừng ông về điều đó.
Về văn xuôi, Trần Tâm còn có mảng viết
ngắn, đủ các thể loại, truyện ngắn, truyện ký, ký sự, tạp văn, theo tôi, khá
thành công. Đó là: “Bây giờ mùa ỏng đang xanh” (Nxb Kim Đồng, 1998); “Ngày
mai sẽ nắng” (Nxb Kim Đồng, 2002); “Mùa mỏ quạ” (Nxb Văn hóa, 2013);
“Khuyển đế” (Nxb Văn học, 2017);
“Những ngày mưa” (Nxb Văn học, 2018); “Người bạn cùng lớp”
(Nxb Hội Nhà văn, 2018); “Bời bời bão dựng” (Nxb Hội Nhà văn, 2023). Ở mảng
viết ngắn, Trần Tâm có sự thả lỏng, chậm rãi kể chuyện, lựa chọn chi tiết, nhẩn
nha triết luận nên tạo được giọng điệu riêng và quan trọng là qua mỗi câu chuyện,
đều nhận ra thông điệp của nó. Các nhân vật của ông phần đông là người lao động
bình thường, họ là người quen, họ hàng, hàng xóm, bạn bè… ai cũng có diện mạo
riêng. Ấy là cái tài của Trần Tậm. Khi không “đao to búa lớn” thì Trần Tâm thật
là mình, thấu hiểu, chia sẻ,… Tôi đặc biệt thích những bài bút ký, tạp văn của
ông về phong tục và ẩm thực vùng miền như chuyện ong, chim vùng Đông Bắc; cá cua,
chuột ở miền Tây Nam bộ và một số món ăn dân tộc vùng Tây Bắc, những nơi ông đã
từng qua. Đương nhiên, vùng biển-trời-rừng-than Đông Bắc là quê hương thứ hai mấy
đời nhà ông gắn bó thì ông hiểu nhất và xem việc viết về vùng đất này như tri
ân vừa như trả nợ.
Còn một Trần Tâm thơ. Tập tọng thơ
phú từ tuổi mới lớn, khi đang học phổ thông và có thơ đăng báo Thiếu niên tiền
phong năm 1967. Và nhờ vậy mà năm
1976, khi mới 26 tuổi Trần Tâm đã được kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật tỉnh
Quảng Ninh. Thời ấy, như thế là một vinh dự lớn, ít người có được. Kể từ tập thơ đầu tay (“Màu cây trên đảo”,
Nxb Lao động, 1990), đến nay, ông đã xuất bản 7 tập thơ. Dẫu vậy, tôi không
nghĩ thơ là thế mạnh của ông, mà chỉ là tấm giấy thông hành để ông theo đuổi
nghiệp cầm bút, song hành với đời thợ mỏ là nghề chính kiếm sống nuôi gia đình.
Hơn chục năm qua, tôi đọc thơ Trần Tâm rải rác trên trang cá nhân ở mạng xã hội
(Blog Tiếng Việt, Facebook). Ông làm thơ như kể chuyện, thủ thỉ, nhẹ
nhàng, không ưa triết luận, cũng chẳng cách tân hay câu chữ cầu kỳ, chỉ là những
dòng tâm trạng thật của mình. Nhưng đấy mới là một Trần Tâm khiến ta quý trọng.
Thơ ông là những khoảnh khắc tâm trạng làm ta nghĩ ngợi tự tìm ra thông điệp: “Đất
cằn xanh thấm mồ hôi/ Áo khăn giấu nước mắt người đêm đêm/ Ngước nhìn con cháu
lớn lên/ Mừng vui trước mặt lo phiền sau vai” (Bà tôi); “Trang trại đang
bừa bộn/ Cây trái dày trước sau/ Thấp thỏm tin rớt giá/ Cười buồn khi thấy
nhau/ Nghe sương rơi từ đâu/ Đổi màu qua sắc lá/ Thương bạn tóc xanh đầu/ Đến
trăng còn vất vả” (Bạn xưa); “Tôi mắc nợ với em với dòng than vơi đầy/
Gian khó đêm ngày khổ vui cùng đất nươc/ Đất nước còn nghèo như rừng xơ xác/
Bao nhiêu phần nghèo trong đó có thơ tôi/ Chả ích gì chả giúp sức cho ai/ Tôi
rào chắn ngân vài ba giọng điệu/ Em thương hại nhìn tôi cười như mếu/ Gương mặt
gày xanh dọc mấy trang thơ” (Sau lần em trách); “Thấy hun hút trong người/
Đêm mưa dầm gió bấc/ Hòn than lăn giữa lòng tay khô ráp/ Dẫu cồn cào lòng dạ
người đi/ Đêm bão giông trời vụn nặng như chì/ Mắt buốt xót giữa làn roi mưa quất/
Nhận mặt tầng mặt nhau/ Trong xanh lè sấm chớp” (Trên tầng mỏ); “Mấy
tháng liền mỏi mắt chờ lương/ Có nhà cơm trộn muối/ Gương mặt nao nao sắc đói/
Mà bên ngoài Mùa thu” (Nói với mùa thu); “Ai Xích Thổ/ Ai Chi Nê/ Ai Bồng
Lạng/ Ai Kiện Khê…/ Còn chăng tiếng gọi đò khuya/ Rét lòng nhau gửi hồn về đêm
đêm/ Mo cơm còn ấm và mềm/ Cầm tay mẹ dặn đừng quên đất này/ Rồi xa ngằn ngặt
trời mây/ Mấy mươi năm mảnh đò gày vẫn mang/ Biết sông không rộng một gang/ Đã
cầu đón nhơ thương sang đôi bờ/ Mẹ giờ là đóa mây thu…” (Đò sông Đáy)…
Quả thật, tôi cũng không đánh giá cao
thơ Trần Tâm mặc dù ông đeo đẳng với nó đã sáu chục năm nay. Tôi đọc thơ ông như
một sự chia sẻ nỗi niềm. Thơ ông là những khoảnh khắc tâm trạng, dành cho cõi
lòng ông. Ai đọc, thấm và đồng cảm chia sẻ với ông chút nào quý chút đó. Song
có một thứ còn quý hơn cả thơ văn của ông khiến bạn hữu và mọi người yêu mến, nể
trọng, ấy chính con người ông với lối sống giản dị, chân tình, thận thiện và cảm
thông. Chẳng thế mà Trần Tâm là trung tâm quy tụ những cây bút và những người
yêu văn chương cả một vùng Cẩm Phả, Vân Đồn, Hạ Long. Gia cảnh không mấy dư dả
nhưng ngôi nhà đơn sơ của ông giữa lòng phố mỏ Cẩm Phả luôn đông bạn viết, khách
văn tìm đến. Gần ông, giao tiếp hay chuyện phiếm, kể cả khi ông chưa hài lòng
thì cũng không cần phải đề phòng. Tôi cảm nhận vậy sau gần hai chục năm giao du
với ông,…
Tôi biết Trần Tâm qua đọc thơ văn của
ông trên trang Blog Tiếng Việt. Tôi và nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền (thân sinh
của kiến trúc sư, nhà thơ, nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Vĩnh Tiến) cùng Trần Tâm
hay qua lại trang cá nhân của nhau bình luận thơ văn. Quen thành thân, tôi nhỏ
tuổi hơn, là em út của nhóm. Thế rồi, phu nhân của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền,
bác sĩ nghỉ hưu, nhận làm việc cho một Phòng khám y tế tư nhân ở Cẩm Phả, cách
nhà của Trần Tâm vài trăm mét. Thế là Nguyễn Vĩnh Tuyền lâu lâu lại xuống Cẩm
Phả thăm vợ, hay ghé nhà Trần Tâm trà tửu, hợp chuyện lắm. Còn Trần Tâm mỗi khi
lên Hà Nội dự hội nghị, hội thảo hay nhận giải văn chương đều đến nhà thăm Nguyễn
Vĩnh Tuyền. Hai ông lại ghé thăm tôi tại văn phòng làm việc ở 58 Quán Sứ, trụ sở
Đài Tiếng nói Việt Nam. Tôi đi công tác Quảng Ninh cũng hay tranh thủ ghé thăm
nhà riêng cỉa ông. Tại đây, tôi đã gặp một số nhà văn, cây bút của vùng Vân Đồn,
Cẩm Phả, Hạ Long như Trần Chiểu, Trần Ngọc Dương, Bùi Văn Phúc, Lê Điệp, Đỗ Hậu
v.v… Chơi với các cây bút ở đây, càng hiểu cái tình và sự tử tế của Trần Tâm! Nghĩ
về Trần Tâm và đời văn của ông, tôi mường tượng ông-người thợ mỏ tháng ngày cần
mẫn, nhẫn nại khoan đào từng vỉa chữ!
Gần đây, sức khỏe của Trần Tâm trục
trặc, cả năm trời điều trị tích cực. Mấy trang riêng của ông trên mạng xã hội bỏ
hoang. Vắng ông thấy trống thiếu. Thế rồi ông vượt qua. Sau tết Bính Ngọ, tôi
và nhà thơ Nguyễn VĨnh Tuyền đi Cẩm Phả thăm ông. Mừng ông dần hồi phục, túc tắc
viết lại. Vẫn xúm xít bạn văn chương, chủ khách tranh nhau nói, các ông già tóc
bạc mà nhí nháu như trẻ con. Bao nhiêu chuyện của ngày cũ gợi lại. Ăn với nhau
bữa cơm. Trần Tâm vui, bát đũa cứ nâng lên đặt xuống vậy thôi. Ông cứ cười hiền
nhìn ngắm mọi người cụng ly là chính. Cười
đấy mà mắt ông ngấn lệ.
Mới đây, Báo Văn Nghệ đăng tạp văn viết
về cá rô đồng của Trần Tâm. Người khỏe thì văn cũng lên tiếng. Đọc, mừng văn một
mà mừng người thì mười. Cái vườn văn của ông trên mạng xã hội cũng đã thấp
thoáng cây xanh hoa nở, bởi có bàn tay người chăm sóc,…
Nhận xét
Đăng nhận xét