![]() |
@@@
LÊ ĐÌNH CÁNH
Như giễu đấy mà đồng cảm đấy…
(Nguyễn Chu Nhạc)
Nhà thơ Lê
Đình Cánh sinh năm 1941, quê Thọ Xuân, Thanh Hóa. Ông tốt nghiệp Khoa Vật lý Đại
học Tổng hợp Hà Nội, sau học thêm Ngữ văn trường này. Những năm chiến tranh chống
Mỹ, ông tham gia lực lượng Thanh niên xung phong với tư cách giáo viên văn hóa,
rồi về công tác tại Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu.
Cuộc đời cần bút, ông xuất bản 11 tập sách, trong đó 4 tập thơ: Đất lành
(1986), Người đôn hậu (1990), Trời dịu (2001), Sông Cầu chày
(2005). Lê Đình Cánh là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Việt Nam, từng
nhiều lần được giải thưởng cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ. Ông mất năm 2019 do
căn bênh hiểm nghèo.
Với riêng tôi, biết đến nhà thơ Lê
Đình Cánh là khi ông được giải thưởng cao cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ (năm 1976) với 2 bài thơ “Mẹ ra Hà Nội“ và “Trên cao nguyên Tà Phình”. Câu thơ “Lên thang chẳng dám bước dài/ Vào khu tập thể
gặp ai cũng chào“ (Mẹ ra Hà Nội)
và câu “Nắng lành như mắt cừu non/ Long
lanh sương sớm như còn ngậm trăng“ (Trên
cao nguyên Tả Phình), ấy là những câu thơ hay, mà sau này, mỗi khi nói
đến Lê Đình Cánh và thơ của ông, người ta đều nhớ... Đó là dấu ấn đầu tiên khiến người ta nhận diện
ra riêng một Lê Đình Cánh, trong rất nhiều nhà thơ ở xứ ta mà thôi.
Thực ra, nói rằng
ông có một chỗ trong cái chiếu thơ lục bát thời nay, chỉ là một cách nói vui
hình tượng. Người ta viết về ông với thể thơ này rất nhiều, tất cả đều minh chứng,
ông đã thành công, đắc địa với thơ lục bát... Ngay như, trong bài thơ “Mẹ ra Hà Nội’, còn có các câu thơ khác hay, như : “Khoác vai mẹ chiếc đãy nghèo/ Năm xưa thắt lại bao điều dắng cay”
và “Sào tre đêm gõ nhịp gày/ Ba khoang đò
dọc chở đầy ước mong”. Quả là, có thể tìm thấy rất nhiều những khổ thơ, những
câu lục bát hay rải rác đâu đó ở các bài thơ, dọc quá trình sáng tạo thi ca của
Lê Đình Cánh. Theo tôi, cùng với những bài từng được giải, làm nên tên tuổi Lê
Đình Cánh, còn có những bài thơ hay khác như: Một mình anh đi, Trăng nở nụ cười, Quán Sứ bên này, Đền thờ hạt lúa, Em
đi, Ai mua chổi rơm, Lời thề cỏ xanh, Chợ Mơ, Gọi đò, Chùa Bà Đanh, Ga Vinh, Về hưu, Tiểu sành, Sông Cầu chày,
Sương sa trắng đầu, Đêm sông Chùy, Cõi xưa, Bến quê,
Trở lại Ba Lòng, Rượu tăm, Một nửa, Nỗi oan Thị
Màu, v.v...
Tựu chung, thơ ông luôn cấu tứ chặt
chẽ, lập ý rõ rang Về tính chất, hóm hỉnh, dí dỏm, tưng tửng, têu tếu, ít nhiều
lạc quan, ở đây là sự lạc quan đầy trách nhiệm, kể cả những bài thơ gam buồn;
không có cái buồn da diết, bi lụy. Lại như giễu đấy mà đồng cảm, chia sẻ đấy. Về
hình thái, lục bát nhuyễn, cả ngôn từ và nhịp điệu, câu chữ chắt lọc, tinh tế,
linh hoạt, hoán đổi ... Và nếu chỉ nghĩ, nhà thơ Lê Đình Cánh có riêng “chiếc
đũa thần“ mặc sức điều khiển thơ lục bát tài tình như vậy, thì không hẳn.
Ở những bài thơ không phải lục bát, bắt gặp đó đây những bài thơ, câu thơ hay
không kém. Vẫn chất suy tư thế sự, vẻ hóm hỉnh, tinh quái, ý thức trách nhiệm với
đời, khiến người ta phải suy nghĩ, day dứt...
Là một nhà thơ thành danh, Lê Đình
Cánh viết văn xuôi cũng rất có nghề. Ông nhanh chóng khẳng định mình ở thể loại
bút ký và tản văn. Đặc điểm văn xuôi của ông là giàu chất thơ, hay nói cách
khác là ông dùng ngôn ngữ thơ để viết văn xuôi. Cũng như thơ, văn xuôi Lê Đình
Cánh hóm hỉnh, giàu chất uy-mua và hình tượng dân gian. Ở văn chương của ông,
thơ văn tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, thơ có chuyện, và chuyện giàu chất thơ.
Năm 1987, khi về làm việc tại Đài Tiếng
nói Việt Nam, ngay tết Nguyên đán sang năm 1988, chương trình Tiếng thơ đầu
xuân, tôi có bài thơ “Em về mà cấy xuân” được chọn phát sóng đứng chung
với nhiều nhà thơ tên tuổi. Chương trình ấy do nhà thơ gạo cội Nguyễn Bùi Vợi tổ
chúc bản thảo. Nghe nói, khi họp ban biên tập duyệt chương trình Tết, có mấy kiến
không đồng tình việc xếp bài thơ của tôi vào Tết. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi bảo vệ,
thêm nữa, nhà thơ Lê Đình Cánh lên tiếng phân tích rõ về sự phù hợp của bài
thơ, trong đó ông nhấn mạnh nên khuyến khích, động viên các cây bút trẻ. Nhờ thế,
bài thơ của tôi được đứng trong chương trình thơ Tết năm ấy. Ngày đó, tôi thân với nhà thơ Trương Hữu Lợi
hay qua lại Phòng Văn học thiếu nhi mà Lê Đình Cánh là trưởng phòng, nển
có nhiều dịp chuyện trò văn chương với
ông. Thông minh, hóm hỉnh, hoạt chuyện và dễ gần, khi cần thì lý sự và hùng biện
như trạng, đó là sự cảm nhận của tôi về ông. Chính ông là người khuyến khích
tôi viết cho trẻ em và sau nữa, giới thiệu tôi với nhà thơ Phạm Hổ để tôi tham
gia một trại viết cho thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhờ vậy, tôi có vài tập
sách cho đối tượng này. Khi ông lên cương vị Phó trưởng ban Văn học nghệ thuật
nhà đài, với tôi, ông vẫn giữ mối thân tình cũ. Ở một ban biên tập có nhiều cây bút gạo cội và tính cánh mạnh
như Nguyễn Bùi Vợi, Trần Nhật Lam, Trúc Thông, Trần Mạnh Thường, Lâm Huy Nhuận…
nhà thơ Lê Đình Cánh với cượng vị duyệt phát sóng, ông luôn giữ được sự ôn nhu mà
linh hoạt điều hòa sự chệnh nhau trong thẩm định nghệ thuật, đảm bảo chất lượng
đăng phát tác phẩm. Có một điều đáng nể trọng, Lê Đình Cánh phân định rất khéo
hai mảng công việc khác nhau, quản lý biên tập phát sóng chung và cá tính sáng
tác văn chương cá nhân.
Dù thời trước hay thời nay, dù mảng đề
tài nào, thể thơ nào, thơ Lê Đình Cánh vẫn nguyên giá trị, những gì đã làm nên
thơ ông, thành danh cùng với ông, theo cách nghĩ của tôi. Quan trọng là, ông đã
có ít nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền thi ca Việt Nam hiện đại, nhất
là thể thơ lục bát cổ truyền, riêng có của xứ Việt mình !...
Cõi xưa
Con về không kịp mẹ ơi
Cơi trầu đã khép lại lời trối trăng
Mái đầu đã lạnh sương giăng
Hàng mi chớp ánh sao băng cuối trời
Cỏ xanh đã hát thành lời
Áo nâu về với cuộc đời đất nâu
Thôi đành để lại phía sau
Câu hò sông Mã nửa đau nửa buồn
Sông Chu chớp bể mưa nguồn
Trời quê bão giật mây cuồn cuộn mây…
Trăm năm cây lúa vẫn gầy
Giếng thơi muôn thuở vẫn đầy ca dao!
Người đôn hậu
Không ngờ em thuộc thơ tôi
Những câu lục bát viết hồi chiến tranh
Đêm nằm mơ đã gặp anh
Võng Trường Sơn chạm trăng xanh lá rừng…
Gặp tôi em thở ngập ngừng
Như khi mặn muối cay gừng trong mơ
Người đi ra trận không ngờ
Xa xôi có một nơi chờ thành quê!
Người trong mơ giữ lời thề
Người trong thơ vẫn hiện về đêm đêm
Câu thơ như thể lạt mềm
Người đem buộc chặt tôi thêm với đời…
Trăng nở nụ cười
Đâu Thị Nở, đâu Chí Phèo
Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao
Vẫn hàng chuối gió lao xao
Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền.
Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên
Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người
Vườn suông trăng nở nụ cười
Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau
Giữa đời vàng lẫn với thau
Lòng tin còn chút về nhau để dành
Tình yêu nên vị cháo hành
Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi.
Quán Sứ bên này...
Chùa Quán Sứ, bệnh viện K.
Nằm kề hai phía nhà pha Hỏa Lò!
Nơi vô lo. Chốn đang lo.
Các nơi Thiện Ác giằng co con người.
Cả ba nơi vắng tiếng cười.
Đằng sau nước mắt là lời thở than.
Nào đâu kiếp trước đa đoan.
Nào đâu túc trái tiền oan những ngày...
Còn tôi, Quán Sứ bên này.
Nhìn sao thấu bức tường dày bên kia!

Nhận xét
Đăng nhận xét