@@@
NGUYỄN HỮU SƠN
Ông từ gác đền Viện Văn
Mỗi khi nhìn dáng vẻ hơi đường bệ của
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, tôi lại nhớ đến một câu dân gian “lừ đừ
như ông từ vào đền”. Là nghĩ thế thôi, chứ Nguyễn Hữu Sơn đâu phải ông từ. Có
lẽ, cái dáng phát tướng, đi thũng thẵng, nói thủng thẳng nửa chừng của ông thày
này cho ta cảm giác vậy chăng?
Thế nhưng, giao du, chuyện trò với
Nguyễn Hữu Sơn lại thấy hình như vị Phó Giáo sư, Tiến sĩ này ít nhiều có chất “ông
từ” thật. Thì cứ nhìn vào các công trình văn học ông nghiên cứu và công việc
ông tham gia là rõ. Ở Viện Văn học Việt Nam, nhiều năm ông theo mảng văn học cổ,
cận, nghiên cứu nghiền ngẫm nát bét, tầm chương trích cú thơ văn Lý Trần, thế
nào chất thiền phật kinh kê cũng nhuốn vào tý chút; thêm nữa, luận văn tiến sĩ
cỉa ông là “Khảo sát loại hình tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập
anh”; không chỉ thế, những năm gần đây, ông tham gia thường xuyên các hội
thảo, giảng dạy và trực tiếp hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh thạc sĩ, tiến sĩ
là các phật tử, tăng ni; việc nhà chùa nhiều như cơm bữa vậy, không thấm chất
“ông từ” mới là lạ? Một biểu hiện của văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa Á
Đông nói chung, ấy là yếu tố Tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão). Nếu
cần tìm một thực thể sống động bằng xương bằng thịt chứa đựng yếu tố này, không
ngần ngại, tôi nghĩ đến Nguyễn Hữu Sơn.
Là cảm tính vậy thôi, chứ thực ra,
Nguyễn Hữu Sơn rất đời. Đời đằm đượi. Để có được học vị, học hàm và vị thế khá
cao trong giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn (Phó Giáo sư, Tiến sĩ,
nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Văn
học, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Việt Nam), với ông là một sự vượt
khó, chẳng mấy khác người bạn thân thuở sinh viên của mình, PGS.TS. Trịnh Bá
Đĩnh. Giờ thì xem cái chất đời của ông thày này đằm cỡ nào?
Nguyễn Hữu Sơn là tên khai sinh, cũng
là bút danh chính ở các công trình khoa học và xuất bản. Ông còn có bút danh
khác là La Sơn, La Nguyễn Hữu Sơn, ký trên một số bài báo, sáng tác văn học.
Sinh năm 1959 (Kỷ Hợi), quê Lục Nam, Bắc Giang cũ. Đây là một vùng quê xa trung
tâm, miền núi, song lại nằm trên con đường hoằng đạo của Phật giáo thời trung đại,
nối trung tâm Phật giáo-chùa Vĩnh Nghiêm với Tây Yên Tử. Có lẽ vậy, con đường
nghiên cứu văn học của ông gắn với văn hóa Phật giáo như một duyên nợ. Tuổi thơ
đi học của chàng trai ở vùng sơn cước không mấy thuận lợi. Nguyễn Hữu Sơn học ở trường Thanh niên Lao động Xã hội chủ
nghĩa cấp 3 Hà Bắc, như thế có nghĩa không chỉ học đơn thuần mà còn phải
lao động nữa. Nói gọn là mô hình vừa học vừa làm, khá phổ biến thời đó. Cố gắng
và may mắn, năm 1978, Nguyễn Hữu Sơn đỗ đại học, vào Văn khoa tổng hợp Hà Nội,
khóa 23, chung lớp với Trịnh Bá Đĩnh, kết bạn tâm giao từ ấy đến nay. Vì thân với Đĩnh, nên tôi biết và rồi thành bạn với Sơn.
Những lần tôi và Trịnh Bá Ninh (em ruột Trịnh Bá Đĩnh) từ Trường Đại học Nông
nghiệp I ở Gia Lâm sang khu ký túc xã Mễ Trì, Hà Nội dự khán đêm thơ sinh viên
Văn khoa Tổng hợp, phải ở qua đêm, hôm sau mới về, Ninh ghé giường Đĩnh, còn
tôi ké giường Sơn. Giường tầng sơ sài, chật chội, tuổi ăn tuổi ngủ, bụng lép nhưng
ấm thơ rồi ngủ vẫn say.
Thấp thoáng vậy, tôi tốt nghiệp đại học
vào Nam nhận công tác. Vài năm sau, Nguyễn Hữu Sơn tốt nghiệp Văn khoa, lớ ngớ
thế nào lại xin được vào Viện Văn học Việt Nam. Ngày ấy, làng văn chương có bốn
ngôi đền thiêng, ấy là Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Tạp chí Văn học (Viện
Văn học Việt Nam), Tạp chí Văn nghệ Quân đội (Tổng cục chính trị, Quân đội Nhân
dân Việt Nam) và Ban phát thanh Văn học nghệ thuật (Đài Tiếng nói Việt Nam). Với
những ai theo đòi nghiệp văn chương, lọt được vào một trong bốn ngôi đền ấy,
người cũng trở thành thiêng. Vậy mà, Nguyễn Hữu Sơn, tuổi gì chui lọt, toan nhận
một chân trong hàng ngũ giữ đền. Đâu ngờ, từ một chân giữ đền ngày ấy, Nguyễn Hữu
Sơn lớn dần trở thành “ông từ lớn” trấn giữ ngôi đền nhiều năm – Phó Viên trưởng,
kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn học (Viện Văn học Việt Nam).
Khoan, chuyện lên đỉnh là mãi về sau,
hãy xem chuyện của thời “vĩ nhân nằm
bàn” trước đã. Suốt một thời chiến tranh và bao cấp khốn khó, cái ăn cái ở
là chuyện tày đình. Thế nên, nhiều cán bộ nhân viên, không đến nỗi màn trời chiếu
đất, nhưng cảnh “nằm bàn” tại cơ quan là phổ biến, hầu như cơ quan, công
sở nào cũng có. Ngay bản thân, tôi đã mấy năm như vậy. Năm 1987, tôi từ An
Giang trở lại Hà Nội làm báo ở Đài TNVN, không có chỗ ở, tá túc nhà người quen.
Lâu thấy bất tiện mà chủ nhà người ta cũng nhắc khéo. Thôi thì liều, đùm chăn
màn lên cơ quan thực hiện chiến dịch “nằm bàn” ngay tại phòng làm việc ở
trụ sỏ 548 Quán Sứ. Ngày là bàn làm việc, tôi đến người ta về cả, mình dọn giấy
tờ tài liệu, trải chiếu lên bàn làm giường ngủ, sáng dậy lại hoàn nguyên. Biết
chuyện, người ì xèo có mà cảm thông cũng nhiều. Cám cảnh, lại nghĩ đến hai ông
bạn là Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn dạo mới tốt nghiệp đi làm cũng vậy. Cả một
hội bạn bè với nhau, thân nằm bàn nhưng nuôi chí lớn, mông văn chương nào có sá
chi. Ngẫm cái cảnh ấy, tôi bèn viết một truyên ngắn, tít “Vĩ nhân nằm bàn”,
lây nguyên mẫu là Đĩnh, Sơn và cái thằng tôi ra mà giễu. Lẽ di nhiên, bịa thêm
chuyện cho ly kỳ hấp dẫn. Trong truyện,
nhân vật nguyên mẫu là Sơn, mạnh bạo phá thế “nằm bàn” đầu tiên bằng cách lấy vợ,
mà lấy vợ thì phải có cái túp lều chui ra chui vào chứ. Thế là anh chàng này
gom hết vốn liếng tích cóp của vợ mua được vài chuc thước đất xó xỉnh tận cùng làng
Giảng Võ. Đất rồi phải làm nhà, không thể vách giấy dầu lợp lá như chuồng lợn,
mà phải xây hẳn hoi. Tự đóng gạch, gạch ba-banh xỉ than, cứ mỗi chiều đi làm về,
hai vợ chồng trần ra đúc gạch đến tận khuya. Vẫn thiếu, mà thiếu thì trộm. Gần
nhà có một công trường xậy dựng, gạch đổ cả đống. Đêm đêm chàng ta bì bõm men
theo mép ao mò lên công trường xây dựng trộm gạch, mỗi chuyến được dăm viên.
Nhà xây xong, tường bức ba-banh, bức gạch đỏ, luôn nhuôm. Hôm đổ mái, hai ông bạn
hội ”nằm bàn” đến hỗ trợ, lăng xăng bê vữa. Mừng là có “lầu hồng” cho cặp uyên
ương. Đây là chuyện xây nhà của nhân vật trong truyện ngắn của tôi. Song chuyện
cưới vợ làm nhà của Nguyễn Hữu Sơn đời thực cũng chẳng khác là mấy. À, cái truyện
ấy đăng bão mãi trời Nga, sau vào tập truyện ngắn của tôi.
Chuyện thật nữa, tôi và Sơn xuýt
thành “anh em cọc chèo” với nhau. Vợ Sơn là một “thím bộ đội”, gái đồng
đất Thái Bình, thanh mảnh đảm đang, công tác ở bộ phận quân nhu thuộc Binh chủng
thông tin, dưới cô còn cô em út. Cô bé này cũng là “thím bộ đôi” thuộc đơn vị
đâu đó quanh Hà Nội. Tôi đã gặp mặt cô bé đôi lần ở nhà Sơn, hình thức xinh
tươi, có phần sắc nước hơn cô chị. Quý bạn,
lại cám cảnh “nằm bàn” trường kỳ của tôi, vợ chồng Sơn có ý mai mối thực lòng. Hơn
lần, trước mặt vợ, Sơn thủng thẳng bảo: “Này nhé, ông bạn và cô em chúng tôi
nên đôi lứa, nếu khó khăn chỗ ở mà không ngại thì tạm về cả đây, vợ chồng tôi sẵn
sàng ra gian ngoài, nhường căn buồng duy nhất cho cặp uyên ương trẻ”. Sơn
cười tươi như đùa, còn vợ Sơn cười như mếu, gật vẻ đồng tình. Nhưng rồi, chuyện
thật như cổ tích ấy không thành sự thật, bởi chuyện nói ra được
song chẳng ai “sáp vô” thành chuyện nói để đấy. Tôi thấy cô gái rất được
nhưng lòng mình lại chưa sẵn sàng, bởi chút vương vấn tình duyên cũ. Còn cô gái
em vợ Sơn có ưng mình hay không thì chịu, mà đâu dám hỏi. Biết đâu, ngày ấy sáp
vô, cô bé lại chê mình là “lão già khó tính” cũng nên. Trời không cho duyện
phận với nhau thì thế thôi. Thực lòng, về chuyện này, tôi cảm cái tình và sự
chân thành của vợ chồng Sơn. Mừng là, gần đây, qua Sơn, biết được cô em gái ấy
gia đình êm ấm, chồng tử tế, con cái học hành giỏi giang.
Các công trình nghiên cứu, học thuật
của PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn đa dạng lắm, chẳng biết đâu mà lần. Theo tôi chia
thành các mảng, nghiên cứu văn học cổ cận và lý luận phê bình văn học hiện đại,
lại theo dạng biên soạn, đồng tác giả, dịch thuật hoặc công trình nghiên cứu độc
lập. Cụ thể: “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” (2010); “Truyện Kiều-so
sánh và luận bình” (2015); “Giai nhân dị mặc” (2019). “Nguyễn Gia
Thiều-Tác gia và tác phẩm” (2019); “Về một hiện tượng phê
bình” (1998); “Điểm tựa phê bình văn học” (2000); “Luận bình văn
chương” (2008); “Trương Tửu-Tuyển tập văn xuôi” (2009); “Phạm Quỳnh-Tuyển
tập du ký” (2013); “Du ký Việt Nam-Tạp chí Nam Phong (1917-1934)” (3
tập, 2007); “Ngườì đương thời Thơ mới bàn về tác gia Thơ mới”
(2017), vv… Với hơn chục đầu sách, dù ở dạng nào, PGS. TS. Nguyễn Hữu Sơn đều
có những đóng góp nhất định cho quá trình nghiên cứu văn học Việt Nam ở các thời
kỳ.
Có một biến cố, xuýt bứt Nguyễn Hữu
Sơn khỏi con đường văn chương. Ấy là thời gian Liên Xô sắp tan rã. Trước đó, có
một tập san bằng tiếng Việt do Đại sứ quán Việt Nam ở bên đó chủ trương, do tiến
sĩ Nguyễn Tuấn Phong phụ trách (Tập san Đất nước). Ở Việt Nam, tôi (Đài
TNVN) cùng nhà báo Trinhj Bá Ninh (Báo Nông nghiệp) và Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn
học VN) được họ nhờ giúp việc đặt bài, tìm bài gửi qua bên đó. Để đông viên ba
công tác viên ruột chúng tôi, tập san mời sang thăm Liên Xô, đi thực tế chừng một
tháng. Tôi và Trịnh Bá Ninh không đi vì lý do riêng, có mỗi Nguyễn Hữu Sơn đi.
Qua đó, gặp đúng lúc Liên Xô biến động, đường về ách tắc, phải đến nửa năm sau
mới về được. Nếu không quyết về, rất có thể, Nguyễn Hữu Sơn sẽ thành một tay
buôn bán sành, chẳng màng văn chương nữa. Sau này tôi đùa: “Giá ông ở lại,
chuyên đánh quả, biết đâu phất thành đại gia, như Vin như Sun ấy, văn chương
làm gì cho khổ”. Ông thày nhếch mép: “Nhẽ thế”;
Có một điều, tôi chưa đồng tình với
Nguyễn Hữu Sơn, đó là cách nhìn nhận về thơ nôm Hồ Xuân Hương. Nhiều năm nay, mọi
người vẫn quen biết những bài thơ nôm trào lộng được cho là của Hồ Xuân Hương,
qua công trình nghiên cứu của một vài tên tuổi lớn. Tuy nhiên, lại có luồng nghiên cứu khác chỉ ra rằng, Hồ Xuân Hương chỉ
là tác giả của Lưu hương ký và số ít thơ chữ Hán, còn phần thơ nôm phong
cách trào lộng kia là thơ khuyết danh được gom lại gán cho bà. Việc này, hiện vẫn
chưa ngã ngũ. Tôi từng thấy ông bạn mình đăng đàn ti vi hót như khiếu khen sự độc
đáo của thơ nôm Hồ Xuân Hương. Gần đây, trong chuyến điền dã, tôi, Nguyễn Hữu
Sơn và Trịnh Bá Đĩnh, tôi đã chất vấn ông việc này. Nguyễn Hữu Sơn giải đáp, việc
cho rằng các bài thơ nôm trào lộng đó, người ta đem gán cho Hồ Xuân Hương, ý kiến
này là có cơ sở. Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng, ít bài trong số đó, thật là của Hồ
Xuân Hương và việc phổ cập chúng trong dân gian đã vô tình tạo nên và kích hoạt
các bậc túc nho cùng thời và thời sau sáng tác theo phong cách thơ nôm trào lộng
này rồi gom tất đem gán cho bà; như chuyện thời nay, thơ Bút Tre thật vô tình tạo
nên phong cách Bút Tre, để mặc người đời phóng tác vậy? Tôi chưa chịu lập
luận ấy, thơ thì bị ngụy tạo, gán cho, cuộc đời bà cũng bị hiểu sai lệch, chẳng
liên quan gì Tổng Cóc và ông Phủ Vĩnh Tường nào cả. Hồ Xuân Hương đời thật với
Hồ Xuân Hương theo sách không còn là một? Hẳn sẽ còn tranh luận tiếp chuyện này.
Giờ tuổi mỗi cao, song ai cũng bận mải
công việc mình theo đuổi. Cùng về văn chương nhưng tôi không chuyên sâu như hai
ông bạn của mình. Tuy không đồng hành (như Sơn-Đĩnh), tôi vẫn dõi theo con đường
nghiên cứu của Nguyễn Hữu Sơn, mừng mỗi khi bạn mình ra sách mới.

Nhận xét
Đăng nhận xét