TAM GIÁC THƠ Sergei Esenin - Nguyễn Bính – Trần Đăng Khoa

 




@@@



TAM GIÁC THƠ

Sergei Esenin - Nguyễn Bính – Trần Đăng Khoa

(Tiểu luận của Nguyễn Chu Nhạc)

          1.

Năm 2025, chỉ sau lễ Noel 2 ngày (27 tháng 12), những người yêu thơ trên toàn thế giới cùng nhau kỷ niệm 100 năm ngày mất của Sergei Esenin (27.12.1925), thi hào Nga được mọi người yêu mến.  Vào ngày ấy, ông đã treo cổ tự tử, trước đó ông để lại bài thơ “Chào nhé, bạn ơi, thôi chào nhé…” xem như thư tuyệt mệnh, có câu thơ bất hủ “Trên đời này chết không có gì mới/ Nhưng sống thực tình cũng chẳng mới gì hơn”. Cái chết của ông do nhiều nguyên nhân dồn nén, mà đến giờ người đời vẫn không ngừng suy đoán? Cho dù thế nào cũng thật sự đáng tiếc bởi khi ấy tuổi đời S. Esenin còn trẻ mà tài năng thì đang rộ. Song có lẽ thế, sự dang dở, bế tắc đến tuyệt vọng, phải tự chấm dứt cuộc sống của mình đã làm cho con người và thơ ca của ông trở nên đặc biệt hơn và vì thế càng được người đời yêu thích, ngưỡng mộ!...

 

2.

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của thi hào S. Esenin, dịch giả, nhà thơ Thái Xuân Nguyên đã chọn dịch 100 bài thơ của ông và cho xuất bản có nhan đề “Những cơn bão tuyết” (NXB Hội Nhà văn, 2025) với lời giới thiệu của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Trong bài viết này, bỏ qua phần Trần Đăng Khoa khen sự cố gắng của dịch giả Thái Xuân Nguyên trong việc dịch thơ S. Esenin và bàn về dịch thuật nói chung, đặc biệt dịch thơ, thì bài viết đích thị là chân dung thi hào Nga – S. Esenin, chân thực, sinh động và xúc cảm. Đó là một truyện ngắn, không, một bút ký, cũng không, đúng hơn là một bài thơ văn xuôi về cuộc đời và thơ ca của thi hào đầy tài năng, mãnh liệt và bi kịch này,…

Ở Việt Nam, có đông người yêu thơ S. Esenin, vì thế mà có nhiều người dịch thơ ông sang tiếng Việt… Được biết các bậc tiền bối như Lê Văn Hòe, Xuân Diệu, Tế Hanh đã dịch thơ S. Esenin qua bản tiếng Pháp, sau này có Anh Ngọc, Thúy Toàn, Tạ Phương,… rồi nữa là Trần Đăng Khoa, Hồng Thanh Quang, Đoàn Minh Tuấn, Từ Thị Loan, Thái Xuân Nguyên,… và nói chung, những người biết tiếng Nga mà yêu thơ đều muốn thử sức mình chuyển ngữ thơ Esenin sang tiếng Việt. Đương nhiên, trong số các nhà thơ yêu và dịch thơ  Esenin, có nhà thơ Trần Đăng Khoa. Nhưng trước khi bàn về các bản dịch thơ Esenin của Trần Đăng Khoa, tôi muốn mọi người tham khảo một bài thơ của ông sáng tác khi đến thăm Riazn, quê hương của nhà thơ này, bài “Chiều Riazn”: “Bóng chiều đi êm ru/ Trên những tầng tháp cổ/ Có gì đang xôn xao/ Trong khu vườn lặng gió/ Thấp thoáng căn nhà gỗ/ Nương hồn nước Nga xưa/ Va dòng sông mộng mị/ Chết đuối trong sương mờ/ Những ồn ào sắt thép/ Chìm khuất ở phương nào/ Ven hồ thu vàng rực/ Cây cỏ nằm chiêm bao/ Nước Nga rời thành phố/ Về náu mình nơi đây/ Để tâm hồn ở lại/ Làm một làn sương bay/ Chiều như người mộng du/ Đi về đâu chẳng biết/ Lẽ nào Xé-gây còn/ Mà nước Nga lại chết?”.

Bài thơ này có điểm đặc biệt, ấy là bút pháp Trần Đăng Khoa đặc sệt, nhưng lại mang phong vị Esenin (hay theo ngôn ngữ Trần Đăng Khoa là tinh thần Esenin). Tôi thì thích cách nói theo dân gian Việt, ấy là thể phách Trần Đăng Khoa mà hồn vía lại Esenin. Tại sao vậy? Hai con người, hai nhà thơ tài danh này khác nhau về thời đại và đất nước, gặp nhau ở một điểm chung, ấy là tình yêu vô bờ bến với làng quê của mình và mang tình yêu ấy vào thi ca (với S. Esenin là làng Kontanstinovo, tỉnh Riazan và Trần Đăng Khoa là làng Điền Trì, Quốc Tuấn, Nam Sách, Hải Dương). Được biết GS. Nikolai Niculin đã từng giới thiệu và viết khá nhiều về Trần Đăng Khoa với độc giả Nga (Liên Xô cũ) nhưng chỉ khi làm phản biện cho luận văn tốt nghiệp Trường viết văn M. Gorky Moskva của Trần Đăng Khoa, vị giáo sư này mới phát hiện ra một Trần Đặng Khoa  không chỉ là thần đồng thơ ca đất Việt ngày nào mà mình từng biết, khi ông đọc tập thơ “Những nẻo đường xứ tuyết” của cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở nươc Nga, do Tập san “Đất nước “ xuất bản mà trong đó có mấy nài thơ của Trần Đăng Khoa sáng tác về nước Nga.  Ngày ấy, GS. Niculin đã đưa ra nhận định: “Đọc lại "Chiều Riazan" giữa những ngày cả nước Nga kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ S. Esenin vĩ đại, tôi như càng hiểu Khoa hơn. Đối với Khoa, Esenin như người anh tinh thần. Cả bài thơ tràn đầy tình cảm trân trọng và thân quý với Esenin, và đó cũng là cả một nhận thức sâu sắc những giá trị đạo đức, thẩm mỹ đã được kế tục hàng thế kỷ trong đời sống lịch sử của người nông dân Nga”… Vậy là, vị giáo sư khả kính này đã nhận ra khí chất của hai nhà thơ, S. Esenin và Trần Đăng Khoa có sự tương đồng. Đúng ra, Trần Đăng Khoa phảng phất bóng dáng Esenin. Ở đây, tuy N.Niculin không nêu cụ thể, song ta có thể đọc ra được cái mà ông nhấn mạnh tinh thần Esenin ấy là “những giá trị đạo đức, thẩm mỹ” từ nhà thơ S. Esenin lan truyền sang Trần Đăng Khoa, không gì khác, chính là tinh yêu quê hương bản quán tha thiết.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã dịch độ mươi bài thơ của S. Esenin như: ”Thư gửi mẹ”, “Thư của mẹ”, “Đêm”, “Bài ca về con chó mẹ”… Trong số những bản dịch của ông thì bài thơ ”Bài ca về con chó mẹ” là bản dịch thành công nhất, về ngữ nghĩa, giai điệu và ngôn ngữ thi ca. Theo tôi, bản dịch này của Trần Đăng Khoa, cùng với bản dịch của Thúy Toàn, bài thơ “Buổi chiều mùa đông” của A.Pushkin và bản dịch của Bằng Việt bài thơ “Mùa hè rớt” của Olga Bergol là số ít bản dịch thơ Nga hay nhất ở ta.

Tôi nghĩ, để dịch thành công một tác phẩm thi ca nước ngoài nào đó sang ngôn ngữ của mình, người dịch cùng với yếu tố hàng đầu là giỏi ngôn ngữ (cả ngoại ngữ và ngôn ngữ mẹ đẻ), phải có phẩm chất thi sĩ và thêm nữa, phải có sự đồng điệu. Vâng, sở dĩ tôi phải dẫn dắt vòng vèo là để đến điều tôi nhấn mạnh –“đồng điệu”. Trần Đăng Khoa phải có sự đồng điệu thì ông mới dịch thơ Esenin hay đến thế và bài thơ Chiều Riazan của ông lại mang hồn vía Esenin. Về sự đồng điệu với Esenin, ở Việt Nam, trước Trần Đăng Khoa gần nửa thế kỷ, còn có một nhà thơ nổi tiếng gần và đậm đặc “chất” Esenin, ấy là Nguyễn Bính. Giờ thi tôi lôi nhà thơ Nguyễn Bính vào cuộc để tạo nên Tam giác thơ S. Esenin – Nguyễn Bính – Trần Đăng Khoa. Tam giác ba nhà thơ, mỗi người một đỉnh, nối nhau từng cặp, bởi sự tương đồng về xuất thân, hoàn cảnh sáng tác, tài năng thi ca và quan trọng là sự đồng điệu tâm hồn,…

 

3.

Trước hết, về tuổi tác và hoàn cảnh xã hội. Đây là sự khác biệt nhất giữa ba nhà thơ. S. Esenin (1895 – 1925), cuối thời Sa hoàng bước sang chế độ mới, xã hội dân chủ công nông; Nguyễn Bính (1918 – 1966), chế độ phong kiến nhà Nguyễn bước sang chế độ dân chủ theo hướng xã hội chủ nghĩa thời chiến; Trần Đăng Khoa (1958), chế độ xã hội chủ nghĩa chuyển từ thời chiến sang thời bình. Ở đây, sự chênh lệch về tuổi tác và hoàn cảnh xuất thân không ảnh hưởng đến tài năng thi ca của mỗi người, song có thể ảnh hưởng và chi phối xu hướng sáng tác, nhất là Trần Đăng Khoa, hậu sinh so với hai tiền bối.

S. Esenin, đỉnh tam giác thứ nhất. Với khoảng thời gian nhà thơ này sáng tác, nước Nga đã có một nền thi ca rực rỡ cùng các tên tuổi lớn như A. Pushkin, M. Lermontov, N. Nekrasov, F. Tyutchev… để ông lấy đó mà tự hào và làm gương, tiếp nối và ông đã thực sự tạo nên thế giới thi ca mang sắc thái riêng của mình, không lẫn với bất cứ ai. Ông sớm rời làng quê Konstantinovo (Riazan) phiêu bạt khắp nước Nga, khắp châu Âu và sang cả nước Mỹ. Song có một điểm hết sức đặc biệt, ấy là dù ở làng mình hay đi cách xa vạn dăm, Esenin chỉ làm thơ về làng quê mình. Và dường như, đi càng xa, ông càng nhớ và càng muốn viết về nó. Dù chân trời góc bể, cái làng Konstatinovo ấy cũng lẵng nhẵng theo chân,... Esenin viết những con vật và chim muông như con chó, con mèo, con bò, gà ngỗng, con cáo, con quạ, chim họa mi, rồi cây cối như vườn táo, bụi hồng, cây bạch dương, bụi tầm ma, lau sậy,  phúc bồn tử;  rồi sáng sớm, ban trưa, buổi chiều, lúc chập tối, ban đêm; rồi nữa là người mẹ, người hàng xóm, gã music, đám đàn bà con gái, tóm lại là trăm thứ bà rằn của làng Konstatinovo. Ông không mấy chú ý đến cấu tứ mà đơn thuần cứ trải cảm xúc của mình ra, thơ kiểu câu gọi câu.  Hay nói cách khác, cảm xúc là chất kết dính trong thơ Esenin, nếu thiếu chất kết dính này, từng câu thơ sẽ rời ra, tơi tả. May thay, đời thơ ngắn ngủi của Esenin là chuỗi liên kết cảm xúc. Ông tả vẻ đẹp và gợi nỗi buồn của làng quê mình mà thành ra chuyên chở vẻ đẹp và nỗi buồn điển hình của cả làng quê nước Nga mênh mông. Cái tài của ông là vậy. Vì thế, S. Esenin là nhà thơ Nga xuất sắc nhất nước Nga thế kỷ 20. Và đương nhiên, ông chẳng biết gì về Nguyễn Bính và Trần Đăng Khoa, bởi khi ông mất (1925), Nguyễn Bính còn là cậu bé “truổng cời” tắm sông cõi trời Nam, còn Trần Đăng Khoa thì hơn ba chục năm sau mới có mặt trên đời.

Và Nguyễn Bính, khi S. Esenin rời bỏ cõi đời, để lại di sản thi ca lừng lẫy và niềm tiếc thương vô hạn cho người yêu thơ nước Nga và thế giới thì ông còn là cậu bé 7 tuổi. Tôi tin là cả đời thơ của Nguyễn Bính chắc ông cũng không biết gì về sự tồn tại của nhà thơ Nga kia, bởi mãi đến năm 1962 thơ của S. Esenin mới được dịch ra tiếng Việt, lẻ tẻ mấy bài mà mức phổ biến cũng hạn hẹp. Mấy năm sau, Nguyễn Bính cũng qua đời (1966). Vậy mà, hai nhà thơ không biết gì về nhau và cách xa nhau mấy vạn dặm lại có điểm tương đồng. Chỉ mươi năm sau khi S. Esenin mất, ở độ tuổi chưa đến đôi mươi, ở cõi trời Nam, Nguyễn Bính nổi lên như một tài năng của phong trào Thơ Mới. Những thi phẩm như Mưa xuân, Tương tư, Chân quê, Quê tôi, Ghen, Đường rừng, Những bóng người trên sân ga, Lỡ bước sang ngang… khiến người yêu thơ say đắm, mê mẩn. Thơ Nguyễn Bính thấm đẫm chất ca dao và cái tài của ông là thi vị hóa những câu cửa miệng, biến khẩu ngữ thành thơ hết sức nhuần nhị. Ý tứ có thể không rõ nhưng lời kể có chuyện và quan trọng có không gian sống nên bài thơ trở nên sinh động, dư ba lay động tâm can con người. Ai cũng thấy có phần mình ở đấy. Để ý, Nguyễn Bính đi sâu vào tâm lý và thân phận người phụ nữ. Đối tượng thơ ông là những người đàn bà từ tuổi mới lớn đến nạ dòng lỡ dở. Thơ Nguyễn Bính gần gụi với đời sống bởi giá trị hiện thực của nó.

Sự tương đồng của hai nhà thơ S. Esenin và Nguyễn Bính ấy là cùng viết về làng quê, lấy làng quê, thôn dã làm chủ đề chính cho thơ ca của mình. Cả hai cùng sống cuộc đời phiêu dạt đó đây. Tuy nhiên, hai ông khác nhau ở chỗ, S. Esenin dù khắp chân trời góc bể thì ông chỉ viết về làng quê mình, còn Nguyễn Bính vẫn dành tình cảm sâu đậm cho quê hương song đi đến đâu ông cũng để lại chút lòng mình ở đấy. Điểm chung nữa, cả hai đều đa tình và gieo rắc những mối tình theo bước chân thơ phiêu bạt. Nếu S. Esenin tài thơ và có vẻ nam thần hấp dẫn phải nữ về mình thì Nguyễn Bính cũng tài thơ nhưng vẻ ngoài không mấy điển trai nên thường thất bại tuy cuộc đời ông vẫn nhiều vợ và để lại con rơi con vãi đó đây. Cho dù vậy, dự cảm mất còn về thân phận con người và vạn vật là sự đồng điệu của hai nhà thơ. Đồng điệu tâm hồn đấy nhưng phong cách và sự biểu đạt ngôn từ lại khác nhau. S. Esenin trữ tình da diết, lại như dỗi hờn và tự ràng buộc mình, thiên hướng bi quan hóa nên không gian thơ u buồn mà phấp phỏng bồn chồn không yên. Cảm giác nhà thơ thả những câu thơ ra cuộc sống rồi mải miết đuổi theo mà đau đáu khổ sở cùng chúng. Ông quá nặng lòng với thơ mà tự vậy hãm và làm khổ mình. Theo cách nói hiện đại, nhà thơ không thoát nổi vai. Vậy nên, với cái nhìn đầy bi quan ấy,  S. Esenin, cả cuộc sống và thi ca –“Chết không có gì mới, mà sốngcũng chẳng mới hơn”. Ba mươi tuổi đời, quá ngắn để chấm dứt, song tinh thần và thi ca của S. Esenin thì còn mãi. Âu cũng là một lựa chọn chẳng tệ, nếu không muốn nói, làm ông nổi tiếng hơn!...

Nguyễn Bính cũng ít nhiều bi quan hóa (kiểu tướng ra trận chưa đánh đã muốn thua, là giả vờ thua thôi, nên chủ động lui quân hoặc bỏ chạy) song giọng điệu và ngôn ngữ thì thản nhiên bất cần, lại như hơi giễu, nên cảm như nhân vật trong thơ ông miệng cười nhẹ đấy mà hồn phảng phất buồn. Cảm quan, ông làm thơ cho người khác, than thở hộ thiên hạ, tạo ra một “thế giới riêng”, khiến đàn bà đọc thì ngậm ngùi, đồng cảm, đàn ông đọc thì thích thú vì ngỡ minh hiểu lòng dạ đàn bà mà xót thương vay; còn phần mình, nhà thơ chuồn khỏi không gian thơ để sống cuộc sống nơi phố thị phiêu bạt và ít nhiều phóng túng, cứ như chẳng liên quan gì đến đám thơ phú mình tạo ra. Lại phải dùng ngôn ngữ hiện đại, ông nhà thơ này thoát vai nhanh đến chóng mặt. Tôi nghĩ, đem đối chiếu cuộc đời hai vị, Nguyễn Bính sống một cuộc sống dễ chịu và nhẹ lòng hơn S. Esenin. Tuy nhiên, cái kết cho phần đời cuối, Nguyễn Bính không còn ổn thỏa, dễ chịu nữa khi thiếu thốn đủ bề và thơ ông chẳng còn được phổ biến khi xã hội đổi màu, lại vừa bước vào cuộc chiến tranh mới,…

Giờ thì đến nhà thơ Trần Đăng Khoa, một đỉnh của tam giác cân thi ca mà tôi tạo nên. Đương nhiên, Trần Đăng Khoa là hậu sinh so với hai tiền bối kia. Sinh năm 1958, vậy thì, năm 1966, khi cậu bé Khoa ti toe làm thơ, bài thơ “Con bướm vàng” và khi ấy chưa ai biết đến tên tuổi cậu thì nhà thơ Nguyễn Bính qua đời. Vài năm sau, khi có mấy chục bài thơ được phổ biến (đăng phát) để cấu thành nên tập thơ đầu tay, “Từ góc sân nhà em”, rồi sau đó bồi thêm thành tập thơ “Góc sân và khoảng trời”, để thiên hạ gán cho danh hiệu ”thần đồng thơ”, tôi tin, khi ấy, cậu Khoa không mấy biết về Nguyễn Bính và thơ ca của ông. Khoa có thể biết và thuộc  thơ, thậm chí gặp mặt các nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên. Sở dĩ vậy, bởi lúc ấy nhà thơ Nguyễn Bính đã mất và thơ ông bị khuất lấp do cách nhìn nhận, đánh giá là lãng mạn, yếu đuối, bị lụy, không phù hợp với bầu không khí hào hùng chung của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Với Nguyễn Bính còn vậy thì ở tuối ấy, làm sao Khoa biết ông nhà thơ Nga mắt biếc mũi cao đẹp hơn nam thần kia là ai cơ chứ. Họ không biết nhau nên cũng không ảnh hưởng gì nhau, vô tình cả ba cùng viết về làng quê thân yêu của mình nên gặp nhau ở một điểm chung, nhưng Khoa gần Esenin hơn bởi hai người đều lấy cây cối, con vật trong vườn nhà, quanh làng làm chủ thể cho thơ (như chó mèo, trâu bò, gà chim, giun dế, ong kiến, cau tre, táo bưởi, hàng rào cây,…) và con người thì cha mẹ, anh chị em, họ hàng xóm láng… Có điều khác, không gian chuyện thơ của Esenin thi đượm buồn, còn không gian thơ Khoa lại tươi tắn, sống động và lạc quan. Đương nhiên, lứa tuổi, bầu không khí xã hội, quan niệm Đông Tây khác nhau. Khi vào độ trưởng thành, tiếp xúc xã hội rộng mở, học hành bồi bổ kiến thức, Trần Đăng Khoa lớn cả về con người và thi ca. Những tác phẩm dài hơi như “Khúc hát người anh hùng” “Hoa xương rồng nở”, “Ở nghĩa trang thành phố”, “Mat-xcơ-va, mùa đông năm 1990” … Khoa đã chạm đến thân phận con người, cái cốt lõi làm nên sự đồng điệu của ba nhà thơ: S. Esenin – Nguyễn Bính – Trần Đăng Khoa, mà bút pháp mỗi người một vẻ riêng có, sự độc đáo cá tính.

Cần nói rõ, Trần Đăng Khoa thích thơ Nguyễn Bính nhưng không bị ảnh hưởng. Về tư tưởng nội dung, “Hoa xương rồng nở” đâu mấy khác “Lỡ bước sang ngang”, lại cùng nhuốm phong vị ca dao, nhưng Nguyễn Bính ngậm ngùi, bi lụy hóa và ngôn từ chưa mới, còn Trần Đăng Khoa thì đượm buồn nhưng lấp lánh sắc lạc quan mà ngôn ngữ biểu đạt mới. Thực lòng, tôi thích “Hoa xương rồng nở” hơn. Khi sang Liên Xô cũ học Đại học viết văn Gorky, Trần Đăng Khoa tiếp xúc thiên nhiên, con người và văn chương Nga-Xô viết, nhất là khi trực tiếp dịch thơ S. Esenin và về thăm ngôi nhà lưu niệm ở làng quê Konstantinovo, Riazan, ông ít nhiều nghiêng về bởi cảm thấy hợp tạng S. Esenin hơn. Vì thế, một số bài thơ viết ở nước Nga của Khoa như “Đêm trắng”, “Qua Suzdan”, “Borodino” và đặc biệt “Chiều Riazan” phảng phất nỗi u hoài Esenin,…

Nhân đây, tôi muốn nhắc đến một nhận định tổng quát về đời thơ Trần Đăng Khoa của Gs. Tưởng Vi Văn (Đại học Thành Công, Đài Nam) trong bài viết giới thiệu Tuyển thơ Trần Đăng Khoa có tên “Gió hát trong ngôi nhà của mẹ” được xuất bản ở bên đó năm 2026 bằng 3 ngôn ngữ (Việt ngữ, Trung ngữ, Đài ngữ). Ở đây, Tưởng Vi Văn đã khái quát, chia đời thơ của Trần Đăng Khoa thành ba phần, ranh giới không rõ ràng những tạm phân định là: Thời thiếu niên, cảm xúc tự nhiên, tinh tế và trong sáng; Khi trưởng thành thời quân ngũ, thơ định tính công dân, trách nhiệm với xã hội và đất nước; Cũng ở thời trưởng thành, khi ra nước ngoài, học tập, giao lưu thế giới (Nga, Palestin, và các quốc gia từng đến), thơ đề câp vấn đề nhân loại, thân phận con người trong xã hội đang sống,… Về cơ bản, tôi đồng tình với cách nhìn nhận, đánh giá này của Gs. Tưởng Vi Văn

Trở lại với Tam giác thơ, S. Esenin-Nguyễn Bính-Trần Đăng Khoa, cho dù thời đại, thời tiết xã hội, tâm thế khác nhau và bút pháp, ngôn từ biểu đạt cũng khác nhau, song điểm tương đồng là họ cùng viết về làng quê, lấy nông thôn làm chủ đề chính cho thơ ca của mình; còn sự đồng điệu, ấy là trong sâu thẳm tâm hồn, sự đồng cảm, chia sẻ về thân phận con người và vạn vật,…

Thay cho lời kết, tôi xin chọn mỗi nhà thơ một câu thơ về làng quê:

S. Esein: “Tôi là nhà thơ cuối cùng của làng quê” – Đó là tuyên ngôn, là danh xưng nhà thơ kiêu hãnh nhận mà không một nhà thơ Nga nào dám giành với ông;

          Nguyễn Bính: “Quê tôi có gió bốn mùa/ Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm” - Ấy là một câu cửa miệng về một sự hiển nhiên mà ai cũng biết nhưng chỉ có ông gọi tên  ra được;

Trần Đăng Khoa: “Mái gianh ơi hỡi mái gianh/ Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương” – Câu hỏi thốt lên, biết là không có lời giải đáp mà người ta phải chiêm nghiệm cả đời để thấm,… ./

 

(Hà Nội, 04.10.2026)

 




Nhận xét