@@@
TRỊNH BÁ ĐĨNH
Chầm chậm tới mình,…
Tôi xin mượn
tên tập thơ của nhà thơ Trúc Thông –“Chầm chậm tới mình” – để nói về nột
người anh, người bạn văn chương, Phó giáo sư, tiến sĩ văn học Trịnh Bá Đĩnh.
Ông nguyên là Trưởng
ban Lý luận văn học của Viện Văn học Việt Nam, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
và hiện là thành viên Hội đồng Lý luận và phê bình văn học (khóa 10) Hội Nhà
văn Việt Nam.
Trịnh Bá Đĩnh
người làng Kinh Dương, xã Hiệp Cát, huyện Nam Sách, tỉnh Hài Dương cũ, nay thuộc
thành phố Hải Phòng. Sinh năm 1955 (tuổi Ất Mùi), gia đình nông dân thuần túy,
không dính dáng gì đến văn chương. Học hết cấp 2 (7/10), do bị cận thị nặng,
không đủ tiêu chuẩn nhập ngũ nên Trịnh Bá Đĩnh gia nhập lực lượng Thanh niên
xung phong những năm chiến tranh chống xâm lược Mỹ. Hoàn thành nghĩa vụ, Trịnh
Bá Đĩnh về quê, rồi ra thành phố Hải Phòng xin việc làm ở một đơn vị xây dựng.
Đến đây, một bước ngoặt khiến cuộc đời chàng công nhân Trịnh Bá Đĩnh xoạy chuyển
hoàn toàn theo một hướng khác.
Vậy cú bẻ lái
cuộc đời áy là gì? Đơn giản, chỉ một lời khuyên huỵch toẹt của tay đội trưởng xây dựng, đại ý: “Nói
thật nhé, mắt mũi cậu như mù dở thế làm xây dựng thế quái nào được. Ngộ nhỡ tai
nạn, trước thiệt thân cậu, sau trách nhiệm lại khổ bọn tớ. Thôi chọn việc khác
mà làm. Bằng không, về quê theo đít trâu, cưới vợ chày cối cho sướng”. Hơi
phũ đấy nhưng mà đúng. Chàng tỉnh ngộ, tuy bực nghĩ “chúng nó kiếm cớ đuổi mình”.
Ít ngày sau, xin thôi việc về quê.
Học lại ư? Mới
học hết cấp 2, lại quá tuổi để học cấp 3, kiến thức cũ quên ráo sau mấy năm lăn
lộn làm đường và xây dựng. Học kiểu gì đây? Một câu hỏi khó không lời đáp (nhái
thơ Huy Cận). Thôi cứ thử, chẳng đặng, cùng lắm ở nhà lấy vợ theo đít trâu vậy.
Nhớ lại, PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh kể bằng chất giọng hài hước, mủm mỉm cười tự giễu.
Tôi biết Trịnh
Bá Đĩnh rất sớm. Tính đến thời điểm này, viết những dòng về ông, tròn 50 năm.
Đúng nửa thế kỷ qua, nhanh thật. Số là, tôi biết Trịnh Bá Đĩnh là do chơi thân
với người em trai liền kề ông, nhà báo Trịnh Bá Ninh (nguyên Phó Tổng biên tập
Báo Nông nghiệp Việt Nam). Lại phải quay trở về thời gian hơn 50 năm trước, đầu
năm 1975, tôi, Trịnh Bá Ninh, thần đông thơ Trần Đăng Khoa và một số bạn khác
trúng vào Đội tuyển học sinh giỏi lớp 10 tỉnh Hảỉ Hưng cũ (hệ 10/10) tham dự Kỳ
thi học giỏi môn Văn toàn Miền Bắc (vì khi đó chưa giải phóng miền Nam thống
nhất đất nước). Thân với Trịnh Ba Ninh, hay đến chơi nhà nhau dù cách đến dăm
chục cây số, biết bạn có anh trai đi làm công nhân đâu đó nhưng chưa từng gặp mặt.
Lần đầu tiên tôi gặp Trịnh Bá Đĩnh tại nhà bạn mình. Tôi nhớ lắm hình ảnh Đĩnh
căm cụi ôn thi. Là ôn kiến thức cấp 2 đặng đợi đến kỳ thi vào cấp 3. Đĩnh ngồi
học trên chiến bàn gỗ cũ kê trong buồng liền cửa sổ mở lấy ánh sáng trời mà học.
Cặp mắt kính cận dày cộp vẫn khiến Đĩnh phải cúi người ghé mắt gần sách cho rõ.
Trong nhà, hai anh em Đĩnh, Ninh đều cận thị nặng bẩm sinh, gương mặt, tầm vóc
hao hao nhau nên người làng, bạn bè người quen hay nhầm hai người với nhau. Khi
ấy, tôi có hỏi chuyện Đĩnh, là chuyện kiến thức ôn thi thôi, trả lời nhấm nhẳng
qua chuyện, thiếu cởi mở. Thú thực, lúc ấy tôi thầm phục sự quyết tâm và ý chí đấy
nhưng không mấy thiện cảm. Tôi và Ninh học Đại học Nông nghiệp I Hà Nội tại Gia
Lâm, cũng hay đạp xe về Nam Sách, lúc ở nhà Ninh, khi thăm nhà Khoa, khi đó Đĩnh
học cấp 3 Nam Sách, nghe nói học khá giỏi, đều các môn. Đến lớp 10 cuối cấp,
đâu năm 1978, Đĩnh lọt vào Đội tuyển văn tỉnh Hải Hưng tham dự kỳ thi học sinh
giỏi môn Văn toàn quốc. Vậy là thiên hướng ngả sang Văn rồi. Tuy không được giải,
nhưng kỳ thi đại học năm ấy, Đĩnh trúng tuyển vào khoa Ngữ văn, khóa 23, Đại học
Tổng hợp Hà Nội. Vậy là, con đường văn chương đã mở ra,…
Khi Trịnh Bá
Đĩnh học những năm đầu khoa Văn Tổng hợp thì tôi và Ninh đã ở những năm cuối Đại
học Nông nghiệp. Dạo ấy, khu giảng đường và ký túc xá Mễ Trì, Thanh Xuân, Hà Nội
hay tổ chức đêm thơ sinh viên. Biết lịch đêm thơ sinh viên, tôi và Ninh hay kẽo
kẹt đạp xe đèo nhau từ Gia Lâm sang tá túc chỗ Trịnh Bá Đĩnh dự ghé đêm thơ
sinh viên. Bọn ngoại đạo văn chương học các trường khác như chúng tôi mê thơ và
háo hức những đêm thơ như thế. Hồi ấy, không khí thơ văn tưng bừng lắm, nhất là
giới trẻ. Thiếu gạo, sinh viên phải gặm bột mì đầy mọt nặn bánh như nắp vung luộc
chin, nuốt không trôi mà vẫn mộng văn chương. Thế mới biết thơ ca có sức mạnh
tinh thần cỡ nào. Nhờ ghé các đêm thơ Văn Tổng hợp nên mới biết mặt mũi và nghe
họ đọc thơ, những cây thơ đang nổi ngày ấy như Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Huy Nhuận,
Mai Quỳnh Nam, Đặng Huy Giang, rồi nữa là những cây thơ mới như Từ Nguyên Tĩnh,
Từ Ngàn Phố, Lương Định… Qua Trịnh Bá Đĩnh, chúng tôi biết Nguyễn Hữu Sơn, bạn
thân cùng lớp. Đội bạn sinh viên văn chương ấy song hành cùng nhau đến tận bây
giờ và cùng đạt tới học hàm, học vị Phó giáo sư, Tiến sĩ văn học, có những công
trình nghiên cứu giá trị. Tôi viết riêng về PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn trong một bài
viết khác.
Tốt nghiệp đại
học, Ninh xin được về làm phóng viên báo Nông nghiệp, tôi nhận quyết định đi An
Giang, một vùng biên giới với Campuchia thuộc đồng bằng sông Cửu Long, xa tít
mù tắp. Vài năm sau, nghe Ninh báo tin, Trịnh Bá Đĩnh tốt nghiệp loại giỏi được
giữ lại trường làm giảng viên khoa Văn. Hanh thông rồi. Ý chí thêm sự cần cù chịu
khó rốt cuộc cũng tới đích.
Chưa hết, con
đường nghiên cứu khoa học thực ra mới chỉ hé mở với Trịnh Bá Đĩnh. Giảng viên đại
học, bét ra cũng phải có bằng Phó tiến sĩ (ở thời điểm ấy ta vẫn còn học vị
này), rồi Tiến sĩ và phấn đấu nữa để có học hàm Phó giáo sư, Giáo sư kia.
Trịnh Bá Đinh tuần tự như tiến, cứ như được lập trình sẵn, chậm chắc con đường
khoa học. Thời gian làm công tác giảng dạy và nghiên cứu ở Đại học Tổng hợp
cũng là thời gian tạm ổn định để xây dựng bệ phóng, lập gia đình và tích luy kiến
thức thi nghiên cứu sinh. Năm 1986, Trịnh Bá Đĩnh sang Liên Xô cũ làm nghiên cứu
sinh tại Đại học Quốc gia Sankt Peterburg. Tốt nghiệp với đề tài “Quan điểm
lịch sử của Khổng giáo và Văn học Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI” do
GS.TSKH Evgeni Aleksandrovich Seribriakov-nhà Trung Quốc học, chuyên gia văn học
thời Đường, Tống, hướng dẫn. Giắt lưng cái bằng candidate, con đường khoa học mở
ra mấy lối rẽ, hoặc ở lại tiếp tục nghiên cứu cao hơn, hoặc về nước đúng hạn,
trở lại công việc giảng dạy, song hành nghiên cứu trong nước. Thế nhưng, Trịnh
Bá Đĩnh đã chọn một lối đi khác, ngã rẽ thứ ba mà nhiều nhà nghiên cứu người Việt
ở Liên Xô thời ấy đã chọn: ở lại Liển Xô nhưng chuyển hướng buôn bán, kinh
doanh, làm giàu. Điều này dễ hiểu, tôi chia sẻ với Trịnh Bá Đĩnh về sự lựa chọn
đó. Những năm tháng đất nước khó khăn, thiếu thôn đủ bề, người ta trọng vật chất
hơn chữ nghĩa. Cả nước đi buôn, cả nước đánh quả, ai đi Liên Xô (hay một số nước
XHCN ở châu Âu) cũng phải mang sang cái gì đó đặng bán kiếm chút lời, rồi gom
góp mua hàng bên ấy đóng thùng lớn thùng bé gửi đường biển về bán. Lúc ấy, các
văn tài đất Việt học hành và làm ăn ở Liên Xô đông lắm, có thể kể ra những cái
tên như Phạm Công Trứ, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đình Chiến, Lê Thanh Minh, Châu Hồng
Thủy, Hoàng Xuân Tuyền v.v… Thế mới có
chuyện Trần Đăng Khoa làm thơ bỡn chơi Phạm Công Trứ: “Đã Nguyễn Công rồi lại
Phạm Công/ Tưởng là du học hóa lông bông/ Sang Tây nghiên cứu không mang sách/
Bụng toàn si ngực với si mông “. Thật một thời cười ra nước mắt.
Trở lại chuyện
Trịnh Bá Đĩnh ở lại Liên Xô buôn bán thử vận may. Nghe đâu cũng hùn vốn mua ki-ốt
gì đó. Rồi Liên Xô tan rã thành nươc Nga và mười mấy nước cộng hòa, chính trường
đảo lộn, xã hội rối ren, vật chất thiếu thốn. Bối cảnh rối loạn này là mảnh đất
màu mỡ cho nạn chụp giât làm giàu. Với ai đó thì có thể, nhưng nhất quyết không
phải cho Trịnh Bá Đĩnh. Không trụ nổi, đành về nước, nhưng ôi thôi, cái bục giảng
đại học cũ không còn dành cho mình nữa. Thời buổi khó khăn mà phải vật vờ tìm
việc ở lĩnh vực chữ nghĩa học thuật thật không dễ dàng gì. Và rồi cũng tìm được
một bến đỗ tạm, Nhà xuất bản Thế giới, cùng bộ phận với nhà phê bình văn học Đỗ
Lai Thúy. Song phải đến khi, được thầy giáo cũ ở Văn khoa Đại học Tổng hợp Hà Nội,
GS. Hà Minh Đức, khi ấy là Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, nhận về làm việc,
Trịnh Bá Đĩnh mới thực sự tìm được bến đỗ của đời mình. Ở đây, có người bạn
thân thuở sinh viên, Nguyễn Hữu Sơn, đang đợi sẵn. Ở Viện Văn học, gặp thày, gặp
bạn cũ, thêm môi trường làm việc phù hợp, với Trịnh Bá Đĩnh, thật như cá gặp nước.
Giờ thì phải bàn về lĩnh vực văn học,
công việc chính của ông tiến sĩ này nghiên cửu xem có đóng góp gì đảng kể? Với
luận văn về Khổng giáo và văn học Việt Nam thời trung, cận đại, nghe đâu ở Viện
Văn học, Trịnh Bá Đĩnh theo mảng văn học Việt Nam thời cổ, cận gì đó, nhưng rồi
lại thấy ông chuyển sang bộ phận Lý luận phê bình. Với cá tính nghĩ nhiều hơn
nói, lại cẩn trọng và chịu đọc, có lẽ ông thấy mình thích hợp với Lý luận văn học
hơn chăng? Vả lại, văn học cổ, cận ở ta nói chung và ngay trong Viện Văn học,
nơi ông làm việc, số người nghiên cứu mảng này khá đông, trong số đó có cả ông
bạn thân, tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn lù lù trấn giữ rồi? Đào bới thêm cũng chẳng
còn quặng quý mà khai thác? Trong khi mảng Lý luận văn học hiện đại Âu Tây lại
ít người làm. Là tôi nghĩ vậy. Điểm các công trình nghiên cứu, chủ biên đã xuất
bản của ông, như: “Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học”, “Phê bình văn học
Việt Nam hiện đại”, “Lịch sử lý luận phê bình Việt Nam”, “Từ ký
hiệu đến biểu tượng”, “Ký hiệu học văn chương”. Cùng với đó là một số
tác phẩm dịch thuật về lịch sử văn học thế giới và cấu trúc văn bản nghệ thuật.
Mấy lĩnh vực ông nghiên cứu thuộc diện hep và chuyên sâu như chủ nghĩa cấu
trúc, ký hiệu học, biểu tượng, tôi nghĩ tính phổ cập không hẳn rộng, nhưng
chúng thực sự cần thiết, bổ ích cho những người nghiên cứu các lĩnh vực này. Bởi
thế, Trịnh Bá Đĩnh thường được mời giảng dạy, hướng dẫn các nghiên cứu sinh thạc
sĩ, tiến sĩ và tham gia các hội thảo, là thành viên các hội đồng khoa học xã hội
và nhân văn, hội đồng xét thưởng lĩnh vực văn học nghệ thuật quan trọng của quốc
gia. Có một điều thú vị, tôi đọc sách nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh về ký hiệu
và biểu tượng, ứng dụng khoa học của chúng thì chỉ hiểu sơ lược, nhưng hiệu ứng
đời sống lại thấy thú vị vì sự liên tưởng đến các tiểu thuyết hư cấu mang màu sắc
trinh thám nhuốm tôn giáo ly kỳ thần bí của tiểu thuyết gia người Mỹ, Dan Brown
(như “Mật mã Da Vinci”, “Thiên thần và ác quỷ”, “Biểu tượng thất
truyền”, “Hỏa ngục”…).
Với những thành quả Trịnh Bá Đĩnh gây
dựng, tích lũy hiện có, thật đúng là một sự “chầm chậm tới mình”, tôi nghĩ
vậy.
Có một chuyện, gần đây Trịnh Bá Đĩnh
lại trong chuyến rủ tôi và PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn về quê ông thăm ngôi nhà vườn
cũ, nơi mấy anh em ông xây dựng vừa để thờ tự vừa mang tính lưu niệm. Chuyện từ
ngót nửa thế kỷ trước mà đến giờ ông còn ám ảnh. Ngày ấy, ông còn theo nốt phổ
thông ở quê, tôi và người em trai ông, nhà báo Trịnh Bá Ninh là sinh viên đại học,
vài tháng một lần lại xe đạp về Nam Sách. Có lần, để có bữa ăn tươi đãi hai
sinh viên đại học, cha ông đã vét hết tiền ít ỏi trong nhà, độ hơn chục bạc gì đấy,
đưa cho ông bảo sang làng bên mua cá tươi vì bên ấy có đám tát ao hợp tác xã.
Tiền đút túi quần, cậm cạnh đạp xe đi mua cá. Đến nơi, sờ túi thì ôi thôi tiền đi
đâu mất, chẳng còn đồng nào. Túi thủng, tiền lọt rơi vãi dọc đường lúc nào
không biết. Chưng hửng, ngẩn ngơ, tiếc tiền, không mua được cá, về nhà biết ăn
nói thế nào. Cha ông chán ngán chỉ biết thở dài, còn ông thì ân hận tự trách
mình, vì đã biết, mấy lần định khâu lại chỗ thủng, nhãng quên hay ngại mà lần lữa.
Chuyện giữ kín hai cha con với nhau thôi, chúng tôi vô tư đâu có biết. Giờ kể lại,
Trịnh Bá Đĩnh bảo, kể từ đó, thi thoảng chuyện cũ vẫn hiện về trong ý nghĩ. Có
lần, ông ngủ mơ tìm lại được món tiền mất ấy, mừng khôn xiết, tỉnh ngủ toát mồ
hôi hột. Kể bùi ngùi, rồi bật cười sảng khoái, như vừa trút xong món nợ. Nguyễn
Hữu Sơn nghe, gật gù ờ à. Tôi lại cảm thấy áy náy, như có lỗi với ông trong
chuyện này.
Dưng nà, chợt nghĩ, biết đâu, chuyện
không may ngày ấy, tưởng vô tình lại góp phần hun đúc thêm ý chí vượt khó cho
con người ta cũng nên?!...


Nhận xét
Đăng nhận xét