@@@
BẰNG VIỆT
mộng
mơ, mải miết, mất mình...
Mấy năm gần đây, không ngờ tôi lại hay gặp nhà thơ
Bằng Việt nhiều đến vậy. Cứ vài ba tháng, Bằng Việt lại ghé thăm tòa soạn tạp
chí Nhà
văn & cuộc sống, nơi tôi làm biên tập. Trong căn phòng hẹp trên
tầng 5 ở Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu, ông uống trà,
nhỏ nhẹ trò chuyện cùng chúng tôi, chừng hơn giờ đồng hồ rồi đi, không lâu và
cũng chẳng chiếu lệ qua quýt, đủ độ thân mật ấm áp. Có hôm ông đến, sẵn vài ba
người khách, câu chuyện rôm rả, lai có khi mỗi mình tôi “gác chùa” nên
câu chuyện với ông tập trung hơn. Nhờ thế mà tôi dần dà biết thêm về ông nhiều
điều, kể cả về nguồn gôc gia đình ở Chàng Sơn Thạch Thất và thời gian gia đình
ông ở Huế cuối thời Nguyễn lúc ông còn là cậu bé bốn năm tuổi,...
Nhưng điều tôi muốn viết về ông, là thơ ca, văn
chương, thứ mà ông say mê theo đuổi và nhũng nhẵng cũng nó kể cả khi ông có
cương vị khá cao ở chính quyền Hà Nội, cho đến tận bây giờ...
Thời học sinh, sinh viên, tôi và vài ba người bạn mê
thơ Bằng Việt lắm. Ngày ấy, Bằng Việt sớm được bạn yêu thơ biết đến khi tập thơ
Hương
cây bếp lửa (in chung Lưu Quang
Vũ, Bằng Việt) được xuất bản. Làm gì có sách mà mua, mượn đọc rồi chuyền
tay nhau, thích bài nào thì chép tay vào sổ. Bài thơ Bếp lửa, Trở lại trái tim mình, Về hỏa tuyến thăm con… của Bằng Việt nhiều người thuộc lắm. Thuộc
để trích dẫn khi đặng làm văn tự luận thì mang ra bình. Sướng mê tơi. Yêu thơ
nên thèm biết người thơ nhưng làm sao mà gặp được. Nhà thơ đi mây về gió, đâu
đâu tận cung trăng ấy. Ngây thơ và buồn
cười của một thời là vậy đấy.
Giờ thì Bằng Việt, ông lão ngoại tám mươi xuân ngồi
đây, trước mặt tôi, nhấm nháp chén trà và thủng thẳng chuyện thơ chuyện đời. Ngắm
Bằng Việt chuyện văn chương, bỗng nhớ có lần nhà thơ Trần Đăng Khoa cảm thán
rằng sẽ không bao giờ lên đọc thơ trước đám đông vào lễ hội thơ Nguyên tiêu
nữa bởi sau khi chứng kiến cảnh Bằng Việt đọc thơ đêm Nguyên tiêu trời mưa rét
nặng hạt thấy thương làm sao. Tôi không chứng kiến cảnh ấy nhưng cứ nghe Trần
Đăng Khoa mô tả thôi thì cũng hình dung ra được thế nào,… Là nói vậy thôi, cái
nghiệp thơ nó ám vào người, cả Trần Đăng Khoa và Bằng Việt vẫn cứ phải đăng
đàn, đọc thơ vì người ta mời, người ta trọng vọng…
Nhưng, hình dung của tôi về Bằng Việt không chỉ có
vậy, mà xa xôi về quá khứ. Ở cái tuổi mới lớn, vừa mớm chân vào cổng trường đại
học, mấy cậu sinh viên trường canh nông chúng tôi yêu văn chương, mỗi chiều thứ
bảy lại kỳ cạch đạp xe từ Trâu Quỳ Gia Lâm vượt cầu Long Biên sang Thanh Xuân
Mễ Trì để dự các đêm thơ sinh viên Văn khoa Đại học Tổng hợp. nghe Hoàng Nhuận
Cầm, Lâm Huy Nhuận, Đặng Huy Giang, Mai Quỳnh Nam… đọc thơ. Có người không đọc
thơ mình lại đọc thơ Olga Bergol, “Bài
thơ cuộc đời”, “Mùa hè rớt”.
Những vần thơ trữ tình say đắm qua bản dịch của nhà thơ Bằng Việt làm lay động
lòng người. Chúng tôi nghe ngây ngất, thích lắm và thầm ước ao được gặp gỡ nhà
thơ Bằng Việt một lần cho thỏa lòng hâm mộ. Ngày ấy, bài thơ Bếp lửa, Về hỏa tuyến thăm con, Tình yêu và báo động và một số bài thơ trong
tập thơ “Hương cây Bếp lửa” in chung với Lưu Quang Vũ, được đông đảo
người yêu thơ khen ngợi, nên Bằng Việt đã sớm có vị trị trong lòng bạn đọc. Là
sinh viên, có tí máu văn chương trong người, ai mà không thuộc những câu thơ mê
đắm của Bằng Việt “Đồi trung du phơ phất bóng thông già/ Trường sơ tán buồn
trong chiều lặng gió/ Những câu thơ đi suốt đời vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc
ngủ trong đầu/ Lẵng qua thông trong suối nhạc nhiệm màu/ Hay Chuyến
xe đêm thẫn thờ mê đắm/ Mùi cỏ dại trên cánh đồng xa thẳm/ Một khoảng trời
vĩnh viễn ướp hương hoa…’ (Nghĩ về Pauxtovsky). Các cậu chàng, cô
nàng bụng đói nhệu nhạo nhai và rướn cổ nuốt khan miếng bột mì nắp vung luộc
cho ấm dạ mà trong đầu vẫn ngân vang những câu thơ như thế của Bằng Việt. Mới
thấy sức mạnh của thi ca ma mị đến cỡ nào. Khi ấy, Bằng Việt thật sự là bậc tiên
thánh thi ca của giới sinh viên Việt cả một thời gian dài.
Phần thơ dịch,
thơ Nga với Olga Bergol, X. Exenin và các tác giả khác (Puskin, Lermontov, Akhmatova,
Gamzatov, Evtusenko); thơ Thổ Nhĩ Kỳ với Nazim Hikmet, Rồi là những F.G. Lorca
(Tây Ban Nha), P Neruda (Chile), P. Eluard (Phap), Y. Ritsos (Hy Lạp)….trong số
các bản dịch của nhiều người thì Bằng Việt cũng nổi trội và được người ta yêu
thích hơn cả. Không dưới một lần, đối thoại văn chương với nhà thơ Trần Đăng Khoa,
chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa, nhận định, Bằng Việt là một trong số ít
người ở xứ ta nếu không muốn nói là số một, dịch thơ nước ngoài hay nhất. Dịch
văn học đã khó rồi, dịch thơ lại càng khó hơn, bởi không chỉ giỏi ngoại ngữ mà
cũng phải rất giỏi tiếng mẹ đẻ (ở đây là Tiềng Việt). Bằng ngôn từ đẹp, trau
chuốt, giàu hình ảnh và nhạc điệu, Bằng Việt đã “Bằng Việt hoá”
những Olga Bergol, Exenin, Pauxtovsky, Nazim Hicmet và tất thảy các nhà thơ thế
giới mà ông đụng đến… Chất thơ ấy được người ta chấp nhận và bị nó ru ngủ khi
nào không hay. Quan trọng là, sau mấy chục năm trời, giờ đọc lại những bài thơ
Bằng Việt dịch ngày ấy vẫn thấy hay. “Trên má mơ hồ tơ nhện bay giăng/ Khe
khẽ như không, nhẹ nhàng phơ phất/ Lanh lảnh bầy chim đi muộn nhặt/ Hoa cuối
mùa sặc sỡ đến âu lo…”, hay là “Sao ơi sao sắp rụng vào đêm/ Ta biết lắm
thời gian đang vĩnh biệt/ Nhưng đến bây giờ ta mới biết/ Yêu thương, giận hờn,
tha thứ, chia ly” (Mùa hè rớt, Olga Bergol) là những câu thơ như
thế. có sức sống mãnh liệt, phần lớn nhờ bản dịch tuyệt vời của Bằng Việt.
Nhân đây, tôi muốn nhìn nhận, lý giải hiện tương Olga
Bergol qua những bản dịch thơ của Bằng Việt, lại được bạn đọc yêu thích ở Việt
Nam một thời gian dài, khiến nhà thơ này thành nổi tiếng, mặc dù thực tế ở Liên
Xô và sau này ở nước Nga bà chỉ nhà thơ tầm trung, bậc thường ít được biết đến.
Trước hết, phải khẳng định, bản dịch thơ của Bằng Việt hay, ngôn ngữ trau
chuốt, đẹp và giai điệu du dương, song không thể bỏ qua sự may mắn ấy là thời
điểm ra đời của bản dịch nâng hiệu ứng hơn lên. Đấy là những năm tháng cuộc
chiến tranh chống chống Mỹ Ngụy thống nhất nước nhà đang độ cao điểm, khi mà
các thế hệ thanh niên, sinh viên ở ta hừng hực khí thế xung phong ra mặt trận
chiến đấu với biết bao hoài bão, lý tưởng về sự cống hiến, hy sinh với khát
khao cháy bỏng,… Thế nên, những vần thơ đầy mộng mơ và đẹp đẽ ấy (cùng với bài thơ
Đợi anh về của K. Simolov qua bản dịch của Tố Hữu, rồi các ca khúc Nga như Bài
ca thanh niên sôi nổi, Chiều hải cảng, Ca-chiu-sa….) như một
sự trợ giúp, một liều thuốc tinh thần nâng đỡ, chắp cánh cho cả một thế hệ. Ấy
là sự may mắn do thời cuộc mang lại không dễ gì có được. Kết quả thì đã rõ, cả
tác giả và người dịch đều thành danh.
Nhớ về quá khứ để có một cái nhìn bao quát về con
người thơ Bằng Việt, dịch thuật và sáng tác nói chung. Bẵng đi nhiều năm, tôi
không chú ý đến thơ Bằng Việt nữa. Bởi nhiều lẽ, tôi tốt nghiệp đại học vào Nam
nhận việc, rôi lang bạt gần chục năm lại ra Bắc làm báo, kiếm ăn với lo toan
thường nhật. Thêm nữa, khi ấy có hàng loạt cậy bút thơ trưởng thành từ chiến
tranh, sau Phạm Tiến Duật là những Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Vương Trọng, Nguyễn Đức
Mậu, Thanh Thảo, Phạm Ngọc Cảnh, Lâm Huy Nhuận, Hoàng Nhuận Cầm… đem đến luồng
sinh khí mới cho thi ca Việt, ít nhiều lấn át chất thơ hàn lâm và lãng mạn hơi
hướng tiểu tư sản một thời. Và lẽ dĩ nhiên, thơ Bằng Việt không thuộc luồng khí
mới mẻ đó. Và chẳng rõ, luồng sinh khi thơ mới mẻ đó có tác động đến Bằng Việt
hay không, song ông cũng không thể sáng tác như trước nữa? Ở vào thời điểm đó,
những năm cuối của thế kỷ 20, thực tế cuộc sống thiếu thốn, khốn khó khiến
người ta không thể sống bằng khát khao lý tưởng hão huyền mà phải vập mặt vào chuyện
cơm áo gạo tiền của cuộc sống hàng ngày trong cơn bĩ cực. Tôi nghĩ, Bằng Việt có
lẽ không quen với bầu không khí này, song ông chẳng thể mãi bay bổng phiêu du
với những vần thơ êm ái ru rín như ông từng dịch và sáng tác ngày nào. Thơ Bằng
Việt vốn cấu tứ không rõ, được kết dính bởi chất trữ tình cùng giai điệu đẹp và
ngôn từ trau chuốt, nên khi mất những yếu tố này thì Băng Việt không còn là
mình nữa. Phải vậy, cái sự “mất mình” của ông là đây chăng?
Quả vậy, sau này, tuyển tập thơ thời
kỳ đổi mới của Bằng Việt cho thấy rõ điều này. Không thể không ghi nhận ý thức
và dụng tâm đổi mới của Bằng Việt, song người ta không thấy ở thơ ông một diện
mạo mới của sự sáng tạo mà chỉ thấy ở đó sự gượng gạo như cố tình làm khác đi
mà thôi. Chẳng rõ, ông có ý thức hâu hiện đại như xu hướng xã hội đương thời
hay không? Thơ ngắn, nghèo nhạc điệu nên ngôn từ suồi suội chuội đi, chẳng hồn
vía gì mà ý tứ thì không rõ, còn triết lý cũng vụn. Cảm giác như ông quên việc
cấu tứ một bài thơ, bởi bấy lâu ông chỉ
quen đến thành quán tính làm đẹp những vần thơ bằng tiếng Việt từ những bài thơ
hay có sẵn của những tác giả nổi tiếng. Có cảm giác, thơ thời kỳ đổi mới của
ông cứ nằm đâu đó bên ngoài cuộc sống. Lại như, sự nổi trội và thành công của
dịch thơ khiến Bằng Việt như người đi trên mây và ông không muốn xuống và cũng
không b iết xuống mặt đất bằng cách nào. Ngỡ có một Bằng Việt hoàn toàn khác,
chẳng dính líu gì đến Bằng Việt xưa, mà cũng chẳng thấy một sự tiếp biến nào
của hai thời kỳ. Song ông cũng không thể viết như xưa cũ, nên thành ra “đi
mắc núi trở lại mắc song”. Hơn ai hết, hẳn ông tự hiểu tình trạng này của
mình. Có thể nói, Bằng Việt đã mất mình với phần thơ sau này. Thực tình, tôi cứ
mong rằng mình kém cỏi nên chưa hiểu dụng tâm đổi mới của Bằng Việt, cũng như
việc chưa tiêu hóa được các tác giả hậu hiện đại và hy vọng đến một ngày nào đó
ngộ ra chăng?
Bằng cớ, mới gần đây, Bằng Việt gửi đến Tạp chí Nhà
văn & cuộc sống bài thơ “Đọc lại Dế mèn phiêu lưu ký”,
khi biên tập xếp số, tôi thấy bài thơ là lạ, khác với những bài thơ đổi mới sau
này của Bằng Việt. Hơi thơ cu cũ, ngôn từ khang khác. Bài thơ như bị chia thành
hai mảnh, Mảnh đầu đặc cũ “Một chút gì trong vắt, quá mong manh/ Như dĩ vãng
xa xưa thức dậy/ Bỗng phấp phỏng yêu đời biết mấy/ Nhớ về tuổi thơ, những vầng
sáng lạ lùng/ Nhớ da diết một hang rào dâm bụt/ Một goc bình yên, thu vén bên
trong…” Những khổ thơ sau, hơi thơ cu cũ nhưng ngôn từ không cũ cũng chẳng
mới lại có phần lộ cộ không yên vị, thiếu trau chuốt. Tôi đem điều này hỏi Bằng
Việt. Ông ngẫm nghĩ chút, bảo: “Cậu thấy thế à? … Tinh đấy. Bài thơ này,
mình khởi thảo từ cuối những năm 70, nhưng thấy không ổn mình để lại. Quãng
những năm hai nghìn mình viết lại nhưng vẫn giữ khổ thơ đầu. Nhưng rồi vẫn chưa
ổn nên mình không đưa vào tập nào cả. Gần đầy, mang viết lại nhưng vẫn giữ
nguyên khổ thơ đầu.”. Bằng Việt nhìn xa xôi đâu đó. Có lẽ, câu chuyện đưa
ông về dĩ vãng, một thời vàng son của Bằng Việt?...
Biết là ông vẫn chăm dịch thơ. Nghe nói, ông sử dụng
được mấy ngoại ngữ. Không chỉ dịch xuôi, Bằng Việt còn dịch ngược, ví như ông
dịch thơ Nguyễn Đình Thi sang tiếng Pháp. Chẳng rõ chất lượng ra sao, nhưng
thực tâm, tôi không mấy tin. Chỉ cảm phục nỗ lực và sự cần mẫn theo đuổi thi ca
của một người cả đời mải miết đi tìm cái
đẹp. Mải miết đến quên mình. Chí ít, khi dịch thơ, ông vẫn có thể “Bằng
Việt hoá” thơ thiên hạ, bởi đấy là sở trường của ông, lĩnh vực đã làm
nên tên tuổi và sẽ vẫn tiếp tục lưu giữ tên tuổi ông trong lòng người yêu thơ
xứ Việt mình !?...
Giờ đây, dịch thơ, tôi nghĩ, vẫn là nơi nương náu tốt
nhất của hồn thơ Bằng Việt?!... Những mong
còn được đọc những bài thơ dịch tuyệt vời của ông…


Nhận xét
Đăng nhận xét