CHÂN DUNG NHÀ VĂN PHÙNG QUÁN (cập nhật)

 


@@@


Phùng Quán,

Đi trọn đời mình trên con đường sự thật

 

          Nói đến nhà văn Phùng Quán, người ta nhắc nhớ đến thân phận long đong, cuộc đời chìm nổi “cá trộm văn chui” và mấy tác phẩm văn học của ông là tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo”, tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”, cùng đó ông có một người cậu nổi tiếng, nhà thơ Tố Hữu,… Nhưng theo tôi, “Ba phút sự thật” mới là tác phẩm để đời và xuất sắc của Phùng Quán. Song trước khi bàn về điều này, tôi kể về một lần duy nhất tôi diện kiến nhà văn Phùng Quán trong một hoàn cảnh ấn tượng và trớ trêu,…

Tôi diện kiến Phùng Quán trong không khí đổi mới về văn nghệ, đâu khoảng năm 1989 hay 1990. Trước đó, hàng loạt văn nghệ sỹ thuộc diện có vấn đề trước đây, người trước kẻ sau xuất hiện trở lại với các sáng tác đăng rải rác trên báo, hoặc xuất bản cái mới, tái bản cái cũ như Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hà Minh Tuân, Văn Linh, Vũ Bão ... Riêng Phùng Quán tái xuất giang hồ văn chương với bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, và đã thành công vang dội. Sự thành công của bộ tiểu thuyết cùng người cha tinh thần của nó đã vượt ra khỏi địa hạt văn chương tràn sang cả điện ảnh khi nó được chuyển thành phim truyện. Bộ phim cùng tên do đạo diễn Vinh Sơn dựng.

          Lần ấy, nhà thơ Trần Phương Trà (Trần Nguyên Vấn) rủ tôi và một vài đàn em báo chí đến dự buổi chiếu phim ra mắt bộ phim Tuổi thơ dữ dội do Hội đồng hương Huế tại Hà Nội tổ chức ở Hội trường Bộ Tài chính cũ nằm trên phố Phan Huy Chú, Hà Nội, vào một ngày chủ nhật. Tôi nhớ, người đến dự khá đông, phần lớn là những ngưòi lớn tuổi nói giọng Thừa Thiên Huế, số ít là thân nhân gia đình họ và bạn bè kéo theo xem ké vì hiếu kỳ. Trước buổi chiếu, ban tổ chức có đôi lời phi lộ, rồi mời Phùng Quán lên phát biểu cảm ơn. Phùng Quán lên, chưa kịp nói gì mọi người đã vỗ tay hoan nghênh, không khí khá náo nhiệt. Hình như, sau nhiều năm sống lặng lẽ trong lãng quên, bầu không khí náo nhiệt ấy và tấm thịnh tình của mọi người, ông lặng đi. Hắng giọng mấy lần rồi ông cũng lên tiếng, giọng hơi run vì quá xúc động. Ông nói chậm rãi, đưa mắt quan sát khắp hội trường, tý nghe ngóng xem người ta đón nhận mình thế nào. Rồi giây phút ấy qua nhanh, ông nói liền mạch và cũng đỡ xúc động hơn. Tôi không nhớ lắm những gì ông nói, song cũng chỉ loanh quanh việc tiểu thuyết của mình được xuất bản, được dựng thành phim và cảm ơn những người đồng hương, anh em bạn bè và đông đảo độc giả khán giả đã đón nhận... Khi ông đang say sưa nói, chợt có một người đứng tuổi, ngồi phía sau hàng ghê chúng tôi, đứng lên, nói rất to, đại ý rằng, Phùng Quán không được nói thế, định nhân cớ mượn diễn đàn tự minh oan hay diễn thuyết gì ở đây ? Hãy xuống đi. Phùng Quán khựng lại, tắc nghẹn họng. Tôi thấy, miệng ông há ra, không thành lời và cũng không khép lại được, như cá đớp không khí khi mắc cạn vậy. Thật khó mà biết được diễn biến tình cảm, tâm lý ông lúc ấy. Dáng người thô ráp khắc khổ của ông sụn xuống. Trong sự ngạc nhiên, sự bất bình phản đối của nhiều người với ý kiến của người vừa nói, ông cố gắng như kẻ  ngọng tập nói cho sõi mấy câu cảm ơn ngắn rồi xin phép xuống. Giọng ông tôi thấy có nước mắt !... Buổi chiếu phim bắt đầu khi mọi người vẫn còn ấm ức bàn tán khen chê, bày tỏ thái độ và sự phân bua của chính người lên tiếng cắt ngang vừa nãy... 

          Cả buổi chiếu phim rất dài, mặc dù nhiều tình tiết phim cuốn hút, song tôi không tài nào gạt bỏ được hình ảnh Phùng Quán trước buổi chiếu. Ông ngồi ở hàng ghế đầu, cách chúng tôi vài hàng, nên tôi chỉ thấy cái đầu bù của ông nhô lên trong bóng tối. Và dường như nó cứ to lên, to lên dần, choán hết màn ảnh. Có lẽ do chịu ảnh hưởng của sự việc vừa rồi nên tôi thấy thế chăng ? Tôi không phán xét việc làm của người nọ đúng sai thế nào, nhưng với Phùng Quán, ứng xử với ông như vậy thì có gì đó bất nhẫn, thậm chí là tàn nhẫn. Thực lòng, khi ấy, tôi cũng thấy bực người đã to tiếng làm gián đoạn lời phi lộ của Phùng Quán.  Đoạn kết, bộ phim dừng ở chi tiết khá đắt, đó là chú bé Mừng bị đồng đội, bạn bè nghi ngờ phản bội, chú đã kêu lên rằng Tôi không phản bội . Tiếng kêu ấy vang vọng khắp núi rừng, núi rừng nghe thấy đấy, song đồng đội có biết cho chăng? Chẳng cần phải liên tưởng gì thì người ta cũng nghĩ rằng, chú bé Mừng ấy là Phùng Quán, nếu không, chí ít cũng kêu hộ nỗi lòng Phùng Quán? 

          Trước khi bàn v ề văn chương Phùng Quán, cùng xin nói đôi chút về chuyện vì sao người ta gán cho ông là “cá trộm văn chui” để những ai còn chưa rõ biết. Cả một thời gian dài khi ông bị quy chụp nghi kỵ này nọ, Phùng Quán bị mất việc làm, không có thu nhập, cuộc sống khó khăn mọi bề, thiếu thốn miếng ăn vào miệng. Vợ ông, bà Bội Trâm dạy học ở trường Chu Văn An, Hà Nội, nên người ta thương tình để vợ chồng ông ta túc trong một túp lều trên đất nhà trường gần mép Hồ Tây. Vì túng thiếu, Phùng Quán hay câu trộm cá hồ để thêm miếng ăn hàng này. Rồi nữa, để có thu nhập, ông ngầm viết báo, viết văm ký tên khác, hoặc nhờ bạn bè đứng tên, gửi đăng báo đặng thêm thắt chút nhuận bút hỗ trợ vợ phần nào trang trái cuộc sống. Lâu thành quen, thế nên những bạn bè thân thiết bông đùa mà gán cho Phùng Quán biệt danh như vậy. Nghĩ mà cám cảnh cười buồn!...

Sự nghiệp văn chương của ông, trừ những tác phẩm viết cho thiếu nhi ký bút danh hoặc mượn tên người khác  (văn chui), còn lại đều được. Tuy nhiên, tôi không thích lắm, dù rất quý trọng sự chân thật và thô nhám trong văn của ông.  “Vượt Côn Đảo”, tiểu thuyết Phùng Quán viết khi còn trẻ, nghe qua lời kể rồi viết, nhiều người khen tài, nhưng tôi nghĩ không phải là gan ruột của ông, nên đó chỉ là tấm giấy thông hành để  Phùng Quán theo con đường văn chương cách mạng. Đến bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” mang tính tự truyện nên ông vẫn có phần rụt re, e ngại trên hành trình đi tìm sự thật và thiên về việc mình oan cho mình, vả lại khi đó ông vừa trở lại văn đàn sau nhiều năm bị hạn chế, cấm đoán. Song đến tập ký nhân vật “Ba phút sự thật” (NXB Văn nghệ- Tp.Hồ Chí Minh-2006) thì là một diện mạo khác hẳn, khiến tôi vừa kính phục vừa thích thú. Bài đầu tiên của tập là một tuyên ngôn nghệ thuật của Phùng Quán, những câu chuyện, những con người trong cả tập sách đều đáng nể. Tôi đặc biệt thích các thiên hồi ký về Tuân Nguyễn, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Phùng Cung... Đọc tác phẩm này, tôi bất ngờ về tài viết tiểu luận và chân dung văn học của Phùng Quán. Quan trọng hơn, qua đây người ta còn có thể thấy được nhân cách của ông là thế nào. Viết về nhân vật, các bạn văn của mình, bằng nỗi đau đời và sự khách quan lạnh sắc, ông khắc họa đặc sắc chân dung họ mà lại hiện rõ cả diện mạo chính mình. Cả nhân vật và tác giả chung nỗi đau thấu xương tủy nhưng lại ấm áp chứa chab tình người đến khôn cùng. Tài tình là ở đấy. Không có gì là quá, khi bài sau cuốn sách trích bài viết Đứa con không quên lời mẹ dặn của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về cuốn sách này  : "Đây là một lời tự bạch phản ánh chân thực nhân cách nhà văn của Phùng Quán: Khát vọng suốt đời về sự thật. Bởi sự thật không phải là thứ có sẵn như chiếc bật lửa trong túi áo, mà chính là số phận và khát vọng của Nhân Dân. Nhân Dân là Người Mẹ đẻ đau mang nặng để sinh ra đứa con làm Nhà Văn, và vì thế, đứa con Phùng Quán suốt đời không quên Lời Mẹ dặn: Người làm xiếc đi trên dây rất khó/ Nhưng không khó làm bằng nhà văn/ Đi trọn đời mình trên con đường chân thật".

          Tôi nghĩ, ngoài những cảnh huống cuộc đời truân chuyên vất vả mưu sinh “văn chui cá trôm”, về tác phẩm, cùng với bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, sau là tập bút ký và chân dung văn học Ba phút sự thật, nhà văn Phùng Quán đã thực hiện được lời mẹ dặn, là : Đi trọn đời mình trên con đường sự thật !...

          Gần đây, trong một lần đối ẩm trà với nhà thơ Trần Đăng Khoa ở tòa soạn tạp chí Nhà văn & cuộc sống của Hội Nhà văn Việt Nam, chuyện về các nhà văn, nhân nhắc đến nhà văn Phùng Quán, ông kể một câu chuyện thú vị về Phùng Quán. Chuyện rằng, chừng đâu năm 1968, Phùng Quán đã về nhà Trần Đăng Khoa ở Trực Trì, Nam Sách, Hải Dương (khi đó ghép tỉnh là Hải Hưng). Phùng Quán kẽo kẹt đạp xe từ Hà Nội về, ý chừng muốn xem cậu bé được mệnh danh là “thần đồng thơ” này ngô khoai ra sao. Lần ấy, chuyện chán rồi Phùng Quán lựa lời hỏi thần đồng: “Cháu thấy thơ của nhà thơ Tố Hữu thế nào? Không hay ở chỗ nào?”. “Cháu thấy thơ chú ấy hay ạ”- Trần Đăng Khoa bảo thế, song cứ nhìn thái độ và cái cách ông hỏi thì hình như ông ấy chờ đợi câu trả lời ngược lại. Khoa lại bảo “Nhưng chú ấy cũng ối chỗ viết không đúng”. Phùng Quán thích thú xoắn lấy ngay “Không đúng ở chỗ nào?”. Khoa  bảo “Ví như bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, chú ấy viết “Chúng bay chỉ một đường ra/ một là tử địa hai là tù binh”, vậy là hai đấy chứ,... Sao chú ấy không viết,  Chúng bay chỉ đường ra,  như thế câu sau một hai gì cũng đúng hơn không”. Rồi thần đồng còn dẫn thêm mấy chỗ nữa mà theo cậu là không chính xác trong thơ Tố Hữu, khiến Phùng Quán ngạc nhiên thích thú,... Hôm ấy, Phùng Quán còn lôi Khoa đi câu, bằng cần câu lưỡi chùm không dùng mỗi mà ông cất công mang theo về. Kết quả chẳng được con cá nào. Chú cháu về tay trắng. Giờ nhắc lại chuyện cũ, Trần Đăng Khoa cười toét miệng bảo: “Ao làng khi ấy chỉ toàn đòng đong cân cấn, cá cờ, thi thoảng mấy con rô ron giếc cặn sót lại thì lấy cá đâu cho ông ấy câu giật cơ chứ,...Đâu có lắm chép kềnh mè khủng như Hồ Tây để ông ấy câu giật....”. Trần Đăng Khoa còn đồ rằng, mình chỉ nói điều ấy với riêng Phùng Quán hôm đó, nhưng sau này thiên hạ cứ đồn Trần Đăng Khoa dám sửa cả thơ Tố Hữu, có lẽ từ đấy mà ra rồi thiên hạ thêu dệt thêm lên, ...?

Theo Trần Đăng Khoa, khi ấy, Phùng Quán đã khác người, bởi có cái nhìn khác, mặc dù Phùng Quán họ hàng gần gũi với Tố Hữu, gọi Tố Hữu bằng cậu, trong khi người ta, bao gồm cả những nhà thơ lớn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học uy tín đều tung hô, ngợi ca hết lời thơ Tố Hữu. Phùng Quán thì không. Điều ấy, đủ thấy nhân cách và bản lĩnh ông như thế nào!

          Tôi nghĩ, không sùng bái kẻ trên, đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc và chia sẻ với những người bị vùi dập, ấy là phẩm cách của Phùng Quán. Vì vậy, ông mới viết nên các chân dung lay động tâm can về Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Tuân Nguyễn, Phùng Cung,... trong cuốn sách Ba phút sự thật để đời của mình.

          Đó cũng là cái cách nhà văn Phùng Quán “Đi trọn đời trên con đường chân thật” ./.

 



Nhận xét