NGUYỄN CU N
(Biên soạn)
Rong chơi miền Đường thi
(Bình luận văn chương)
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
Chỉ Là chuyện
rong chơi
Chỉ là chuyện rong chơi.
Xin khẳng định, đúng như vậy, thưa các thi hữu!
Khởi thủy của tập sách Rong chơi miền Đường thi này từ mục Thơ Đường của Blog ngẫm &
viết trên nền tảng blogtiengviet.net.
Khi thiết lập mục Thơ
Đường, đơn thuần, chủ bút chỉ nghĩ, có thêm một chuyên mục, đặng thư nhàn
rong chơi miền thơ phú, hay ngâm vịnh vui thú lúc trà dư tửu hậu cùng bạn bè; hay nữa, thỏa mãn cái tôi - tâm trạng mình, nhất là những khi tiết trời thay đổi hoặc
có việc phải ngẫm ngợi...
Với tâm thế và suy nghĩ như vậy, chủ bút chỉ chọn lựa
những bài thơ trong số hơn ba trăm bài thơ Đường đã được lưu hành phổ biến hiện
có. Và trong số đó, có những bài rất nổi tiếng, lại có những bài ít người biết,
miễn là mình cảm nhận được, thấy hay, thấy ý nghĩa và phù hợp với sở thích và
tâm trạng mình. Chính vì vậy, khi có bạn bè khuyên nên chọn bài này, bài kia,
vì lí do này nọ, thì chủ bút cũng xin được cáo lỗi, không dám nghe theo.
Về nội dung và cấu trúc mỗi bài trong cuốn sách này, hầu
hết được sắp xếp theo trình tự (nếu đầy đủ)
như sau:
- Lời
dẫn, theo dạng tản văn, hoặc tiểu luận, bình luận ngắn.
- Lời giới thiệu tóm tắt về tác giả, hoặc xuất xứ
tác phẩm.
- Bài thơ, bản chữ Hán.
- Bài thơ, bản âm Hán Việt.
- Bài thơ, bản dịch nghĩa.
- Tham khảo một số bản dịch trước (nếu có).
- Bài thơ, bản dịch thơ của mọi người.
- Lời bàn thêm, hoặc chú giải (nếu có).
Thiết nghĩ, để tránh những hiểu lầm hoặc tranh luận không cần thiết, chủ bút xin được kiến giải đôi điều:
Thứ nhất: Hầu
hết các tác giả tham gia dịch thơ Đường, có bản dịch được tập hợp trong cuốn
sách này, đều là các blogger hoặc bạn
đọc thân thiết của blogtiengviet.net,
là bạn bè với chủ bút, đã từng gặp gỡ, hoặc giao lưu thân thiết với nhau qua
không gian ảo bấy lâu nay.
Thứ hai:
Khi chọn các bản dịch thơ Đường vào tập sách, chủ bút đã có lời thưa gửi cẩn thận,
xin phép mọi người được đưa bản dịch từ dạng cảm nhận (comment) trên blog ngẫm & viết thành
bản dịch riêng; kể cả việc
xin phép đề tên thật, hay là bút danh vào mỗi bản dịch thơ.
Sau khi xin ý kiến, chủ bút tôn trọng ý muốn của mọi người.
Thứ ba: Về chất lượng các bản dịch thơ.
Như đã kiến giải, tên sách và tiêu chí chọn dịch, cũng
như việc bàn luận thơ Đường ở đây là rong
chơi. Mà đã là rong chơi thì phải
thoải mái, thoát khỏi những ràng buộc chặt chẽ...
Vậy nên, với mỗi bài thơ Đường được chọn ở đây, từ đề
dẫn đến bản dịch đều khá cởi mở. Bản thân chủ bút, biết chút chữ Hán, nên khi
chọn, đã dựa theo những bài thơ Đường
có bản chữ Hán hiện được lưu hành, tham khảo thêm và chỉ dịch nghĩa. Về người tham gia dịch thơ, phần lớn không biết chữ
Hán, nhưng có lòng yêu thích thơ Đường, đã dựa theo bản dịch nghĩa để dịch
thành thơ; có người bám sát ngữ nghĩa và khi dịch tuân thủ niêm luật chặt chẽ của
các thể thơ Đường (tứ tuyệt, thất ngôn
bát cú, ngũ ngôn...); lại cũng có người dịch thoát ý, chuyển dịch theo các
thể thơ cổ truyền Việt Nam (lục bát, song
thất lục bát), thậm chí, có người
chuyển thành thơ tự do, hoặc chỉ phỏng dịch mà thôi...
Về cơ bản, khi xem xét các bản dịch của mọi người, chủ
bút không quá câu nệ vào thể thơ hay niêm luật chặt chẽ của thơ Đường, mà chỉ
nhìn nhận về ý tứ, câu chữ và nhịp điệu của thơ mà thôi. Tự thân, chủ bút rất ít dịch thành thơ,
mà chỉ dịch thơ khi cảm thấy
tâm đắc,
hoặc thấy cần thiết nhằm tạo nên sự phong phú, đa dạng về bản
dịch.
Cũng có người khuyên chủ bút nên đối chiếu các bản dịch
thơ ở đây với các bản dịch có sẵn xem có trùng
nhau hay không. Việc này, quả là một việc khá kì công và cũng rất khó khi phải
đối chiếu, để kiểm soát, vậy nên, chủ bút xem việc ấy thuộc về ý thức tự trọng
của mỗi người khi tham gia dịch thơ.
Thứ tư:
Vì là thú chơi, nên khi làm sách, chủ bút không đặt vấn đề lợi nhuận,
hay mục đích nào khác.
Sau khi xin phép các tác giả có bản dịch thơ, biên tập thành sách, chủ
bút tự tìm nguồn kinh phí hỗ trợ từ bạn bè và người thân để in sách với số lượng
hạn chế, chủ yếu đủ để tặng sách các tác giả có bản dịch (thay cho nhuận bút), và tặng bạn bè, người quen vốn yêu thích thơ
Đường. Tuyệt nhiên, không có chuyện mua bán, lợi nhuận gì từ việc xuất bản và
phát hành tập sách này.
Thứ năm: Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, cùng
đó là sự trợ giúp tận tình từ các thi hữu và bạn bè nói chung, song cũng khó có
thể tránh khỏi những sơ suất về nội dung hay
hình thức của tập sách. Mong các cộng tác viên và độc giả lượng thứ.
Chân thành cảm ơn!
Hà Nội, mùa thu 2017
NGUYỄN CHU NHẠC
Cuộc
đời Là giấc mộng Lớn
1. Xuân nhật túy khởi ngôn chí
Đây là bài thơ thuộc
diện hay nhất của Lý Bạch, đời Đường (Trung Quốc). Với hết thảy những ai yêu thơ Đường đều biết đến bài
thơ này. Bài thơ nổi tiếng không chỉ
bởi nó là một trong các bài thơ Lý Bạch viết về rượu, hoặc viết trong các trận
say triền miên của cuộc đời ông, mà còn bởi, nó bộc lộ nhân sinh quan của Lý Bạch.
Ø
Nguyên tác chữ Hán:
春日醉起言志
處世若大夢,胡爲勞其生。所以終日醉,頹然臥前楹。
覺來 盼 庭前,一鳥花間鳴。 借問此何日,春風語流鶯。感之欲歎息,對酒還自傾。浩歌待明月,曲盡已忘情。
Ø Bản âm Hán Việt:
Xuân nhật túy khởi ngôn chí
Xử thế nhược đại mộng, Hồ vi lao kì sinh?
Sở dĩ chung nhật túy.
Đồi nhiên ngọa tiền doanh,
Giác lai “phán“ đình tiền. Nhất điểu
hoa gian minh, Tá vấn thử hà nhật?
Xuân phong ngữ lưu oanh.
Cảm
chi dục thán tức, Đối tửu hoàn tự khuynh. Hạo ca đãi minh nguyệt.
Khúc tận dĩ vong tình.
Ø
Dịch nghĩa:
Ngày xuân say rượu tỉnh dậy tỏ chí mình
Ở trên đời giống
như trong giấc mộng lớn, Làm chi cho vất vả thân mình.
Cho nên suốt
ngày ta say sưa, Nằm lăn quay ra ngủ trước hiên.
Lúc tỉnh dậy
ngó ra phía trước sân, Thấy một con chim hót trong
khóm hoa.
Những muốn hỏi người ta, hôm nay là ngày gì,
Mà con chim oanh bay chuyền học nói trong gió xuân? Xúc cảm trước
cảnh ấy, ta muốn thở than,
Đối cảnh ấy
ta tự nghiêng bầu rượu. Cất tiếng ca vang, đợi chờ trăng sáng,
Ca hát xong, ta quên cả mối buồn tình cũ.
Ø
Bản dịch thơ của Tản Đà:
Ở đời như giấc chiêm bao
Cái thân còn đó, lao đao làm gì? Cho nên suốt buổi say lì,
Nằm lăn trước cột, biết gì có ta. Tỉnh thôi đưa mắt sân nhà,
Một con chim hót bên hoa ngọt ngào. Hỏi xem: nay đó ngày nào?
Ngày xuân gió mát, vui chào tiếng oanh. Ngậm ngùi cám cảnh sinh tình,
Nghiêng bầu, mình lại với mình làm vui. Hát ran, chờ tấm trăng soi,
Thoạt xong câu hát thời rồi đã
quên.
Ø
Bản dịch thơ của Ngô Tất Tố:
Ở đời như giấc chiêm bao
Làm chi mà phải lao đao cho đời? Vậy nên say suốt hôm mai,
Bên cây cột trước, nằm dài khểnh chân Tỉnh rồi, chợt ngó trước sân
Tiếng chim đâu đã nghe gần trong hoa Ngày chi? Thử hỏi cho ra,
Gió xuân đương giục oanh già véo von Cảm thương, lòng những bồn chồn
Đoái thương
cảnh vật, dốc luôn chén quỳnh
Hát ngạo chờ bóng trăng thanh
Lời ca chưa hết, mối tình đã
quên.
Ở đây, chỉ dẫn ra bản dịch của Tản Đà, Ngô Tất Tố, là
những người giỏi Hán Nôm và am tường về thơ Đường. Điều tôi muốn bàn là về dị bản,
về các bản dịch khác, và những giai thoại, vấn đề liên quan đến bài thơ nổi tiếng
này của Lý Bạch.
2. Bàn thêm về Xuân nhật túy khởi ngôn chí của Lý Bạch
“Tuy nhiên, hình như Lý Bạch ''nói” vậy
mà lại không hoàn toàn làm như vậy
(?) Bằng chứng: Đường Thư và Sử kí có ghi lại nhiều hoạt động triều chính của ông, nhưng hoạt động đó đôi
lúc có tác động khá rõ rệt tới hoàng đế đương triều và giúp cân bằng thế lực
trong đội ngũ đại thần”. Có lẽ đó là một “Nhà văn hóa” làm chính
trị theo cách rất riêng của mình chăng?”.
Đây là lời bàn của một bạn văn của tôi khi anh bàn về
bài thơ Xuân nhật túy khởi ngôn chí.
Cơ bản, tôi đồng ý với ý kiến này. Song trước khi bàn thêm về
điều này, tôi muốn lưu
ý đôi chút về dị bản của bài thơ.
Trong số bốn tập thơ Đường hiện tôi có trong tay, thì
ba tập thấy có văn bản bài thơ Xuân nhật
túy khởi ngôn chí (XNTKNC). Tiếc là, riêng tập Đường thi tam bách thủ của Hành Đường Thoái Sĩ (Trung Quốc) lại không thấy có bài thơ
này.
Trong ba tập có bài thơ XNTKNC, thì bản chữ Hán, câu
thơ thứ 5 là: 覺來 盼 庭前 (âm Hán Việt: Giác lai "phán" đình
tiền, có nghĩa là: chợt tỉnh dậy nhìn ra
sân trước). Điều đáng nói ở đây, cùng mẫu tự Hán như nhau (盼), song bản
âm Hán Việt lại khác nhau (đó là: phán, miên, miện).
Vậy, âm Hán Việt thế nào là chính
xác?
Căn cứ vào Từ điển
Hán Việt của Đào Duy Anh, và Từ điển
Hán Việt của Thiều Chửu, thì các từ trên có nghĩa như sau:
+ miên: ngủ, giấc ngủ, tình trạng mơ màng.
+ miện: liếc mắt, nhìn.
+ phán: nhìn một cách đẹp đẽ, nhìn mơ mộng.
Nếu chỉ căn cứ vào ngữ nghĩa của từ và văn cảnh của
câu thơ, bài thơ, thì cả 3 cách dùng từ nêu trên đều có thể chấp nhận được.
Tuy nhiên, nếu căn cứ vào mẫu tự Hán,
thì 盼, là từ
phán (chứ không thể đọc là miên, hoặc miện).
Vậy nên, câu thơ này đọc là: "Giác lai phán đình tiền", trong khi
chưa có bản gốc chữ Hán (hoặc những văn bản
khác) để đối chiếu, so sánh...
Riêng tôi, tôi thích cách dùng từ phán hơn.
3.
Với Thi Tiên Lý Bạch, cuộc đời là giấc
mộng lớn.
Nói đến Đường thi-đỉnh cao của nền thi ca Trung Hoa và
nhân loại nói chung, người ta không thể không nhắc đến Tứ trụ, đó là Lý Bạch - Bạch Cư Dị - Đỗ Phủ - Vương Duy. Trong cuộc
đời mình, cả bốn vị này đều từng làm quan, lớn nhỏ khác nhau. Và người đời sau tôn xưng: Thi Tiên-Lý
Bạch, Thi Thánh-Đỗ
Phủ, Thi Phật- Vương Duy. Cả ba vị này sống
cùng thời Thịnh Đường, riêng Bạch Cư Dị sống thời sau-thời Vãn Đường.
Trong số đó, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy
chịu ảnh hưởng của Nho-Phật, riêng Lý Bạch lại là Nho-Đạo giáo,
nghĩa là ông thi thư theo Nho giáo, song lại nghiêng về Lão Trang,
thích ngao du thưởng ngoạn, tu tiên...
Hiểu chung về Lý Bạch là vậy, song cuộc đời ông lắm
truân chuyên, quan trường đã trải, tù tội cũng từng...
Lý Bạch, tự Thái Bạch (701-762), gốc gác mãi vùng Lũng
Tây (nay thuộc tỉnh Cam Túc), đến đời
nhà Tùy, thì tổ tiên dời đến sinh sống tại đất Ba Thục (nay là tỉnh
Tứ Xuyên). Làng quê ông có tên là Thanh Liên, vì thế, ông lấy hiệu là Thanh Liên cư sĩ.
Từ năm 25 tuổi, ông bắt đầu ngao du khắp chốn, mong được
thi thố tài năng, song mãi đến năm 42 tuổi mới được người quen tiến cử vào kinh
đô Tràng An. Vua Đường Huyền Tông phục tài năng của Lý Bạch, song lại không mấy
ưa tính tình phóng khoang, ngạo mạn, không câu nệ trên dưới của ông, nên chỉ
coi là khách, dùng để xướng họa thơ phú làm vui. Vì thế, ông sinh chán ngán, bỏ
triều mà dấn vào cuộc đời phiêu lãng, thù tạc, say sưa tửu nguyệt, thi họa làm
vui...
Loạn An Lộc Sơn và Sử Tư Minh xảy ra, ông theo phò
hoàng tử Lý Lân. Khi ấy, vua Đường Huyền Tôn bỏ kinh đô Tràng An, chạy loạn vào
Ba Thục. Thái tử Lý Hanh lên ngôi vua, phong cha là Huyền Tôn làm Thái thượng
hoàng, liền xảy ra mâu thuẫn giữa Lý Hanh và Lý Lân. Lý Bạch xung quân đội của
Lý Lân. Lý Lân thua, quân đội của Lý Lân bị bắt và giết chết hết, tan rã. Lý Bạch
cũng bị bắt. Do công lao và tài cán, nên vua Đường-Lý Hanh không giết, chỉ cho
hạ ngục Lý Bạch. Sau nhân xảy ra hạn hán, vua Đường (Lý Hanh) đại ân xá cho tù
nhân, Lý Bạch mới được thả. Ông về sống ở tỉnh Giang Tô, sau bị ốm rồi chết.
Ông có nhờ cậy người chú làm quan, soạn tập thơ Thảo Đường, đấy cũng là tập
thơ đầu tiên của Lý Bạch được in ấn.
Hiện lăng mộ Lý Bạch ở chân núi Thanh (thuộc tỉnh Giang Tô). Về cái chết của ông, cũng lắm giai
thoại, ý kiến khác nhau. Xét theo tiểu sử, nhiều người cho rằng ông chết do bệnh tật (phiêu bạt, say sưa
quanh năm suốt tháng, bản thân lại bị tù tội). Còn thiên hạ yêu thơ, thì lại thiên về
giai thoại, cho rằng ông chết đuối, do một lần đi thuyền đêm trên sông,
quá say sưa, nhảy xuống sông vớt bóng trăng dưới nước mà chết. Quả là, cái chết thi-tửu-nguyệt ấy của Lý Bạch thật
đẹp (nếu đúng là sự thật).
Xuất phát từ cá tính, cuộc đời chìm nổi, theo quan niệm
Lão Trang, đam mê tửu nguyệt, ngâm vịnh, thích ngao du thưởng ngoạn, nên việc
Lý Bạch coi cuộc đời là giấc mộng lớn -
là hợp lí hợp tình. Không riêng gì ở bài thơ Xuân nhật túy khởi ngôn chí, mà trong các bài thơ nổi tiếng khác về
tửu nguyệt (như: Tương Tiến tửu, Đối tửu,
Xuân nhật độc chước, Nguyệt hạ độc chước v.v...), ông đều bộc lộ quan niệm này. Quan niệm đó, chi phối ý
nghĩ, cách đối nhân xử thế, tư tưởng, cuộc đời và thi ca của ông.
Và như vậy, nó trở thành nhân sinh quan của
Lý Bạch.
4. Một số bản dịch khác bài thơ Xuân nhật túy khởi ngôn chí
Hiện bài thơ này có nhiều người đã thử sức dịch. Không
kể các bản dịch của bác bậc túc nho, một số bạn văn thơ của tôi đã dịch:
Đời người
một giấc mộng đào
Tội gì khuya sớm thấp cao ống quần
Nghê nga bí tỉ xoay vần
Cơn mê mẩn với bao lần ngủ hiên Vật mình tỉnh giấc mơ tiên
Sân nhà chim hót nhãn tiền hoa tươi Hôm nay ngày mấy hả người?
Xuân nồng nàn tiếng chim trời ca vang Xúc cảm này muốn thở than
Cảnh tình bầu bạn nghiêng tràn cổ be Trăng ngàn khúc hát đồng quê
Tình buồn tan tác bay về trời xanh…
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Đời giống giấc mộng lớn
Sao lại phải lao đao?
Suốt
ngày ôm be rượu Ngủ say trước hiên nào Chợt tỉnh nhìn ra ngõ Chim hót khóm hoa chao
Hôm nay ngày gì nhỉ?
Giọng oanh gió đón chào Cám cảnh muốn than thở
Đối tửu nghiêng bầu cao
Ca vang dưới trăng
sáng Quên phắt tình ngày nào.
(Vũ Đức Tân
dịch)
Đời
như giấc mộng lớn Vất vả chi cho phiền Suốt
ngày ta say khướt Lăn quay ngủ trước hiên Tỉnh
dậy ngó phía trước
Chim hót trong khóm hoa
Hôm nay ngày nào nhỉ?
Tiếng xuân chim oanh ca
Ta thở than xúc cảm
Đối cảnh nghiêng trời cao
Ca vang vầng trăng sáng Quên tình buồn năm nao.
(Đặng Đình
Nguyễn dịch)
Đời
người tựa giấc chiêm bao Cớ sao cứ phải lao đao nhọc lòng Ngày dăm ba chén rượu nồng
Hiên nhà say ngủ cho lòng thảnh thơi Tỉnh say sân trước ngó chơi
Líu lo oanh đã thả lời trong hoa Giật mình ướm hỏi người ta
Ngày gì oanh hót mượt mà sáng xuân Buồn đâu gợi cảnh xa gần
Bầu ngiêng thêm chén cho lòng nhẹ vơi Nghêu ngao chờ ánh trăng soi
Hát xong quên hết sự đời buồn vui.
(Trần Quê dịch)
Đối thử thạch thượng nguyệt, phong thái Lý Bạch
Ngày xuân (Bính
Thân), mỗi ta đều lấy chén rượu làm vui. Khi cụng li dăm ba người; lại khi,
nâng chén một mình. Dù thế nào, ta cũng được ở bên gia đình, người thân, bạn hữu...
Uống vậy làm vui.
Riêng với Thi tiên Lý Bạch, bản tính ông phóng khoáng, cả đời
lang bạt kì hồ, nhiều khi xuân tết mà vẫn đang đâu đó trên đường... Uống rượu một mình với
ông là chuyện thường tình. Nói là uống rượu một mình, thực ra đâu phải thế. Với Lý Bạch, rượu đâu chỉ là rượu, mà rượu còn có trăng sao, thậm chí
là cả vũ trụ bao la, là cõi lòng sâu thẳm, là tận cũng cái tôi, là cả xã hội rối
ren, là chuyện nhân tình thế thái...
Xuân nay, ta nâng chén, nhớ chăng Lý Bạch xưa?...
Ø
Bản chữ Hán:
春日獨酌 (其一)東風扇淑氣,
水木榮春暉。白日照綠草,落花散且飛。孤云還空山,眾鳥各已歸。彼物皆有托,吾生獨無依。對此石上月,長醉歌芳菲。
Ø Bản âm Hán Việt:
Xuân nhật độc chước (kỳ 1)
Đông phong phiến thục khí,
Thủy mộc vinh xuân huy.
Bạch nhật chiếu lục thảo,
Lạc hoa tán thả phi.
Cô vân hoàn không sơn,
Chúng điểu các dĩ quy. Bỉ vật giai hữu thác, Ngô sinh độc vô y.
Đối thử thạch thượng nguyệt,
Trường túy ca phương phi.
Ø Dịch nghĩa:
Ngày xuân uống rượu một
mình,
Gió xuân thổi
khí trời huyên hòa Nước, cỏ cây tươi thắm giữa tiết xuân
Ánh dương tỏa chiếu cỏ xanh
Hoa rụng cánh tung bay khắp nơi
Vầng mây lẻ bay về núi vắng Đám chim
đều bay về tổ
Mọi vật đều có nơi nương tựa
Ta đây sinh
ra biết nương tựa vào ai Trên ghềnh đá, đối diện với trăng sáng,
Say khướt (ta) ca lên bài phương phi
Ø
Một số bản dịch của người yêu thơ Đường:
Gió
xuân huyên hòa khí Cây, nước thắm tiết xuân Cỏ xanh vàng ánh nắng Hoa rụng bay khắp
miền Đàn chim bay về tổ
Mây lẻ hướng sườn non
Mọi vật có nơi tựa Riêng ta vẫn một mình Kìa trăng soi ghềnh đá Say khướt ta ca
xuân
(Trần Mỹ Giống dịch)
Gió xuân thổi khí huyên hòa
Cỏ
cây tươi thắm la đà giữa xuân Ánh dương tỏa chiếu trong ngần Cánh hoa rơi tựa phân thân với giời Đàn chim về tổ nghỉ ngơi
Vầng mây lẻ bạn tìm nơi núi buồn Nương nhau tạo hóa sinh tồn
Ta đây nào biết tâm hồn về đâu
Kìa
trăng, ghềnh đá ngang đầu Lời ca say khướt nhiệm màu ru ta.
(Lã Minh Kính dịch)
Gió Xuân ấm áp khí trời
thanh
Ánh dương
vàng chiếu thảm cỏ xanh Non nước cỏ cây đều tươi thắm Cánh
hoa theo gió lướt bay nhanh Vầng mây cô lẻ trôi về núi
Đàn
chim tìm tổ giữa cây lành Muôn vật đều có nơi nương tựa Riêng ta vẫn giữ kiếp độc
hành Đêm khuya trăng rọi nơi ghềnh đá Say rượu ta ca bài phiêu linh.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Yên
hòa ngọn gió đông Thủy mộc sắc xuân hồng Đồng cỏ nhuần nắng mới Hoa gieo cánh muôn trùng
Thung dung mây về núi
Tổ ấm
chim hội vui Tựa nương vạn vật có Sao ta bóng lẻ loi?..
Ghềnh
đá trăng đơn chiếc Phương phi rượu khơi vơi…
(Nguyễn Vĩnh Tuyền dịch)
Gió xuân thơm ngát hương nồng
Cây đang nẩy lộc bềnh bồng xinh tươi Cỏ non xanh mướt mọi nơi
Vài bông hoa sớm đã rời cánh bay Lượn lờ bên núi làn mây
Chim muông ríu rít từng bầy nỉ non Muôn loài giữ chốn chọn phần Mình ta
là vẫn một thân độc hành Trăng soi kẽ đá gập ghềnh
Say tình ta cứ một mình hát
chơi...
(Đỗ Xuân Đào dịch)
Mỹ
cảm nguyệt tửu của Lý Bạch
Các nhà thơ phương Đông, tự cổ chí kim, Phong- Hoa-Tuyết-Nguyệt là
đề tài không bao giờ cạn. Thi hứng về các chủ đề này được khơi gợi và
thăng hoa còn bởi Tửu. Đối tửu giải
khuây, tự khiển, hay quần tửu ngâm vịnh làm vui, được xem như yếu tố giúp tâm
trạng con người ta hưng phấn, bay bổng, cơ hồ chạm tới mĩ cảm thi họa...
Các nhà thơ đời Đường, Tống đã để lại nhiều áng thơ hay về Phong-Hoa-Tuyết-Nguyệt-Tửu, mà điển
hình nhất, chính là Thi Tiên Lý Bạch. Hãy đọc và ngẫm bài thơ Tự Khiển của ông, để thêm phần khẳng định, mĩ cảm Nguyệt tửu thường trực trong con người Lý Bạch ra sao...
Ø Bản chữ Hán:
自遣
對酒不覺瞑,落花盈我衣。
醉起步溪月,鳥還人亦稀。
Ø Bản âm Hán Việt:
Tự khiển
Đối
tửu bất giác minh, Lạc hoa doanh ngã y. Tuý khởi bộ khê nguyệt, Điểu hoàn nhân diệc hy.
Ø
Dịch nghĩa:
Say rượu một
mình, ngủ vùi, chẳng lo sớm tối, (Đến mức)
hoa rụng đầy mình, y như mặc áo hoa. Khi tỉnh dậy, tản bộ theo vệt trăng loang bên suối, Chỉ thấy chim về tổ, người chẳng thấy
ai.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Say rượu quên sớm tối
Áo phủ đầy hoa rơi
Lần
theo trăng trên suối Chim kêu - vắng bóng người.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Một mình mải ngủ bởi vì say
Áo mặc như hoa lá rụng đầy
Tỉnh dậy dạo theo trăng bến nước
Thấy chim về tổ, người đâu đây?
(Phan Thị Thanh Minh dịch)
Say
mèm thả giấc quên trời đất Áo phủ muôn màu hoa lá rơi Tỉnh giấc theo trăng bên suối dạo
Ngoài chim về tổ, chẳng hơi người.
(Thái Xuân Nguyên phỏng dịch)
1.
Say ngủ mặc đất trời Áo ta hoa rụng đầy Tỉnh theo trăng tản bộ
Chim về tổ, không
người.
2.
Rượu say sớm tối biết chi
Đầy mình hoa rụng khác gì áo hoa Lần theo trăng suối gần xa
Kìa chim về tổ, người đà vắng
tanh.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Sớm
tối nào hay giấc ngủ say Hoa rơi phủ
rắc áo thêm dày Trăng loang suối vắng mình đi bộ Xào xạc chim kêu ai có hay.
(Hương Đất bãi-Trần Bài dịch)
Say... ngủ vùi, quên cả đất trời
Mặc cho áo phủ cánh hoa rơi
Giật
mình tỉnh giấc, trăng loang bóng Vẳng tiếng chim kêu chẳng thấy người...!
(Thuyền Thơ-Lê Ngọc Vân dịch)
Nhớ bạn,
đọc Tống hữu nhân của Lý Bạch
Trước đây, tôi và Trần Đăng Khoa cùng cơ quan với nhau, anh làm việc ở tầng bốn, còn tôi
ở tầng bảy, cùng trụ sở VOV tại 58 Quán Sứ, Hà Nội. Là bạn bè với nhau từ thuở
học trò, đã 40 năm chơi với nhau thân thiết, rồi lại về chung một cơ quan, nên
coi nhau như anh em ruột vậy. Thói quen hàng ngày, sáng hay đến cơ quan sớm,
cafe, trà nước với nhau, rồi bữa trưa hay rủ nhau ăn. Ở cơ quan, những lúc quá
mệt mỏi vì công việc, họp hành, hay
chạy qua chạy lại phòng nhau à ới chuyện văn chương thời luận đôi chút cũng xả
stress... Đã thế thành nếp rồi...
Từ đầu tháng 11 năm 2015, Trần Đăng Khoa chuyển công
tác về làm Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhà văn Việt Nam. Trụ sở mới của anh
cũng đâu xa, ngay số 9 phố Nguyễn Đình Chiểu. Quả là không xa, nhưng do bận
công việc, cả tháng alo hò hẹn nhau nhưng rồi, nay anh bận mai tôi bận, gặp đôi
lần, mà lần nào cũng vội...
Hàng ngày, tôi vẫn bị nếp quen chi phối, định
chạy qua phòng anh thì chợt nhớ Khoa đã chuyển đi nơi khác rồi. Mừng bạn phát triển nhưng xa cũng nhớ. Mỗi khi
ngang qua phòng cũ của anh, nhìn vào thấy cửa đóng và cái biển tên anh cũng đã tháo đi rồi...
Chợt nhớ đến câu thơ Lý Bạch trong bài Tống
hữu nhân: "Phù vân du tử ý/ Lạc nhật cố nhân tình"
(Tản Đà dịch: "Chia phôi khác cả nỗi
lòng/ Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà").
Ừ nhỉ, không xa mà hóa
xa...
Ø Bản chữ Hán:
送友人
青山橫北郭,白水遶東城。此地一為別,孤蓬萬里征。浮雲遊子意,落日故人情。揮手自茲去,蕭蕭班馬鳴。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Tống hữu nhân
Thanh sơn hoành bắc quách, Bạch thủy nhiễu đông thành.
Thử địa nhất vi biệt,
Cô bồng vạn lí chinh.
Phù vân du tử ý,
Lạc
nhật cố nhân tình. Huy thủ tự tư khứ, Tiêu tiêu ban mã minh.
Ø
Dịch nghĩa:
Non xanh chắn ngang vòng thành ngoài phía bắc, Nước bạc lượn quanh
trong khu thành
phía đông. Nơi đây, một khi,
đã chia tay nhau rồi,
Thì khác gì
cỏ bồng lẻ loi trôi biệt vạn lí. Lòng dạ khách đi buồn như áng mây nổi, Tình bạn cũ với nhau sầu như bóng chiều tà. Vẫy tay tiễn, thôi từ nay bạn lên đường,
Ngựa xa
bầy cất
tiếng rền
rĩ nghe
càng thêm
xót lòng.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Núi xanh chắn phía Bắc thành
Một dòng nước bạc lượn quành phía Đông Chia tay nhau - biệt ngàn trùng
Khác chi trước gió cỏ bồng lẻ loi Người đi tựa áng mây trôi
Tình xưa buồn tựa phai phôi bóng tà
Vẫy tay lưu luyến bạn ta
Nghe vang tiếng ngựa - xót xa cõi lòng!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Núi thẳm chắn ngang phía bấc thành
Bên đông nước trắng lượn lờ quanh Nơi đây tạm biệt lòng chia lối
Ấy chốn từ li dạ cách
ngàn
Ý khách tình sầu ngày vắng vẻ Mộng người bóng nhớ tối cô
thanh Thôi chừ tiễn bậu thơm hoài cảm Lưu luyến bên nhau bụng chả đành.
(Giác Minh
Nguye" n
Đình Diệm
dic̣h)
Non
xanh bao phía bắc Nước bạc lượn đằng đông Nơi đây khi tiễn biệt
Lẻ loi tựa cỏ bồng
Dạ
khách buồn mây nổi Tình bạn sầu chiều buông Vẫy tay nay tiễn biệt Tiếng ngựa xa
xót lòng.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Hoành sơn xanh chấn bắc Nước bạc ngăn đầu đông Một lần chia xa
ấy
Lẻ trôi vạt cỏ bồng
Du tử sầu mây bay
Cố nhân buồn bóng nắng Vẫy tay tiễn biệt nhau Vó ngựa giăng mắc lòng.
(Phan Lan Hoa dịch)
Núi
biếc chặn ngang phía bắc thành Đông triền nước bạc lượn vây quanh Chia như đất cũng buồn li bước
Biệt
tựa bồng dường lẻ dặm chinh Viễn khách sầu vương mây xám nổi Cố nhân nhớ nhuộm bóng chiều hanh
Vẫy tay giã bạn đường thiên lí
Rền rĩ ngựa kêu khúc độc
hành.
(Sáu Miệt Vườn - Võ Văn Chánh dịch)
Non xanh giăng nẻo bắc thành
Sườn đông nước bạc lượn quanh một dòng Chốn chia li nước mắt ròng
Muôn dặm xa cách cỏ bồng đơn côi Buồn lòng lững áng mây trôi
Rời tay tri kỉ rối bời chiều buông Vẫy tay thôi nhé lên đường
Ngựa tan đàn hí xót thương dâng
trào.
(Trần Khẩu dịch)
Non
xanh che cửa Bắc Nước bạc vướng đầu Đông Chia phôi tình vọng động Cỏ bồng vạn
dặm trôi Người theo áng mây nổi Ta dõi theo bóng tà
Tay
vẫy lòng bối rối Tiếng ngựa xa xót đời…
(Nguyễn Vĩnh Tuyền dịch)
Núi
xanh giăng bắc quách Sông trong uốn đông thành Nơi một lần tiễn biệt
Cỏ
nhẹ trôi đường dài Dạ buồn áng mây trôi Tình
người như chiều tà
Vẫy tay vào quá khứ Tiếng ngựa rền rĩ buồn.
(Ngô Minh Vương dịch)
Cúi đầu nhớ cố hương
1. Bài thơ Tĩnh dạ tư của
Lý Bạch
Hầu như, những ai yêu thơ Đường, hay đơn giản mang chút máu giang hồ, thích lang thang đây đó, đều có lúc chạnh lòng, mà "cúi đầu nhớ cố hương". Còn hết thảy những ai tha phương,
rời quê đi lập nghiệp
nơi khác, thì hẳn nỗi nhớ quê hương thường trực
trong người.
Từ gần một ngàn năm trăm năm trước, Thi Tiên-Lý
Bạch đời Đường đã nói hộ cõi lòng những
kẻ tha hương: "Ngẩng đầu
nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương".
Các thi nhân, hình như ai cũng hơn một lần trong thơ bộc
lộ nỗi niềm thương nhớ quê hương bản quán. Có biết bao tuyệt bút về chủ đề này,
tự cổ chí kim, từ đông sang tây. Xứ Việt mình cũng vậy. Nhà thơ Chế Lan Viên có
những câu thơ rất hay, và không những thế, quê
hương và tình yêu quê hương còn được mở rộng
ra, với mảnh đất mà ta đã sinh sống một khoảng thời gian nào đó:
"… Khi ta ở chỉ
là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê
hương…".
Trở lại với Lý Bạch và bài thơ nổi tiếng của ông -
Tĩnh dạ tư.
Bài
thơ này thuộc thể Ngũ ngôn tuyệt cú.
Ngôn từ chắt lọc, hàm súc, song tình ý lại mênh mông, vô bờ bến.
Ø Nguyên tác:
靜夜思
床前 明月光,疑是地上霜。舉頭望明月,低頭思故鄉。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Ø
Dịch nghĩa:
Đầu giường
thấy ánh trăng sáng
Ngỡ là sương phủ đầy
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ quê cũ.
Ø Bản dịch thơ của Tương Như:
Đầu giường
ánh trăng rọi, Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
Hiện có nhiều bản dịch thơ, song bản dịch của Tương Như được nhiều người nhớ, bởi 2 câu kết rất hay “Ngẩng
đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương".
Bài thơ Tĩnh dạ
tư, có một chi tiết cần nói thêm. Đó là một từ trong câu thơ đầu: "Sàng tiền MINH nguyệt quang". Bản
chữ Hán và Hán Việt sách Đường Thi của Trần Trọng Kim, thay vì từ MINH (sáng), là từ KHÁN (xem, nhìn). Còn các bản khác ở sách Đường thi tam bách thủ của Hành Đường Thoái Sĩ và Thơ Lý Bạch do Ngô Văn Phú sưu tầm, biên
soạn, dịch thơ - thì đều chép là
MINH.
Đã có nhiều người kiến giải khác nhau về sự khác biệt
này. Ở đây, tôi không sa đà vào việc đi tìm từ này hoặc từ kia là đúng với
nguyên bản, mà chỉ nêu ra để mọi người cùng biết và suy ngẫm thôi.
2. Một số bản dịch khác của người yêu thơ Đường
Đầu
giường thấy trăng tỏ Ngỡ ngập tràn sương buông Ngẩng lên vầng trăng sáng Cúi đầu nhớ
quê hương...
(Đặng Đình Nguyễn dịch)
Đầu giường sáng ánh trăng soi
Hay là sương phủ chơi vơi đất bằng Ngẩng đầu vọng ngắm bóng trăng Cúi đầu
da diết nặng oằn nỗi quê.
(Yên Ba Ngô Đình Miên dịch)
Đầu giường muôn sắc nguyệt buông
Bao la mặt đất màn sương phủ dầy Ngẩng mặt lên trăng sáng đầy
Bâng khuâng
quê cũ đâu đây nao lòng.
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Độc Lý Bạch thi tập của Trịnh Cốc
Ngày nghỉ cuối tuần, tiết mưa phùn nồm ẩm, định bụng
không đi đâu, nên sau tách café sáng, mở máy
tính, chỉnh lí bản thảo sách. Chợt thấy trang của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền đăng bài mới, bàn về
không gian trong bài thơ Điểu minh giản của
Vương Duy (đời Đường), bèn đọc, nhưng
cảm thấy không đã, vì cả góc tiếp cận và cách bàn dường như chưa tới. Nghĩ, rồi ngẫu hứng nối máy với nhà thơ Nguyễn Vĩnh
Tuyền. Nói nhiều, song vẫn chưa đủ,
bèn rủ nhà thơ, ới thêm nhà văn Nguyễn Trọng Huân nữa, ngồi đôi chén với nhau
buổi trưa, là để có cớ mà bàn chuyện thơ văn, chuyện nhân tình thế thái...
Hẹn rồi, tự nhiên lại nhớ, cụ Lý Bạch xưa thường hay uống
rượu một mình, đúng ra là đối ẩm với trăng, với sông suối, núi non... Chẳng thế,
trong bài thơ Xuân nhật độc chước, Lý
Bạch đã tự bạch rằng "ngộ sinh độc
vô ý/ đối thử thạch thượng nguyệt", (nghĩa là: ta vốn sinh ra chẳng tựa vào ai/ nay trên ghềnh đá đối diện với vầng
trăng) để mà "trường túy ca
phương phi" (say khướt mà ca lên bài phương
phi)... Phải chăng, trong
cuộc đời lang bạt đầy ngẫu hứng, đây chính là phong thái, thể
hiện nhân cách cao khiết của Thi tiên?...
Chẳng thế mà Trịnh Cốc (thời Vãn Đường), khi ngẫm về Lý Bạch, trong bài thơ Độc Lý Bạch thi tập, đã than rằng:
"Cao ngâm đại túy tam thiên thủ,/
Lưu trước nhân gian bạn nguyệt minh".
Sau
đây là
bài thơ
Độc Lý Bạch thi tập của
Trịnh Cốc:
Ø Bản chữ Hán:
讀李白詩集
何事文星輿酒星,一時鍾在李先生?高吟大醉三千首,留著人間伴月明。
Ø Bản âm Hán Việt:
Độc Lý Bạch thi tập
Hà
sự Văn tinh dữ Tửu tinh, Nhất thời chung
tại Lý tiên sinh? Cao ngâm
đại túy tam thiên thủ,
Lưu trước nhân gian bạn nguyệt
minh.
Ø
Dịch nghĩa:
Đọc Lý Bạch thi tập
Cớ sao,
ngôi sao Văn và sao Tửu, Lại cùng một lúc dồn cả vào ông Lý?
Những khi
say khướt (làm) tới ba nghìn bài thơ,
Cái
còn lại với cõi đời, là chỉ làm bạn với trăng mà thôi.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Tự
hỏi sao Văn và sao Tửu Cớ sao dồn cả vào Lý Công?
Rượu say phóng bút thơ ngàn vạn
Còn lại cõi đời - bạn với trăng!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Hà cớ Văn tinh với Tửu tinh
Lại
cùng chung đúc Lý tiên sinh? Ba nghìn trước tác khi say khướt Lưu lại nhân gian bạn với trăng.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Mắc
mớ gì văn tửu níu hoài Đôi bầu một túi Lý không ai? Ba nghìn loạt tứ trong cơn xỉn
Tỉnh giấc đời loang dưới nguyệt đài,
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Sao
văn, sao rượu cớ chi nào Nhằm một nhà ông Lý Bạch vào Say nhả ba ngàn bài bất hủ Muôn đời sáng mãi với trăng sao.
(Đỗ Xuân Đào dịch)
Hà cớ văn tinh, lại tửu
tinh,
Đồng
thời ưu chiếu Lý tiên sinh. Men tình lướt khướt ba ngàn áng Cõi trần gian bạn chỉ trăng
thanh.
(Phan Lan Hoa dịch)
Tinh tú văn chương
tinh tú rượu Cớ sao đọng hết Lý Bạch thơ
Ba ngàn thi phẩm khi say khướt
Đối diện cùng Trăng thiên hạ mơ.
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Sao chỉ ưu nhà Lý Bạch thôi
Hai chòm Văn - Tửu lại cùng soi! Ba
ngàn thi phẩm khi say
khướt
Một bóng trăng thanh
bạn giữa đời.
(Thái Xuân Nguyên
dịch)
Sao rượu sao văn sáng một thời
Cớ chi ông Lý chiếm mình ngôi?
Ba nghìn
tuyệt phẩm khi say khướt Chỉ có vầng trăng bạn cõi đời?
(Nguyễn Hữu Thăng dịch)
Thu giang tống khách, nỗi sầu muôn thuở...
Đầu hạ (2013), tôi đi công tác miền Đông Bắc, trên đường
có ghé thăm họa sĩ Đặng Đình Nguyễn. Nhà anh thuộc khu vực một vùng đất nằm giữa
ngã ba sông. Trước đây, muốn ra vùng đất này, phải đi đò từ thị xã Quảng Yên
sang, nay có cây cầu cứng nên giao thông thuận tiện. Đặng Đình Nguyễn tâm sự, cả
tuổi thơ và thời thanh niên của mình, anh luôn ám ảnh bởi tiếng gọi đò, nhất là vào những buổi chiều đông
tháng giá. Giờ đây, lâu lâu trong giấc
ngủ, tiềm thức vẫn thảng thốt tiếng gọi
đò. Với riêng mình, mấy tháng qua, tôi liên miên với những chuyến công tác dọc
miền Trung, miền Đông Nam Bộ và cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long... Mùa mưa,
nước nổi, sông suối chứa chan. Mỗi khi băng qua một cây cầu, lặng nhìn dòng nước
cuộn chảy, xa xa là những con đò chơi vơi trên sông nước, tôi lại nhớ đến tâm sự của Đặng Đình Nguyễn
về tiếng gọi đò khuya sớm... Hình như, mỗi khúc sông, bến đò trên
mặt đất này, dù Đông Tây, Nam Bắc, đâu cũng gắn với những mối
tình đánh mất, gắn với những cuộc chia tay, tiễn đưa lưu luyến thì phải?...
Lại nhớ, Bạch Cư Dị có bài thơ Thu giang tống khách tuyệt hảo... Tuyệt nhất là hai câu kết "Bất tuý Tầm
Dương tửu,/ Yên ba sầu sát nhân". Ôi, thật khổ là rượu muốn uống cho
say để quên hết cái sự đời, mà càng uống lại càng tỉnh. Thêm nữa, khói sóng
trên sông thì buồn đến chết người... Ừ, mà sao, các bậc tiền nhân thời Đường, cứ
bị ám ảnh bởi quang cảnh khói sóng trên sông lúc hoàng hôn thế nhỉ? Bài thơ Hoàng Hạc
lâu, Thôi Hiệu đã chẳng thấm thía, nén nỗi buồn mà bật ra "Yên ba giang thượng sử nhân sầu" (Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai - Tản
Đà dịch) là gì?
Về tiểu sử tóm tắt: "Bạch Cư Dị, chữ Hán: 白居易) (772-846) tự là Lạc Thiên
(樂天, hiệu là Hương Sơn cư sĩ
là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Tác phẩm nổi tiếng của Bạch Cư
Dị ở Việt Nam có lẽ là các bài Tỳ bà hành, Trường Hận Ca.
Danh tiếng của ông ngang với Lý Bạch (701-762), Đỗ Phủ (712-770) và Vương Duy
(701-761)... Mười lăm tuổi ông đã bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn
quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động. Năm Trinh Nguyên thứ 16 (năm
800), ông thi đỗ Tiến sĩ được bổ làm
quan trong triều,... Năm Hội Xương thứ 2 (842) về hưu với hàm thượng thư bộ Hình, sau mất tại Hương
Sơn, Lạc Dương.
Sau đây là bài Thu giang tống
khách:
Ø
Bản tiếng Hán:
秋江送客
秋鴻次第過,哀猿朝夕聞。是日孤舟客,此地亦離群。蒙蒙潤衣雨,漠漠冒帆雲。不醉潯陽酒,煙波愁殺人。
Ø Bản âm Hán Việt:
Thu giang tống khách
Thu
hồng thứ đệ quá, Ai viên triêu tịch văn. Thị
nhật cô chu khách, Thử địa diệc
li quần.
Mông
mông nhuận y vũ, Mạc mạc mạo phàm vân.
Bất túy Tầm Dương tửu,
Yên ba sầu sát nhân.
Ø
Dịch nghĩa:
Sông thu tiễn khách
Mùa thu, chim hồng lần lượt bay qua Vượn hôm mai kêu thảm thiết
Ngày ấy, khách trên thuyền cô quạnh
Nơi đây cũng là nơi chia lìa
Mưa ướt thấm dần vào áo
Mây man mác chắn cánh buồm
Rượu Tầm Dương (uống) mãi chẳng say Khói sóng (thì) buồn đến chết người.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Thu tới chim hồng sải cánh bay
Vượn nỉ non kêu suốt cả ngày
Bến vắng bâng khuâng
thuyền soi bóng Bờ xa thổn thức bạn chia tay
Mưa
dầm ướt áo lòng tê lạnh Cánh buồm xa
hút nẻo chân mây Rượu Tầm Dương
uống vài ba đấu
Sầu thương
như khói một chiều say!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
1.
Trời Thu bầy nhạn lướt qua
Hôm
mai lũ vượn hú xa thảm sầu Cô quạnh vắng - Khách
thuyền đâu
Lại qua đôi bận, tiễn nhau… Đôi người… Lâm thâm mưa ướt áo tơi
Cánh buồm thấm nước mây trời mơn man Rượu Tầm-Dương mãi uống tràn
Ngắm nhìn khói sóng non ngàn buồn rơi…
2.
Bầy nhạn trời Thu lướt lướt qua
Hôm mai lũ vượn hú hú xa
Thuyền chờ vắng khách bao cô quạnh
Chèo đợi người qua đâu có mà…
Mưa mãi không
ngừng ươn ướt áo
Buồm che mây xám nẫu buồn ta
Tầm Dương
rượu uống đầy, vơi… cạn! Nhìn ngắm đầy lòng khói sóng ma.
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Chim hồng lướt lướt trời thu
Vượn kêu thảm thiết âm u buổi nào Thuyền ai khách đợi cô liêu
Bến sông ghi nhớ một chiều chia tay Mưa rơi thấm lạnh áo dài
Mây sa man mác chắn ngay cánh buồm Tầm Dương rượu chẳng say tuôn
Chết lòng vì khói sóng buồn mông mênh.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Nhạn hồng ngang trời thu
Vượn hôm mai thảm thiết Bến xưa thuyền li biệt Quạnh quẽ
lòng khách đi Mưa thấm áo dầm dề
Mây vương buồm man mác
Tầm Dương nào say được
Khói sóng giăng chết lòng.
(Phan Lan Hoa dịch)
Thu
đến loan hồng xoải cánh bay Chiều buông tiếng vượn gợi u hoài Thuyền côi lặng lẽ màn mưa rót Sóng
biếc cồn cào ngọn gió lay
Mờ mịt sương giăng
nhòa dặm khuyết Chập chùng dốc dựng ngút buồm mây
Tầm Dương tửu chuốc tình chưa cạn Chất ngất sầu dâng ngập chốn này.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Thu tới chim hồng mải miết bay Nỉ non vượn hót suốt đêm
ngày Đìu hiu bến vắng thuyền
soi bóng Thổn thức bờ xa gió
lắt lay
Ướt
áo dầm mưa lòng giá lạnh Cánh buồm xa hút nẻo chân mây Rượu Tầm Dương uống vài ba đấu
Khói sóng rượu sầu giết kẻ say!
(Hà Duy Tự dịch)
Mùa thu chim Nhạn lượn bay
Trên ngàn vượn hú đắng cay thảm sầu Khách trên thuyền biết về đâu?
Từ đây chỉ nói nên câu chia lìa. Mưa rây áo ướt đầm đìa
Cánh
buồm no gió, ô kìa mây bay Tầm Dương rượu uống chẳng say
Trùng dương sóng cả phải đây tử thần.
(Trang Nam Anh dịch)
Bạch
Cư Dị, bịn rịn với xuân,...
Những ngày tháng Chạp này, các tỉnh phía Bắc thường
xuyên có những đợt không khí lạnh từ lục địa Trung Hoa dồn xuống, tạo thành gió mùa đông bắc lạnh giá. Mỗi khi gió mùa
đi lệch đông, ngang qua Vịnh Bắc Bộ thì miền Bắc thường có mưa do không khí lạnh mang hơi ẩm từ biển vào đất liền. Những
ngày giáp Tết Nguyên Đán, gió mùa đông bắc hay kèm theo mưa phùn, mưa bụi, mà ta quen gọi là mưa xuân.
Mùa đông chưa qua, nhưng xuân đã lấp ló... Trong màn mưa bụi, cây cối sau khi rụng
lá, cành trơ, đã bắt đầu cựa mình, nứt mắt để nảy lộc đâm chồi...
Trước thiên nhiên lúc chuyển mùa, năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến, lòng người cũng bâng
khuâng khác lạ, rồi chộn rộn cùng thiên nhiên... Lại nhớ, Bạch Cư Dị, nhà thơ đời Đường xưa kia, từng bịn rịn với cảnh
xuân ở Tây Hồ (Hàng Châu, Chiết Giang) mà thốt lên rằng: "... Vi năng phao đắc Hàng Châu khứ,/ Nhất bán câu lưu thị thử hồ."...
Ø
Bản tiếng Hán:
春題湖上
湖上春來似畫圖,亂峰圍繞水準鋪。松排山面千重翠,月點波心一顆珠。碧毯線頭抽早稻,青羅裙帶展新蒲。未能拋得杭州去,一半勾留是此湖。
Ø Bản âm Hán Việt:
Xuân đề hồ thượng
Hồ
thượng xuân lai tự họa đồ, Loạn phong vi nhiễu thủy bình phô.
Tùng bài sơn diện thiên trùng thúy,
Nguyệt điểm ba tâm nhất khỏa châu.
Bích thảm tuyết đầu trừu tảo đạo,
Thanh la quần đái triển tân bồ.
Vi năng phao đắc Hàng Châu khứ,
Nhất bán câu lưu thị thử hồ.
Ø Dịch nghĩa:
Xuân về, cảnh hồ như một bức tranh
Núi lô nhô bao quanh mặt nước phẳng
lặng Ngàn thông trên núi trập trùng xanh ngắt
Ánh trăng rọi sóng nước như muôn hạt ngọc châu Lúa sớm trổ bông trải như tấm thảm biếc
Cỏ bồ mới nảy tựa dải quần lụa xanh
(Ta) chưa thể bỏ Hàng Châu đi ngay được
Phân nửa vì bịn rịn cảnh hồ này.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Xuân về cảnh đẹp như tranh
Trập trùng dãy núi bao quanh mặt hồ Triền non thông mọc nhấp nhô
Trăng soi mặt nước tựa như ngọc bày Lúa trông như tấm thảm dày
Cỏ bồ xanh mướt quần ai lụa là Hàng Châu cứ níu chân ta
Muốn đi mà chẳng nỡ xa hồ này!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Xuân
về hồ nước đẹp bức tranh Phẳng lặng mặt gương núi uốn quanh
Trên núi ngàn thông màu xanh ngắt Dưới hồ sóng ngọc ánh trăng thanh Đơm bông
lúa sớm như thảm biếc Nảy lộc cỏ bồ tựa
lụa xanh
Chẳng bỏ Hàng Châu đi sớm được
Phần vì bịn rịn cảnh xuân tình.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Xuân về hồ nước như tranh
Lô nhô bóng núi xung quanh xếp hàng Tiếng thông reo tựa tiếng đàn
Trăng soi đáy nước muôn vàn ngọc châu
Đồng quê lúa sớm trổ mầu
Cỏ xanh ngăn ngắt uốn câu trong vườn
Hàng
Châu vốn nặng yêu thương Bởi tình quê đã vấn vương bao ngày!
(Kiều Thiện
dịch)
Hồ đẹp sang xuân tựa khảm tranh Nhấp nhô sơn thủy đứng bao quanh
Thông trên đỉnh núi reo tình tứ Ngọc dưới lòng sông sáng ngọt lành
Lúa sớm mênh mông giăng thảm biếc
Cỏ bồ bát ngát trải đồng xanh
Hàng Châu lưu luyến
không đi nổi Vương vấn chia li chẳng nỡ đành.
(Đỗ Xuân Đào dịch)
Một bức tình xuân đẹp như tranh Lô nhô mặt nước núi bao
quanh Trập trùng thông
phủ thêu núi biếc
Trăng vàng như ngọc nước long lanh
Lúa sớm trổ bông tươi thảm mướt Cỏ bồ
tựa lụa dải quần xanh
Hàng
Châu níu bước không qua được Dúng dắng hồ xuân bước chẳng đành.
(Lê Hà Ngân dịch)
Xuân
đến cảnh hồ đẹp tựa tranh Điệp trùng dãy núi uốn vòng quanh Ngàn thông vi vút trùm xanh ngắt
Bóng nguyệt
long lanh rắc ngọc thanh Lúa sớm mượt mà như thảm biếc
Cỏ
bồ lún phún tựa nhung xanh Hàng Châu vương vấn tình chưa dứt Bịn rịn bước đi dạ chẳng đành.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Xuân
đến, như tranh một cảnh hồ Nước quanh phẳng lặng núi lô nhô Non giăng
ngăn ngắt ngàn thông trải Trăng điểm lung linh ngọn sóng xô
Lúa sớm đơm bông biêng biếc thảm Bồ non trổ lá mượt mà tơ
Hàng
Châu chưa thể rời đi nổi Lưu luyến nơi đây đến thẫn thờ.
(Nguyễn Hữu Thăng dịch)
Xuân khí ngời ngời bức vẽ hồ
Bao
quanh núi dựng mặt gương phô Rừng thông trùng
điệp màu xanh trải
Ánh nguyệt rắc châu gợn sóng xô
Vụ sớm đơm bông tươi thảm lúa
Mùa non trổ lá thắm đai bồ Hàng Châu níu bước chưa đi nổi
Nửa muốn dừng chân cảnh đẹp hồ.
(Trần Khẩu dịch)
Xuân về cảnh trí tựa như thơ
Bóng núi lô nhô dưới mặt hồ
Bát ngát ngàn thông
màu nước thẳm Mênh mông sóng ngọc ánh trăng mơ
Muôn bờ lúa sớm giăng màng biếc Vạn cỏ bồ tươi thả lụa tơ
Bịn rịn Hàng Châu nào bỏ được Vấn vương lưu luyến
nấn ná chờ.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Thảo, nhân sinh triết Lí Bạch Cư Dị
Năm 2015 đã trôi qua, để lại một thế giới ngổn ngang bề
bộn và đầy lo âu, bất trắc. Ấn tượng về thiên nhiên là El Nino, cùng hàng loạt
hiện thượng thời tiết cực đoan. Còn với xã hội loài người, ấy là Nhà nước tự
xưng Hồi giáo cực đoan (IS) khuấy đảo toàn cầu.
Quả là một năm kinh khiếp về mọi mặt. Vậy mà, thiên
nhiên cỏ cây hoang thú, xã hội loài người vẫn
phải vượt lên để mà tồn tại... Lễ Giáng sinh qua đi,
giao thừa dương lịch đến, trong sự cảnh giác cao độ khắp mọi nơi chốn,...
Dẫu là thế, như cỏ, loài người luôn biết cách để tồn tại...
Từ hơn ngàn năm trước, thi nhân đời Đường (Trung Quốc) là Bạch Cư Dị đã tìm ra
triết lí nhân sinh từ cây cỏ và thể hiện trong thơ của mình: "Ly ly nguyên thượng thảo,/ Nhất tuế nhất khô
vinh/ Dã hỏa thiêu bất tận,/ Xuân phong xuy hựu sinh"... (Bài thơ Thảo, hay là Phú đắc cổ nguyên thảo tống biệt).
Ø
Bản chữ Hán:
賦得古原草送別
(草)
离离原上草,一歲一枯榮。野火燒不盡,春風吹又生。遠芳侵古道,晴翠接荒城。又送王孫去,萋萋滿別情。
Ø Bản âm Hán Việt:
Phú đắc cổ nguyên thảo tống biệt
(Thảo)
Ly ly nguyên thượng thảo,
Nhất tuế nhất khô vinh.
Dã
hỏa thiêu bất tận, Xuân phong xuy hựu sinh.
Viễn
phương xâm cổ đạo, Tình thúy tiếp hoang thành. Hựu tống vương tôn khứ, Thê thê mãn
biệt tình.
Ø
Dịch nghĩa:
Cỏ mọc trên đồng xanh tốt
Hằng năm một lần tươi rồi lần úa
Lửa đốt đồng thiêu
thế nào cũng không cháy hết
Khi gió xuân về lại nảy nở sinh sôi
Mùi cỏ thơm lan xa tận lối cũ
Sắc xanh tươi kế đến thành
hoang Giờ đưa tiễn vương tôn đi xa
(Cỏ) chan chứa bời bời nỗi li biệt...
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Bời
bời đồng cỏ tốt Tươi, úa năm một lần
Lửa thiêu chẳng cháy hết
Xuân về lại hồi sinh
Cỏ thơm lan lối cũ
Thành hoang sắc tươi xanh
Lại tiễn vương tôn nữa
Ly biệt lòng chứa
chan.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Cỏ trên đồng tốt bời bời
Một năm hai lượt hết tươi lại tàn Lửa kia dẫu đốt lan man
Gió Đông về cỏ lại tràn sức xuân Hương thơm tỏa khắp xa gần
Màu xanh trải tới tòa thành bỏ hoang Tiễn vương tôn buổi lên đường
Lòng người ở lại vấn vương nỗi sầu.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Sắc - Không quy luật của trời
Lão - Sinh thường
nhẽ cuộc đời bấy nay
Đừng khinh
sức vóc cỏ gầy
Dẫu tàn lửa cháy, xuân lai nảy mầm Lối xưa hương tỏa âm trầm
Thành hoang ngún mắt xa xăm liễu bồ Vương tôn vừa đón lại đưa
Bời bời dạ thảo xanh bờ hợp tan.
(Phan Lan Hoa dịch)
Biêng
biếc đồng cỏ tơ Tươi úa năm mỗi lần Dù lửa thiêu chẳng
triệt Đua nẩy theo Xuân về Hương tràn tận nẻo cũ
Xanh ngợp thành bỏ hoang
Vương tôn nay tiễn biệt Rầu rầu triền cỏ non.
(Trần Khẩu dịch)
Đồng xanh cỏ tươi tốt Xanh xanh rồi úa tàn Lửa thiêu
mãi chẳng hết Gió xuân trổ cờ lên Loang lối cũ
hương xa Tận thành hoang cỏ mọc
Tiễn đưa vương tôn về
Cỏ cũng bời biệt li.
(Ngô Minh Vương dịch)
Rợn đồng cỏ tốt bời bời
Dẫu năm một bận non tươi rồi tàn
Đốt sao trụi được cỏ hoang
Gió Xuân hây hẩy mênh mang trổ mầm Hương loang lối cũ âm thầm
Sắc xanh vươn tận hoang thành xa xưa Vương tôn thời khắc tiễn đưa
Mủi tình cỏ ứa giọt mưa bời bời.
(Trương Thị
Mầu dịch)
Đồng
xanh rậm cỏ mọc bời bời Héo úa theo thời lại tốt tươi Thét lửa thiêu hoài đâu cháy rụi
Xuân về gió thổi lại sinh sôi
Thơm thơm thắm ngát qua đường
cũ Biếc biếc nồng nàn đến mọi nơi
Đưa tiễn vương tôn lòng tất tưởi
Chan chứa từ li dạ nghẹn lời.
(Giác Minh
Nguye" n
Đ̣̀nh Diệm
dic̣h)
Cỏ tốt tươi xanh bát ngát rồi
Hằng năm cứ úa lại sinh sôi
Đồng thiêu chẳng hết - xuân đâm lộc Lửa đốt còn đây lại nhú chồi
Thơm ngát lan xa theo lối cũ Mùi hương bay mãi tới thành côi Vương tôn cất bước sầu li biệt
Vấn vít chân người chẳng
muốn thôi.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Mãn phát tự thành ti, triết Lí đời của Đỗ Phủ
Chiều trước Giáng sinh chuẩn bị đợt nghỉ lễ sang năm mới
2016, trời dày sương ẩm ướt. Nghe nói đêm nay có gió mùa đông bắc mạnh tràn về.
Mai rằm mà chẳng có trăng sao. Mọi người háo hức về nhà sớm cả rồi, chuẩn bị
cho du chơi đêm Giáng sinh.
Tôi thì không thuộc số đó. Có lẽ do bản tính, ngại chỗ
đông người, không bị tác động bởi hiệu ứng đám đông. Với lại, hay cả nghĩ, mình
già đến nơi rồi, những gì tung tẩy
không phải là của mình, lòng bâng khuâng, lại nhớ câu thơ kết bài thơ Bạc mộ của cụ Đỗ Phủ xưa: "Nhân sinh bất tái hảo/Mấn phát tự thành ti"
(hiểu nghĩa: Ngẫm đời người ta không dễ
được nhiều may mắn/ Mấy chốc, tóc đà bạc trắng như tơ)...
Ø
Bản chữ Hán:
薄暮
江水長流地,山雲薄暮時。寒花隱亂草,宿鳥擇深枝。舊國見何日,高秋心苦悲。人生不再好,鬢發白成絲。
Ø Bản âm Hán Việt:
Bạc mộ
Giang thuỷ trường lưu địa,
Sơn vân bạc mộ thì.
Hàn
hoa ẩn loạn thảo, Túc điểu trạch thâm chi. Cựu quốc kiến hà nhật?
Cao
thu tâm khổ bi! Nhân sinh bất tái hảo, Mấn phát tự thành ti.
Ø Dịch nghĩa:
Chiều hôm
Nơi này nước sông chảy hoài
Lúc chiều
hôm nhuộm màu mây núi Hoa lạnh lẽo nấp trong đám cỏ rối
Chim ngủ đêm chọn nơi cây cành rậm rạp
Ngày nào thấy lại đất nước cũ đây?
Trời thu lồng
lộng khiến lòng người buồn thêm! (Ngẫm) đời người ta không dễ được nhiều may mắn, (Vậy mà) mấy chốc, tóc đà bạc trắng như
tơ!
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Nước sông cuồn cuộn chảy
Hoàng hôn núi phủ mây Hoa nấp trong cỏ rối
Chim ngủ giữa đám cây
Ngày nao về đất cũ? Gió thu lạnh lòng thay! Đời người ít may mắn Tóc bạc tựa tơ
bay!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Nơi
này sông chảy mãi, Bóng chiều nhuốm núi mây Hoa lạnh run trong cỏ Chim rủ về rừng
cây, Chừng bao mơ đất cũ?
Tấc thu dạ sầu thay
Đời người mấy may mắn,
Chốc đà tóc tơ bay.
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Sông kia nước vẫn duềnh doàng
Chiều hôm rụng xuống nhuộm vàng núi mây Cỏ hoa lạnh lối hoang xây
Chim ngoan dựng tổ trên cây ngút ngàn
Hoài thương chốn cũ quan san
Trời thu thăm thẳm chứa chan nỗi lòng
Đời người tao tát hư không
Thoáng xanh tóc vội như bông mấy hồi.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Đất
này sông chảy mãi Ráng chiều nhuộm núi mây Hoa lạnh trong cỏ rối
Cành
dày chim ngủ say Nước cũ khi nào thấy? Thu lộng lòng buồn thay Đời
người nào may mắn
Chốc đà bạc tóc mây.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Nước
luôn chảy mãi ở sông này Lặng ánh chiều
hôm bóng núi mây
Lặng lẽ ngày qua hoa trốn cỏ
Âm thầm chiều đến điểu ngụ cây Gia hương nổi nhớ lòng thao
thức Đất khách niềm mong dạ được vầy
Khó được thời cơ nhiều thuận lợi
Đời người thoảng chốc muối sương
đầy.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Chốn đây nước chảy hoài Hoàng hôn mây trắng núi
Hoa lạnh ẩn cỏ rối
Lùm
cây rậm nhà chim Ngày nao về nước cũ? Chiều Thu u uất lòng! Đời đâu may lặp lại
Thảng tóc đã tuyết pha.
(Trần Khẩu dịch)
Nơi
này sông vẫn chảy Chiều núi nhuộm màu mây Chim ngủ lùm cây rậm Hoa chen đám cỏ dày.
Đâu rồi non nước cũ
Thu
lộng khiến buồn thay Đời chẳng nhiều may mắn Tóc đà tơ trắng bay!
(Thái Xuân Nguyên dịch)
Trường lưu hoài chảy tự nguồn
Bạc đầu non khuất hoàng hôn nhuốm dày Lạnh sương hoa núp cỏ gầy
Náu đêm chim trọ lùm cây rậm rì Cố quốc nào thấy ngày về
Tấc thu luống những sầu bi bội phần
Đời người may được bao lần?
Tóc mai thoáng chốc đã dần trắng phơ.
(Phan Lan Hoa dịch)
Đất
dày với sông dài Chiều mây nhuộm bạc núi Hoa lạnh trong cỏ rối Chân chim đỗ
cành rậm Quê cũ bao giờ thấy
Lòng buồn với trời thu
Đời may khó gặp lại Càng già tóc bạc thêm.
(Ngô Minh Vương dịch)
1.
Một
miền sông nước miên man Chiều hôm mây núi phủ tràn bến xưa Hoa nơi cỏ rối tránh mưa
Chim ngủ đêm tránh cành thưa non ngàn Ngày nào thấy lại quan san
Trời thu lồng lộng ruột gan buồn đầy
Dễ gì may mắn trong tay
Vậy mà thoáng
chốc tóc mây đời người…
2.
Nơi đây sông nước miên man chảy
chiều hôm mây núi mãi phủ dầy cỏ rối
chở che hoa lạnh lẽo
cành đêm rậm rạp chim ngủ cây đất nước ngày nào thấy lại
đây? trời thu lồng lộng khiến buồn đầy đời người không dễ nhiều may mắn thoắt cái đời người mây tóc mây…
(Nguyễn Vĩnh Tuyền dịch)
Đỗ
Phủ & thơ tuyệt cú
Theo sử sách, Tuyệt
cú là tên một thể loại Thơ cổ Trung Hoa có từ thời Lục Triều (439-581),
song phải đến đời Đường, nhất là giai đoạn niên hiệu Khai Nguyên-Thiên Bảo
(712-756) triều Đường Huyền Tông thì Tuyệt
cú Đường thi mới đạt đỉnh cao... Lý giải,
"tuyệt" có nghĩa là
"dứt", dùng để đối lập với
chữ "liên" (liền). Tuyệt cú gồm các loại thơ: ngũ
ngôn, lục ngôn, thất ngôn bốn câu tạo thành một bài,...
Đỗ Phủ có cả thảy bốn bài tuyệt cú. Bài tuyệt cú của Đỗ Phủ hay được người đời nhắc đến là
Tuyệt cú kì 3: "Lưỡng cá hoàng li
minh thúy liễu/ Nhất hàng bạch lộ thướng
thanh thiên...",
Còn sau đây là Tuyệt cú kì 2. Riêng tôi, thích bài kì
2 hơn. Tuy ý tứ không bao la, câu chữ không diễm lệ như bài kì 3, song màu sắc ấn
tượng không kém, và đặc biệt câu kết "Hà
nhật thị quy niên?" ẩn chứa cái tình riêng, cũng là nỗi hoài hương của
tác giả....
Ø
Bản chữ Hán:
絕句 (二首其二)
江碧鳥逾白,山青花欲燃。今春看又過,何日是歸年?
Ø
Bản âm Hán Việt:
Tuyệt cú (nhị thủ kỳ 2)
Giang
bích điểu du bạch, Sơn thanh hoa dục nhiên. Kim xuân khan hựu quá, Hà nhật thị
quy niên?
Ø Dịch nghĩa:
Sông biếc như ngọc, chim bay trắng trời, Núi xanh, hoa nở đỏ như lửa cháy
Cảnh xuân
tươi này rồi sẽ trôi qua, (Còn ta)
thì bao lâu nữa được trở về?
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Sông xanh tựa ngọc trắng chim trời
Núi thắm hoa càng rực rỡ tươi Ngắm cảnh xuân trôi ta tự hỏi
Khi nao mới trở lại quê chơi?
(Đỗ Xuân Đào dịch)
Sông xanh soi trắng
bóng chim bay Núi biếc hoa cười đỏ hây hây
Cảnh Xuân rồi sẽ trôi qua mất
Tự hỏi bao giờ về quê đây?!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Chim trắng bay, sông biếc
Hoa đỏ lửa, núi xanh Cảnh xuân rồi qua chóng Mộng về năm nào thành?
(Trần Mỹ Giống dịch)
Sóng biếc trường giang chim trắng lượn Núi xanh hoa thắm ngỡ lửa hồng
Cảnh xuân chẳng thể còn muôn thuở
Thân mình day dứt nỗi tha hương!
(Kiều Thiện
dịch)
Sông biếc soi chim trắng
Non xanh rực đỏ hoa Xuân tươi rồi lại héo Biệt xứ nhớ quê nhà.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Sông biếc như ngọc chim trắng
bay Núi xanh hoa đốt lửa phơi bày Cảnh xuân rồi cũng trôi qua mất Xa xứ bao giờ trở lại đây?
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Nước
trong chim đậu trắng bờ Núi xanh hoa chực nở chờ gió lên
Xuân sau chẳng hẹn vẫn nên
Hẹn người biết đến bao phen mới về?
(Khuyết danh)
1.
Sông biếc chim bay lượn trắng
trời, Núi xanh, hoa cháy lửa vừa cơi Cảnh xuân tươi thắm rồi sẽ mất, Bao
năm ta trở lại hỡi người?
2.
Sông biếc chim bay trắng,
Núi xanh, hoa đỏ thay Xuân thắm rồi cũng mất, Bao chừng được hồi đây?
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Đỗ Phủ & nỗi buồn chiến tranh
Năm nay, 30.4 (2016), kỷ niệm 41 năm thống nhất đất nước.
Những ngày này, trên các phương tiện thông tin
đại chúng, tràn ngập những
tư liệu, hình ảnh về cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Vâng, cái giá của hòa bình là không nhỏ. Để có ngày
non sông liền một dải, từ hơn bốn chục năm trước, đã có bao dân thường, binh
lính, chiến sĩ của cả hai bên phải ngã xuống; đã có biết bao làng mạc, phố phường,
cánh rừng, dải đất bị bom cày đạn xới thành tan nát... Nhiều bạn bè cùng trang
lứa với tôi, nhập ngũ và đã lần lượt nằm lại đâu đó trong những cánh rừng, vĩnh
viễn không bao giờ trở lại... Cái giá của hòa bình thật chẳng thể nào tính xuể...
Nhất là, nay, nhiều nơi trên thế giới vẫn đang cảnh chiến trường!...
Vậy nên, xưa kia, vào thời nhà Đường, chỉ mỗi loạn An
Lộc Sơn thôi, đã làm Trung Hoa tao loạn, khiến nhà thơ Đỗ Phủ phải rên xiết,
trong bài thơ Phục sầu (kỳ 3), mà cảm
thán: "... Tích quy tương thức thiểu,/
Tảo dĩ chiến trường đa"...
Ø
Bản chữ Hán:
復愁 (其三)
萬國尚戎馬,故園今若何。昔歸相識少,早已戰場多。
Ø Bản âm Hán Việt:
Phục sầu (kỳ 03)
Vạn quốc thượng nhung mã,
Cố viên kim nhược hà.
Tích quy tương thức thiểu,
Tảo dĩ chiến trường đa.
Ø Dịch nghĩa:
Buồn lại dâng
Khi khắp nơi vẫn còn lo việc quân Thì vườn cũ (của ta) ra sao rồi?
Ngày trước
về quê, bạn hữu vốn thưa thớt Huống hồ nay vẫn lắm cảnh chiến trường,
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Quê hương còn nạn can qua
Ra sao vườn cũ luống cà liếp rau Trót mang chí khí anh hào
Bạn bè mỗi đứa gian lao chiến
trường!
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Mọi
chốn nổi binh đao Vườn nhà rồi ra sao? Bạn quê dần vắng bóng Chiến trận vẫn ồn ào!
(Trần Khẩu dịch)
Việc quân việc nước bời bời
Băn khoăn vườn cũ sao rồi? Còn chăng? Ngày xưa đã vắng cố nhân
Ngày nay loạn lạc gửi thân nơi nào?
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Khắp nơi nháo nhác binh đao
Có còn chăng nhỉ, vườn rau luống cà Bạn bè muôn dặm chia xa
Giờ đây chiến cuộc mình- ta...
hết gần.
(Bùi Gia Tỷ Muội phỏng dịch)
Đất
nước bây giờ loạn chiến tranh Vườn xưa, chốn cũ đã tan tành Thăm nhau bạn hữu dần thưa thớt
Bởi lẽ tòng quân quyết đấu tranh.
(Hương Đất Bãi-Trần Bài phỏng dịch).
Dã
vọng & cõi Lòng Đỗ Phủ
Những ngày tiết trời chuyển
mùa, trời dầy mây mù sương, không khí ẩm ướt, khó chịu. Ấy
là, tự nhiên hay nhân sinh xã hội, xưa nay, đều vậy, lúc chuyển giao, chuyển
mùa, thường thế,... Cái cũ đang mất dần đi, mà cái mới thì còn chưa có, hay
chưa rõ dáng hình... Đây cũng là lúc các loài côn trùng, sâu bọ nảy nở, gây hại,
gây phiền nhiễu. Âu cũng là quy luật, ta nên nhìn nhận là chuyện bình thường...
Nghĩ thế, nói vậy, để mà người ta vượt qua. Ngày xưa,
cụ Đỗ Phủ cũng đã chiêm nghiệm vậy, nên trong mấy bài thơ Dã vọng, đã gửi gắm tâm trạng, gửi gắm cõi
lòng mình về chuyện nhân tình thế thái nhiễu nhương...
Rồi thì xuân cũng sẽ đến...
Ø
Bản chữ Hán:
野望 (I)
納納乾坤大,行行郡國遙。雲山兼五嶺,風壤帶三苗。野樹侵江闊,春蒲長雪消。扁舟空老去,無補聖明朝。
Ø Bản Hán Việt:
Dã vọng,
Nạp
nạp càn khôn đại, Hàng hàng quận quốc diêu. Vân sơn kiêm Ngũ Lĩnh,
Phong nhưỡng đới Tam Miêu.
Dã thụ xâm giang khoát,
Xuân bồ trưởng tuyết tiêu.
Biên chu không lão khứ, Vô bổ thánh minh triều.
Ø Dịch nghĩa:
Ngắm đồng
Bát ngát trời đất rộng,
Hàng hàng châu quận trải xa. Mây núi bao phủ Ngũ Lĩnh,
Gió châu thổ thổi tới Tam Miêu.
Cây dại lấn cả vùng sông rộng,
Cỏ bồ xuân mọc đầy khi tuyết tan.
Chỉ con thuyền
của lão ông là trôi mãi,
Thời của vị thánh
anh minh cũng đâu có chi.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Nhìn mênh mông trời đất
Làng mạc rộng trải xa Ngũ Lĩnh mây lất phất Tam Miêu gió lộng ca
Cỏ
dại lấn sông rộng Cúc bồ chen tuyết tan
Thuyền trôi trong gió lộng
Trời - Đất… đang chuyển làn.
(Trần Nhạc dịch)
Đất trời bát ngát mênh mông quá
Châu quận tiếp liền tận phía xa Ngũ Lĩnh mây trùm như lụa cuốn Tam Miêu gió lộng
tựa sóng hòa Một vùng sông rộng cây dại lấn Nhiều bãi tuyết tàn cỏ bồ xòa Thuyền nhỏ ngư ông trôi trôi mãi
Thánh minh thuở ấy cũng thế mà.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Càn khôn một cõi rộng dài
Lớp lang thôn xóm tận ngoài đồng xa
Mây trời Ngũ Lĩnh phủ xòa
Tam Miêu bát ngát trải ra tứ bề Dại hoang cây lấn sông quê
Cỏ bồ xuân ngập lối về tuyết tan
Thuyền con độc lão trôi tràn
Thánh minh thời thế, trần gian…
ích gì?...
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Đất
trời bát ngát rộng bao la Làng phố tầm nhìn ngút ngát xa Ngũ Lĩnh mây bay mù bao phủ Tam Miêu
gió thổi đất bồi sa
Cỏ
bồ xuân mọc khi tan tuyết Cây dại lấn
trùm sông rộng ra Thuyền của lão ông xuôi mái mãi
Thánh anh minh chẳng
được ai ca.
(Phan Thị Thanh Minh dịch)
Đất trời quá mênh mông
Làng xóm xa mịt mùng Ngũ Lĩnh mây phủ kín Tam
Miêu gió tràn thung
Cây hoang lấn sông rộng Cỏ bồ tan tuyết bung Thuyền lão là lướt
mãi
Thời minh thánh hoài công.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Điểu minh giản, tâm sự của Vương Duy
Dịp tết nguyên đán Ất Mùi, khi lang thang thưởng ngoạn
khu thư pháp ở khu vực Văn Miếu, Hồ Văn, tôi bắt gặp bức thư pháp của nhà thư
pháp Trần Thịnh, chép bài thơ Điểu minh
giản của Vương Duy, một trong tứ trụ Đường thi. Theo tôi, Điểu minh giản là một trong những bài
thơ hay nhất của Vương Duy, mà ở đó, thể hiện nỗi niềm tâm sự trong cuộc đời
làm quan đầy truân chuyên của nhà thơ này.
Ø Bản chữ Hán:
鳥鳴澗
人閒桂花落,夜靜春山空。月出驚山鳥,時鳴春澗中
Ø
Bản âm Hán Việt:
Điểu minh giản
Nhân
nhàn quế hoa lạc, Dạ tĩnh xuân sơn không, Nguyệt xuất kinh sơn điểu
Thời minh xuân giản trung,
Ø
Dịch nghĩa:
Tiếng chim trong khe
Người nhàn
hoa quế rụng rơi Đêm yên tĩnh,
núi xuân quạnh
hiu
Trăng mọc (khiến) chim chóc trong
núi kinh sợ Chốc chốc lại cất tiếng kêu trong khe
núi xuân.
Trong
cuộc đời làm quan của mình, Vương
Duy, nhà thơ nổi tiếng đời Đường
gặp phải loạn An Lộc Sơn, cướp ngôi nhà Đường, Vương Duy đành làm quan với triều
mới, rồi sau khi nhà Đường lấy lại từ An Lộc Sơn, Thái tử
Lý Hanh lên ngôi, phong cha mình làm Thái thượng hoàng, thì Vương Duy may mắn
được miễn tội vì đã theo kẻ phản loạn.
Chính vì thế, sau này, khi được hưởng thanh bình, lâu lâu nghĩ lại vẫn thấy bàng hoàng, bất an
trong lòng bởi sai phạm của mình. Bài thơ Điểu minh giản cho thấy tâm sự ẩn sâu trong nỗi lòng của ông. Thế nên, núi quạnh hiu
trong đêm thanh vắng, vậy mà, khi "trăng mọc", chim rừng kinh động, chốc chốc kêu như sự bất an... Và có lẽ, sau này,
ông nghiêng về Phật giáo, cũng là sự giải thoát đi tìm sự bình an, tịnh thái chăng?...
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Nhàn
nhã ngắm hoa quế rụng rơi Đêm núi lặng xuân thêm cô quạnh Trăng nhú đầu non chim chóc sợ Tiết xuân chim kêu vang giữa trời.
(Ngô Minh Vương dịch)
Giơ tay đón cánh hoa buồn
Lắng lòng trong cảnh núi non mây ngàn Trăng về thức giấc xốn xang
Tiếng chim thương cảm bàng hoàng lay xuân.
(Thu Phong 62 dịch)
Thanh nhàn hoa quế rụng Tĩnh lặng đêm xuân vắng
Chim giật mình trăng lên
Khe xa hót tiếng vang.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
1.
Thấy cảnh...
người nhàn hoa quế rụng Ngẫm tình... núi vắng đêm bình an
Nhìn vầng trăng mọc chim rừng sợ Cất tiếng hót vang trong núi xuân.
2.
Người
nhàn ngắm hoa quế rơi Đêm thâu núi vắng đất trời bình an Trăng lên chim sợ ríu ran
Cùng nhau kêu hót núi xuân vang lừng.
(Phan Thị Thanh Minh dịch)
Người
nhàn ví quế hoa tàn rụng Núi quạnh màn đêm xuân ngắt lặng
Nguyệt chiếu
thình lình sơn điểu kinh Buông kêu thảng thốt khe xuân vọng.
(Trần Khẩu dịch)
Rỗi nhìn hoa quế rụng rơi
Đêm xuân thanh vắng, núi đồi quạnh hiu Giật mình chim chóc thoảng kêu
Ẩn trong xuân núi bao điều không yên...
(Trần Quê dịch)
Người nhàn ngắm hoa quế rụng Núi xuân hiu quạnh đêm thâu Trăng
lên xôn xao chim chóc Tiếng kêu thảng thốt khe sâu.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch).
Tiễn bạn, đọc Tống biệt của Vương Duy
Hàng ngày, công việc ở cơ quan, sau những lúc họp hành, bận rộn, muốn xả stress, tôi thường
xuống tầng bốn gõ cửa vào phòng Trần Đăng Khoa, hoặc lại thang máy lên tầng 10, tán gẫu với Nguyễn Trọng Huân cho nhẹ đầu...
Một chiều, theo thói quen, tôi bấm thang máy định lên
tầng 10 thì chợt nhớ là Nguyễn Trọng Huân đã đi nhiệm sở Văn phòng VOV Tây Bắc
đóng tại Sơn La từ mấy hôm trước
rồi... Bần thần,
quay trở về phòng mình, tự nhiên một câu thơ của Vương Duy
vang lên trong đầu "Hạ mã ẩm quân tửu/
Vấn quân hà sở chi?"...
Thế là mang tuyển thơ Đường ra xem, nhẩn nha với Tống
biệt của Vương Duy. Mặc dù, hiểu anh bạn Nguyễn Trọng Huân đi Tây Bắc là đi
lập nghiệp, không giống cảnh của người xưa trong bài thơ... Song giờ đây, vắng
lão ở cơ quan, cũng thấy nhơ nhớ, thiêu thiếu...
Nói đến thơ Đường, thiên hạ thường nhắc đến ba nhà: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Song với riêng tôi,
còn có Vương Duy, và tôi xem bốn nhà này là Tứ trụ Đường thi.
Về thân thế và sự nghiệp của Vương Duy khá phức tạp,
song có thể tìm được những dòng tóm tắt về nhà thơ này như sau:
“Vương Duy: 王维 (701-761),
tự Ma Cật, người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông
còn được người đời gọi là Thi Phật. Vương Duy cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ
Phủ (Thi Thánh) và Bạch Cư Dị là bốn người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay
còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã.
Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng.
Ông cũng là người tinh thông về Phật học và theo trường phái Thiền tông. Trong Phật giáo có Duy Ma Cật kinh, là
kinh sách do Duy-ma-cật dùng để giảng dạy cho môn sinh. Vương Duy là người kính trọng Duy-ma-cật do ông có tên là Duy, tự là Ma Cật. Năm Khai Nguyên thứ 9 (721)
thời Đường Huyền Tông, Vương Duy đỗ Tiến sĩ, nhận chức quan đại nhạc thừa, sau
phạm điều cấm, bị khiển trách và phải đến Tế Châu làm tham quân. Năm Khai
Nguyên thứ 14 (726), ông từ bỏ quan chức, nhưng sau đó lại nhận chức hữu thập
di, thăng tới giám sát ngự sử. Năm 40
tuổi, được thăng lên điện trung truyền ngự sử. Năm Thiên Bảo thứ 14 (755), An Lộc
Sơn chiếm Trường An. Vương Duy bị An Lộc Sơn bức ra làm quan,
nhưng sau không được như ý, ông đã lui về ở tại biệt thự Lam Điền, sáng tác thơ ca để biểu đạt
lòng mình. Sau khi An Lộc Sơn thất bại,
nhờ có em trai là Vương Tấn khi dó
đang giữ chức quan cao nên Vương Duy được
miễn tội và được phong chức Thái tử trung doãn, sau thăng tới Thượng thư hữu thừa,
vì thế người đời còn gọi ông là Vương
hữu thừa...”.
Tống biệt là
một trong số ít bài thơ tiêu biểu nhất của Vương Duy.
Ø Bản chữ Hán:
送別
下馬飲君酒,問君何斫之?君言不得意,歸臥南山陲。但去莫復問,白雲無盡時。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Hạ mã ẩm quân tửu,
Vấn quân hà sở chi?
Quân
ngôn bất đắc ý, Quy ngọa Nam Sơn thùy. Đản khứ mạc phục vấn, Bạch vân vô tận
thì.
Ø
Dịch nghĩa:
Xuống ngựa mời nhau rượu
Hỏi anh định về đâu
Anh bảo đời đã ngán ngẩm Thôi thì về ẩn núi Nam
Xin đừng hỏi gì nữa
Mây trắng chẳng ngừng trôi....
Hiện có khá nhiều bản dịch thơ, tôi không đưa ra đây là
có ý để mọi người thử dịch thơ theo ý của riêng mình...
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Ngựa dừng, rượu đắng mời nhau Hỏi rằng, anh sẽ về đâu bây giờ? Đời
buồn ngán cả giấc mơ
Núi Nam xa lắc đang chờ bước chân
Im câu, vó ngựa tần ngần
Mây trôi trắng cõi phù vân giữa trời...
(Nguyễn Trọng Liên dịch)
Xuống ngựa, nâng chén rượu,
Ngỏ lòng, bạn về đâu?
Bạn rằng, đời ngán ngẩm,
Núi Nam, chờ đợi nhau, Mà thôi, đừng hỏi nữa, Mây trắng trôi trên đầu...
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Bức tranh tuyết sơn
của Lưu Trường Khanh
Bài thơ Phùng
tuyết túc Phù Dung sơn là bài thơ điển hình của Lưu Trường Khanh thời Thịnh
Đường (Trung Hoa). Thơ theo thể thất
ngôn tứ tuyệt. Câu chữ chắt lọc, hàm súc. Ý tứ sâu xa. Mượn cảnh mình nhỡ
độ đường phải gõ cửa xin ngủ nhờ qua đêm trên núi Phù Dung vào mùa đông tuyết lạnh,
thấy cảnh chủ nhân là người nghèo khó
nhưng có tấm lòng, Lưu Trường Khanh qua gia cảnh và hình bóng chủ nhân, cảnh
núi non mùa đông lạnh giá, mà bày tỏ nỗi lòng mình, và qua đó, phác họa nên bức
tranh của thời đại mình đang sống...
Thiển ý, bài thơ này, cùng với Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế, Lương Châu từ của Vương Hàn, Xuân
hiểu của Mạnh Hạo Nhiên, Tĩnh dạ tư của
Lý Bạch, Điểu minh giản của Vương
Duy... là những tuyệt bút thi ca đời
Đường.
Nhân mùa đông còn chưa qua, bàn đôi điều về tuyệt bút
này.
Tìm hiểu, được biết, Lưu Trường Khanh 劉長卿 (709-780), tự Văn Phòng 文房, người Hà Gian (nay
là huyện Hà Gian, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), đỗ Tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 21, đời Đường Huyền Tông, làm quan đến Giám
sát ngự sử... Tính tình ông cương trực, từng
bị vu oan, bị biếm quan, và tù ngục...
Tác phẩm có Lưu Tuỳ châu tập. Sở trường của Lưu Trường
Khanh là thể ngũ ngôn, nên đương thời có biệt hiệu là Ngũ Ngôn trường thành...
Ø Bản chữ Hán:
逢雪宿芙蓉山
日暮蒼山遠,天寒白屋貧。柴門聞犬吠,風雪夜歸人。
Ø Bản âm Hán Việt:
Phùng tuyết túc Phù Dung sơn
Nhật mộ thương sơn viễn,
Thiên hàn bạch ốc bần.
Sài
môn văn khuyển phệ, Phong tuyết dạ quy nhân.
Ø
Dịch nghĩa:
Mặt trời đã lặn, thấy núi sẫm xa xa,
Trời thì lạnh, mà nhà chủ lại trống trải, nghèo nàn.
Nghe tiếng chó sủa bên ngoài cổng,
Người (chủ nhân) trở về nhà trong bóng đêm
đầy gió tuyết.
Ø Một số bản dịch của người yêu thơ Đường:
Núi xa mặt trời lặn
Nhà
trống trải nghèo nàn Nghe chó sủa ngoài cổng Người về trong tuyết đêm.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Núi xa... bóng gác non tà
Gió xiêu, trời lạnh, căn nhà trống trơ Vẳng nghe tiếng chó... ngẩn ngơ
Ùa theo người...
gió...! Đêm mờ tuyết bay!
(Nguyễn Lâm Cẩn dịch)
Mặt trời lặn khuất núi xa
Gió hun hút thổi cửa nhà trống trơn Cổng ngoài tiếng chó sủa om
Giữa đêm mưa tuyết chủ nhân trở về.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Ngày tàn xám núi xa
Trời lạnh trống tuyềnh
nhà Tiếng chó đón ngoài ngõ Người về lộng tuyết sa.
(Trần Khẩu dịch)
1.
Chạng
vạng non xa sẫm Túp nghèo lạnh lẽo thêm Cổng ngoài nghe chó sủa
Gió tuyết chủ về đêm.
2.
Núi xanh xa tắt nắng chiều
Căn nhà trống trải cảnh nghèo tái tê
Cổng ngoài chó sủa vừa nghe
Ào ào gió tuyết
người về trong đêm.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Ác tà bóng núi xa xa
Trời Đông lạnh giá căn nhà trống trơn Cổng ngoài chó sủa từng cơn
Người về kéo cả tuyết sơn ập vào.
(Trần Nhạc dịch)
Lưu Trường Khanh,
người theo đuổi sự tinh tế,...
Lại sắp vào mùa thi. Các trường bắt đầu các cuộc kiểm
tra, thi thử; các lò luyện thi chộn rộn vào mùa... Các học sinh, cả bậc phụ huynh tìm kiếm tài liệu ôn thi...
Riêng môn Văn,
mấy năm gần đây, Bộ Giáo
dục chủ trương đưa các bài mở
vào cơ cấu đề thi... Việc này, được nhà trường, học sinh, phụ huynh và cả xã hội chấp nhận, xem như là một sự đổi mới trong thi cử ở ta.
Cá nhân tôi cũng ủng hộ cách làm này.
Lại nhớ, gần chục năm trước, ở Trung Quốc, trong một đề
thi môn Văn tốt nghiệp Trung học phổ
thông, có một câu đề, yêu cầu học sinh viết một bài viết tùy ý, lấy cảm hứng từ
hai câu thơ trong bài thơ Biệt Nghiêm Sĩ
Nguyên của nhà thơ Lưu Trường Khanh, đời Đường, ấy là: "Tế vũ thấp y khan bất kiến/ Nhàn hoa lạc địa
thính vô thanh" (được hiểu nghĩa là: "Mưa phùn làm ướt áo, có nhìn mà chẳng thấy/ Hoa rơi từ từ xuống đất,
nghe không tiếng động ". Đây là hai câu thơ hay của bài thơ
nói riêng, và cũng là những câu thơ hay xếp vào hàng đầu của
thi ca Đường nói chung...
Theo tôi, không những hay, mà nó thật tinh tế, cũng chính vì tinh tế mà nó hay. Điểm xuyết
các bài thơ của Lưu Trường Khanh còn lại đến nay, còn có nhiều câu thơ khác khá
hay và tinh tế. Cho thấy, trong sự nghiệp thi ca của mình, Lưu Trường Khanh chủ
trương theo đuổi sự tinh tế...
Giờ thì ta làm quen với bài thơ Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên của ông:
Ø
Bản chữ Hán:
贈 別 嚴 士 元
春 風 倚 棹 闔 閭 城水 國 春 寒 陰 復 晴細 雨 濕 衣 看 不
見閒 花 落 地 聽 無 聲日 斜 江 上 孤 帆 影草 綠 湖 南 萬 里 情東 道 若 逢 相 識 問青 袍 今 已 誤 儒 生
Ø
Bản âm Hán Việt:
Tặng biệt Nghiêm
Sĩ Nguyên
Xuân
phong ỷ trạo Hạp Lư thành Thủy quốc xuân hàn âm phục tình Tế vũ thấp y khan
(khán) bất kiến Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh Nhật tà giang thượng
cô phàm ảnh Thảo lục hồ nam vạn lí tình
Đông đạo nhược phùng
tương thức vấn Thanh bào kim dĩ ngộ nho sinh.
Ø Dịch nghĩa:
Tặng Nghiêm Sĩ Nguyên
lúc từ biệt
Trong gió xuân, nương mái chèo về thành Hạp Lư Vẻ xuân trên mặt sông lạnh lúc mờ lúc
tỏ
Mưa phùn làm ướt áo, nhìn mà chẳng thấy
Hoa từ từ
rơi xuống đất, nghe không tiếng động Nắng chiều xế trên sông với cánh buồm cô độc
Đồng
cỏ xanh phía nam hồ gợi mối tình xa muôn dặm Nếu
(ông) có gặp người quen hỏi về (tôi)
(Thì bảo) áo xanh nay người học trò xưa lầm lỡ rồi,
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Hạp thành
chèo đến, gió xuân đưa Sông lạnh cảnh xuân lúc tỏ mờ Vạt áo
li ti mưa rớt thoảng
Cánh
hoa nhè nhẹ tiếng rơi hờ Buồm đơn trên sóng mang chiều xế Cỏ biếc nam hồ gợi nghĩa xưa
Nếu gặp người quen ai đó hỏi
Đồ xanh nay lỡ phận người trò.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Mái đẩy Hạp Lư lựa gió rời
Sông xuân nước lạnh cảnh chơi vơi Không hình mưa bụi dầm nhoèn ngấm
Chẳng tiếng cánh hoa bảng lảng rơi Chiều ngả manh buồm trơ bóng lẻ
Hồ
nam sắc cỏ gợi tình côi Người quen nếu gặp ai dò hỏi Trò ấy áo xanh lạc lỡ rồi.
(Trần Khẩu dịch)
Chèo
nương theo gió tới Hạp Lư Vẻ mặt xuân sông tỏ lại mờ Chẳng thấy mưa phùn làm ướt áo Không nghe hoa rụng rớt từ từ Cánh buồm
cô độc in nắng xế Đồng cỏ nam hồ gợi tình xa
Ai hỏi về tôi xin hãy nói
Áo xanh lầm lỡ kẻ học
trò...
(Trần Mỹ Giống dịch)
Chèo
nương gió Tết Hạp Lư về Nước rọi Xuân mờ lạnh lẽo che
Áo đậm giọt phùn trông chẳng thấy Hoa nhàn cánh rụng lắng
không nghe Buồm cô sông vắng buông
chiều xuống Cỏ biếc hồ thành
nhớ cố tri
Xin
nhủ giùm ai còn nhớ đến Rằng tôi áo mực đã phai nhòe.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Mái chèo nương gió tới Hạp Lư
Vẻ xuân trên sóng lúc tỏ mờ
Mưa phùn ướt áo nhìn chẳng
thấy Hoa rơi xuống đất nhẹ như mơ Nắng
xế trên sông buồm một cánh
Cỏ xanh cuối bãi gợi tình xưa
Nếu gặp người quen ai có hỏi
Thư sinh thuở ấy đã lầm to.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Gió
Xuân nhẹ chèo Hạp Lư thành Sông Xuân mờ tỏ lành lạnh xanh Mưa phùn đẫm vai nhìn chẳng thấy
Thinh lặng hoa rơi mặt đất đầy Sông chiều xế nắng thuyền lẻ loi Nam hồ cỏ biếc
tình xa xôi
Người xưa có hỏi xin bày tỏ
Trò cũ áo xanh lỡ lầm rồi.
(Trương
Thị Mầu dịch)
Cảm nhận thu, tinh tế Lưu Vũ Tích
Quốc khánh năm 2015, nghỉ ít, vả lại đang lúc bận rộn,
nên chẳng đi đâu xa, mà cũng không về quê. Sáng dậy sớm, lên sân thượng, mở cửa,
hít thở khí trời trong lành ban mai. Bầu không tĩnh lặng khác thường. Chợt làn
gió sớm se se thổi rung cây lộc vừng cỗi lá đã lên màu xanh ngà, báo hiệu mùa
lá vàng.
Thu thật rồi ư?
Pha phin cà phê, đợi từng giọt tí tách, bật tivi chờ
xem tường thuật diễu binh...
Lúc này bất chợt nhớ mang
máng một câu thơ Đường "Hà xứ thu
phong chí?" (tức: Làn gió thu từ đâu thổi đến?). Lục sách, thì ra, đấy là câu mở trong bài thơ Thu phong dẫn của Lưu Vũ Tích...
Đọc và
ngẫm nghĩ,
mới thấy
cổ nhân
tinh tế
làm sao!...
Về thân thế sự nghiệp của Lưu Vũ Tích: "Lưu Vũ
Tích 劉禹錫
(772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành
(nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ Tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793),
làm Giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ
trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Văn, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc
Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Sở trường
của Lưu Vũ Tích là thể từ, ông hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi
ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập ".
Ø
Bản chữ Hán:
秋風引
何處秋風至,蕭蕭送雁群。朝來入庭樹,孤客最先聞。
Ø Bản âm Hán Việt:
Thu phong dẫn
Hà
xứ thu phong chí? Tiêu tiêu tống nhạn quần Triêu lai nhập đình thụ Cô khách tối
tiên văn.
Ø Dịch nghĩa:
Gió
thu về,
Ngọn gió thu từ đâu thổi đến?
Hắt hiu tiễn đàn nhạn bay đi
Gió sớm se lạnh lùa vào cổ thụ trước sân
(Ta) khách cô đơn là người biết đầu tiên.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Gió thu thổi đến từ đâu
Hắt hiu tiễn nhạn rủ nhau về trời Gió lùa cổ thụ sân ngoài
Nghĩ mình sớm biết, thấy đời lẻ đơn.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Dưng gió trở mùa thu bất chợt Về đâu lũ nhạn hút đường bay Cây già
gió sớm se ngoài ngõ
Lữ khách
phòng cô cảm chút hoài.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Gió thu biết thổi từ đâu
Kìa đàn chim nhạn bắt đầu bay xa Se se cây thụ trước nhà
Cô đơn ai biết hồn ta lặng thầm!
(Nguyễn Lâm Cẩn dịch)
Thu về gió đến từ đâu
Hắt hiu tiễn bạn lá sầu nhẹ bay
Sáng ra chút lạnh heo may
Cô đơn lặng lẽ thu này xuyến xao.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Gió
thu từ đâu đến Hiu hắt tiễn nhạn đi Gió lạnh lùa cổ thụ
Khách biết trước ai
bì...
(Trần Mỹ Giống dịch)
Gió
thu chợt thổi từ đâu tới, Hắt hiu tiễn nhạn biệt trời xa Heo may xao xác vòm cổ
thụ Biết thu vừa đến - một mình ta.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Nhẹ nhàng mỏng mảnh gió thu sang
Hiu hắt trời Nam nhạn giăng hàng Cổ thụ trước sân đùa giỡn gió
Tinh mơ ngửa mặt hóng thu vàng.
(Kiều Thiện dịch)
Xuân hiểu, một cách hiểu
Xuân hiểu,
có thể xem là bài thơ hay nhất, trong số gần ba mươi bài thơ còn lại đến nay của Mạnh Hạo Nhiên.
Xét về mức độ nổi tiếng, Mạnh Hạo Nhiên thuộc diện xếp
ngay sau Tứ trụ Đường thi (Lý Bạch-Bạch
Cư Dị-Đỗ Phủ-Vương Duy). Ông thuộc thế hệ đàn anh của Lý Bạch, kết bạn thân với hai nhà thơ nổi
tiếng khác đồng thời làm quan trong triều là Vương Duy và Trương Cửu Linh.
Về thân thế, sách Đường thi tam bách thủ của
Hành Đường Thoái Sĩ cho biết: Mạnh Hạo Nhiên, người Tương Dương, Tương
Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc). Ngay từ
lúc còn trẻ, tính tình khảng khái,
khí phách, sẵn lòng giúp đỡ
người hoạn nạn. Thi cử không đỗ, giỏi thơ ngũ ngôn. Ở vào tuổi bốn mươi mới về
thăm kinh thành, được mời đến nhà
Thái học, làm thơ phú. Có lần, được
Vương Duy mời vào nội phủ, tình cờ vua Đường
là Huyền Tôn Đường Minh Hoàng đến, tận mắt thấy cảnh Mạnh Hạo Nhiên điềm
nhiên bàn thơ phú với Vương Duy, mà Duy lại có thái độ nể trọng. Vua nói
rằng: "Trong số
các quan ở bên ta, chưa thấy ai như người này" (có ý khen phong thái,
khí phách của Mạnh Hạo Nhiên), rồi bảo Vương Duy gọi Mạnh Hạo Nhiên ra lạy
chào. Khi vua hỏi về thơ phú, Mạnh Hạo Nhiên liền dâng bài thơ, hàm ý khẳng
khái nhận mình là người không có tài nên bị chúa bỏ không dùng. Huyền Tôn bảo:
"Vua không tìm kẻ sĩ, nhưng ta có bỏ
các vị khanh tướng bao giờ, sao lại nói không cho ta thế ". Vì chuyện
đó, về sau Mạnh Hạo Nhiên bỏ đi xa. Cho đến khi người bạn thơ là Trương Cửu
Linh trị nhậm Kinh Châu, mới đón về ở cùng phủ. Lúc Trương
Cửu Linh thôi chức, ông cũng bỏ đi luôn. Mạnh Hạo Nhiên ốm nặng
và mất vào cuối niên hiệu Khai Nguyên.
Mạnh Hạo Nhiên còn nổi tiếng, bởi được Lý Bạch nhắc đến
trong bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng.
Ø Bản chữ Hán:
春曉
春眠不覺曉,處處聞啼鳥。夜來風雨聲,花落知多少。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đê điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu.
Ø Bản dịch nghĩa:
Giấc xuân đẫy, sáng mà chẳng biết;
Khắp nơi nghe thấy chim hót
Đêm qua
nghe tiếng gió, mưa; Không biết hoa rụng nhiều
hay ít?
Ø Bản dịch thơ của học giả Trần Trọng
Kim:
Giấc
xuân trời sáng không hay Chim kêu ríu rít từng bầy khắp nơi
Đêm qua mưa gió tơi bời
Biết rằng hoa cũng có rơi ít nhiều.
Ø Bản dịch của Tương
Như:
Giấc xuân sáng chẳng biết,
Khắp nơi chim ríu rít,
Đêm qua tiếng gió mưa Hoa rụng nhiều hay ít?
Thiển nghĩ, hai cách dịch trên, mỗi bản hay một kiểu,
và cũng còn nhược điểm này nọ…
Tuy nhiên, ở bài thơ này, đáng lưu ý là câu thơ kết
"Hoa lạc tri đa thiểu". Đây
là câu hay nhất, hàm súc nhất, và vì
thế, xưa nay, gây ra các cách hiểu khác nhau (cả khi chuyển ngữ sang tiếng Việt).
Bàn thêm về bài thơ Xuân hiểu:
Như đã nói ở bài bình luận trước, Xuân hiểu được hậu thế xem là một trong những bài thơ Đường xuất sắc nhất nói chung, và riêng của Mạnh Hạo
Nhiên. Song tuyệt diệu hơn cả, là câu kết bài thơ "Hoa lạc tri đa thiểu". Ý tại ngôn ngoại là đặc điểm chung của ngôn ngữ
Hán (và Hán Việt), lại càng đúng với thơ, nhất là thơ Đường.
Đặc trưng của thơ Đường là chủ thể ẩn. Có nghĩa là không thấy, rất hiếm thấy cái
"Ta", "Tôi" xuất hiện trong
bài thơ, song cái "Ta-Tôi" ấy chỉ lẩn khuất, chứ thực ra, bóng dáng
nó lại hiển hiện, xuyên suốt cả bài thơ, chi phối cảm xúc, mạch thơ…
Trở lại bài thơ Xuân hiểu:
Xuân miên bất giác hiểu, Xứ xứ văn đê điểu,
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu.
Vì độ hàm súc của thể thơ ngũ ngôn tuyệt cú và riêng
bài thơ này, ta phải nhìn nhận cấu trúc và ngữ nghĩa của từ, mới có thể hiểu được
hàm ý chung và câu kết bài thơ.
Từ "HIỂU" - theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, mang các nghĩa sau đây:
+ Có nghĩa là: Trời sáng (tên bài thơ Xuân hiểu - Sáng
xuân).
+ Có nghĩa là: Biết - Nói cho biết (ví như: hiểu biết - cụm từ ghép hiểu-âm Hán Việt, biết-âm
thuần Việt, nhấn mạnh sự hiểu biết).
Thế nên, từ HIỂU trong bài thơ này, tùy theo vị trí,
văn cảnh trong bài mà có thể mang nghĩa thứ nhất, hoặc thứ hai (hoặc cả hai).
Riêng câu kết, có thể hiểu và dịch nghĩa như sau:
"(Ta) biết, thế nào hoa cũng rụng mất
ít nhiều".
Xin trở lại với bài viết trước. Rõ ràng, ở đây, Trần
Trọng Kim và Tương Như hiểu ý câu kết bài thơ khác nhau, nên dịch khác nhau.
Trần Trọng Kim dịch: "Biết rằng hoa cũng có rơi ít nhiều"- Như vậy, Trần Trọng Kim đọc
ý thơ, khẳng định, ý thức rõ (Ta biết, chắc là...).
Tương Như dịch: "Hoa rụng nhiều hay ít?"- Như vậy, Tương Như đọc ý thơ, nghi vấn,
ý thức chưa rõ (Ta chưa rõ là…nhiều hay
ít?".
Theo tôi, Xuân hiểu được hiểu nghĩa (nôm na)
như sau:
Sáng xuân
Giấc xuân (của ta)
đẫy, nên trời sáng lúc nào
không hay, Tỉnh dậy,
(ta) nghe chim hót ríu ran khắp mọi
nơi. Đêm qua, trong giấc ngủ, (ta) nghe thấy tiếng mưa gió
(Ta) biết,
hẳn là hoa (trong vườn nhà)
cũng rụng mất ít nhiều.
Như vậy, tôi tán thành cách hiểu và dịch câu kết bài thơ của Trần Trọng Kim. Từ đó, tên bài
thơ Xuân hiểu - từ HIỂU cùng lúc mang hai nghĩa (trời sáng, biết)
- "Hiểu sáng xuân" (hay "Biết sáng xuân").
Điều này, cũng phù hợp với tính cách, con người Mạnh Hạo
Nhiên, tài giỏi, hiểu đạo lí thánh hiền, không ham vinh hoa phú quý, chủ động
và chấp nhận mọi hoàn cảnh cuộc đời...
Sau đây
là bản
dịch thơ
khác của
người yêu
thơ Đường:
Giấc xuân đẫy, sáng nào hay
Chim kêu ríu rít từng bầy khắp nơi
Đêm qua nghe gió mưa rơi
Hoa kia không biết rụng rơi ít, nhiều?
(Phạm Tâm An dịch)
Giấc xuân thật đẫy, sáng nào hay
Chim ca ríu rít khắp nơi này Đêm qua
mưa gió, ta chăng biết,
Vườn ngoài
hoa rụng ít, nhiều đây?
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Cảm
quan Lịch sử của
Mạnh Hạo Nhiên...
Trong sáng tác văn học nghệ thuật, ai đó, khi nhìn nhận một sự kiện, đánh giá một nhân vật, thậm chí nhìn nhận đánh giá cả một triều
đại nào đó v.v..., nếu có nhãn quan lịch sử, và qua đó, chuyển hóa
thành cảm quan lịch sử phổ vào tác phẩm
nghệ thuật của mình, thì tác phẩm của họ sẽ sống mãi với thế gian. Mạnh Hạo Nhiên,
thi nhân đời Đường là một người như vậy. Riêng với bài thơ Dữ chư tử đăng Hiện
Sơn của ông là một ví dụ điển hình.
Chuyện kể rằng, trên núi Hiện Sơn (thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc) có cái bia của Dương Hỗ đời Tấn. Khi ông này trấn ở đất Tương
Dương, nhân dân rất yêu mến, đến khi
ông mất, người ta làm bia ở trên núi Hiện Sơn là nơi ông từng hay lên xem phong
cảnh, để ghi công đức của ông. Về sau ai lên xem bia ấy cũng nhớ ông mà khóc,
cho nên người kế chân ông là Đỗ Dự đặt
tên Trụy lệ bi.
Nhân cùng mấy bạn hữu lên Hiện Sơn ngắm cảnh, thấy bia ấy, Mạnh Hạo Nhiên suy ngẫm, đời người ta, ai
rồi cũng như Dương công, vinh hiển sẽ qua đi, cái để lại cho
đời sau, may mắn lắm, thì cũng chỉ còn lại một tấm bia mà thôi, nên cảm thấy
thương người, thương mình mà cảm thán...
Ø Bản chữ Hán:
與諸子登峴山
人事有代謝,往來成古今。江山留勝跡,我輩復登臨。水落魚梁淺,天寒夢澤深。羊公碑字在,讀罷淚沾襟。
Ø Bản âm Hán Việt:
Dữ chư tử đăng Hiện Sơn
Nhân sự hữu đại tạ,
Vãng lai thành cổ kim (câm)
Giang
sơn lưu thắng tích, Ngã bối phục đăng lâm. Thủy lạc ngư lương thiển, Thiên hàn Mộng trạch thâm.
Dương công bỉ thượng tại, Độc bãi lệ triêm khâm.
Ø Dịch nghĩa:
Cùng bạn hữu lên Hiện Sơn
Chuyện đời hưng suy là thường tình
Dĩ vãng tương lai làm nên lịch sử xưa nay Núi sông kia còn lưu thắng tích
Để nay ta còn được lên đây mà chiêm ngưỡng Nước xuống thấy ngổn ngang ngư cụ
Trời lạnh đầm Mộng như sâu hơn
Bia đá Dương công còn đấy
Đọc rồi nước mắt ướt đầm vạt áo...
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ:
Chuyện đời thường suy, thịnh
Cổ, lai tạo sử xanh
Giang sơn lưu thắng tích
Cho ta tận mắt nhìn Nước xuống ngư cụ nổi Trời lạnh đầm sâu hơn Bia Dương công
còn đó Vạt áo lệ ướt đầm.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Suy, thịnh trên đời lắm đổi thay Tương lai, quá khứ nối xưa
nay Núi sông dấu tích lưu truyền lại Ta bạn thăm quan tới ngắm đây Cạn nước ngư đồ giơ khắp bãi
Rét trời Vân Mộng ngập vương đầy Dương Châu bia đá còn ghi mãi Dòng lệ
tuôn rơi cảm nỗi này.
(Đỗ Xuân Đào dịch)
Hưng thịnh
suy vong chuyện
thường tình Lịch sử dệt từ cổ
đến kim
Sông núi vẫn còn lưu thắng tích
Hậu sinh có dịp được thăm tìm Lúc cạn đáy bùn đầy ngư cụ
Trời lạnh nước đầy đầm sâu thêm Sự nghiệp Dương công ghi bia đá Đọc
xong ngẫm nghĩ lệ ướt khăn.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
1.
Thịnh,
suy đời cứ đổi Cũ, mới mãi xoay vần Sông núi lưu di tích Đoàn ta tiếp bước chân
Nước vơi phô gọng vó Trời lạnh thấu ao Vân Bia tạc Dương công đó Đọc xong lệ ướt
đầm.
2.
Sự đời suy thịnh đổi thay
Cũ đi, mới đến xưa nay thường tình
Núi sông còn đó dấu hình
Để nay lên núi cho mình ngắm trông Nước lùi vó lộ đáy sông
Trời đông, đầm Mộng lạnh lùng càng sâu Bia Dương công đứng dãi dầu
Đọc xong dòng chữ, lệ sầu đẫm
khăn.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Thịnh suy lẽ thường
tình Cổ tân thành thiên sử Núi sông lưu vạn sự
Hậu
sinh mãn nhãn tiền. Nước xuống duềnh ngư cụ Trời lạnh đầm thêm sâu Bia Dương công
còn đó
Lệ nhòa... Người
nơi đâu?
(Lã Minh Kính dịch)
Tảo hàn hữu hoài của Mạnh Hạo Nhiên
Lúc cuối thu đầu đông, tuy ngày có nắng ấm, song chiều
tà qua đêm đến sớm hôm, trời lạnh, hanh khô.
Cây đổ lá như trút sau mỗi cơn gió lạnh. Bầu trời, thi thoảng những đàn
chim trú đông tránh rét bay về nam, cất tiếng kêu thảng thốt.
Tự nhiên, lại nhớ câu thơ của Mạnh Hạo Nhiên đời Đường:
"Mộc lạc nhạn nam độ/ Bắc phong giao
thượng hàn " (Tảo hàn giang thượng
hữu hoài, có bản ghi là Tảo hàn hữu hoài).
Ø Bản chữ Hán
早寒江上有懷
木落雁南渡,北風江上寒。我家襄水曲,遙隔楚雲端。
鄉淚客中盡,孤帆天際看。迷津欲有問,平海夕漫漫。
Ø Bản âm Hán Việt:
Tảo hàn giang thượng hữu hoài
Mộc lạc nhạn nam độ,
Bắc phong giao thượng hàn.
Ngã gia Tương thuỷ khúc, Giao cách Sở vân đoan.
Hương lệ khách trung tận,
Cô phàm thiên tế khan.
Mê
tân dục hữu vấn, Bình hải tịch man man.
Ø Dịch nghĩa:
Rét sớm, trên sông, nhớ
Cây đổ lá,
nhạn về nam Gió bắc thổi lạnh trên sông
Nhà ta kề
bên khúc sông Tương Cánh xa nước Sở những ngàn mây Nhớ quê, lệ khách phương xa đã cạn Một cánh buồm cô đơn mãi góc trời Hỏi
(rằng) bến mê ở nơi nao?
Mặt biển (thì) lặng yên, đêm dài dằng dặc.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
1.
Lá bay, nhạn trốn về Nam
Lạnh lùng gió bấc trên sông chiều tà Tương Giang soi bóng căn nhà
Cách xa nước Sở quê ta ngàn trùng Nhớ quê lệ đã cạn dòng
Cô đơn một cánh buồm giong góc trời Bến mê đâu hỡi người ơi?
Mặt biển thì lặng, lòng tôi sóng dồn!
2.
Lá
rụng, nhạn về nam Gió bấc lạnh trên sông
Tương
Giang soi lều cỏ Nước Sở xa ngàn trùng Nhớ quê nước mắt cạn Cô độc cánh buồm giong
Bến mê nơi đâu nhỉ?
Đêm dài lòng rưng rưng!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
1.
Gió Bắc lạnh ngoài sông
Cây sầu đông trút lá Nhạn về Nam xây tổ
Cô
lẻ cánh buồm dong Nhà ta bên sông Tương Ngàn mây xa nước Sở Nhớ quê, khách
cạn lệ Biển lặng, đâu bến mê?
2.
Nhà ta ở bên sông Tương
Gió Bắc se lạnh vấn vương nỗi nhà
Buồm cô đơn góc trời xa
Cây sầu trút lá, nhạn đà về Nam Ngàn mây nước Sở xa xăm
Lệ khách đà cạn châu đầm, nhớ quê Nơi nao ơi hỡi bến mê?
Đêm dài dằng dặc, biển thì lặng yên…
(Phan Lan Hoa dịch)
Cây
già rụng lá Nhạn về Nam Hun hút mặt sông gió bấc tràn
Nhà chếch
dòng Tương con nước lạnh Quê nghiêng bể Sở cánh mây đan
Nhớ
làng, lệ cạn khô dòng lệ Thương nước, gan đau rách lá gan Mê hoặc hồn ta đời lữ thứ
Lặng hờ mặt bể, trống canh tàn!
(Nguyễn Trọng Liên dịch)
Cây trút lá, nhạn về nam
Trên sông gió bắc thổi hàm cứng đơ. Đoạn ta nhà cậy nước nhờ
Cách xa dằng dặc, đôi bờ mây trôi Tha hương lệ đã cạn rồi
Một con thuyền nhỏ lẻ loi bên trời Muốn về, lạc bến người ơi
Mênh mông chiều lặng, đầy vơi đêm trùm.
(Phạm Minh Giắng dịch)
Cây đổ lá, nhạn về nam
Gió bắc thổi lạnh trên sông
Nhà
ta kề bên khúc sông Tương Cách xa nước Sở những ngàn mây Nhớ quê, lệ khách phương xa đã cạn Một cánh buồm cô đơn mãi góc trời Hỏi
bến mê ở nơi nao?
Mặt biển lặng yên, đêm dài dằng dặc.
(Xuân Thương dịch)
Lá
vàng về đất nhạn xuôi Nam Giá rét theo đông đã buốt vàm Kế tựa sông Tương
nhà cỏ xám Xa vời núi Sở xứ mù lam
Hoài
hương lệ đổ bao lần cạn Vọng quốc buồm cô cõi ngút ngàn Bến đợi còn ai chờ viễn khách?
Đêm dài biển lặng dạ sầu
mang.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Nhạn
trốn về Nam bấc lạnh rồi Nghìn trùng nước Sở
cách đôi nơi Rưng rưng nước mắt sầu
cô độc Một cánh buồm giong lạc góc trời.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm phỏng dịch)
Khi nhạn về nam cây đổ lá,
Buốt
tê gió bắc vướng trên sông. Mây che bóng Sở trùm thương nhớ, Bến lạnh sông Tương phả lạnh lùng.
Lệ nóng dần khô đời viễn xứ,
Buồm đơn lật phật nỗi long đong.
Bến mê ai biết nơi nào tá,
Đêm biển im lìm mặt nước không.
(Hai Rạch Giá dịch)
Lá
trút về cội én xuôi nam Lành lạnh trên sông gió bắc về
Mái tranh nương nhờ khúc sông tương
Thương quê đã cạn đôi dòng lệ
Trùng
mây nước Sở ngàn trùng xa Cô đơn buồm mê chiều một cánh Biển lặng bến mơ buồn mênh mang.
(Ngô Minh Vương dịch)
Sầm Tham, tương kiến dã y y
Sầm Tham 岑參 (715-770) gốc ở Nam Dương,
sau di cư tới Giang Lăng, dòng dõi của tể tướng Sầm Văn Bản 岑文本 (595-645), thi nhân đời Đường
đại biểu cho thơ biên tái, cùng với Cao Thích 高適.
Tác phẩm có Sầm Gia Châu thi tập (岑嘉州詩集)...
Về sự nghiệp văn
chương:
Đời sau ghi
lại: Tác phẩm của ông để lại
có Sầm Gia Châu thi tập (Tập
thơ của họ Sầm ở Gia Châu) gồm 8 quyển. Thời niên hiệu Thiên Bảo (từ 742 đến
756), dân tộc Hán đánh nhau liên miên với các dân tộc khác ở vùng Tây Bắc, Đông
Bắc và Tây Nam. Đây là một sự kiện lớn
và là một đề tài lớn lúc bấy giờ, được nhiều
nhà thơ (có Sầm Tham) khai thác.
Sầm Tham, nhờ sống ở biên ải tương đối lâu, nên làm được rất nhiều thơ biên tái. Qua sự miêu tả sinh động, ông đã làm cho người đọc hình dung được phong cảnh, phong tục, cuộc sống
với nhiều dạng vẻ nơi biên ải, tinh thần chiến
đấu và nhớ quê của các tướng sĩ biên phòng.
Với cá nhân tôi, vốn có chút máu văn chương, lại cộng
thêm lấy nghề báo làm nghiệp, nên thường nay đây mai đó. Gốc gác nông thôn,
nhưng sinh ra ở thành phố, đến tuổi đi học lại sơ tán chiến tranh về với quê
hương bản quán. Tốt nghiệp đại học, phiêu bạt tới 7 năm nơi châu thổ Mê-kông; đến
tuổi ngũ niên lại thêm vài năm trấn thủ lưu đồn suốt dải đất ven biển miền
Trung từ Quảng Bình đến Khánh Hòa... Giờ thì vẫn phải lang thang đó đây do yêu
cầu của công việc. Thế nên, khi đọc
những bài thơ thuộc dòng thơ biên tái của các nhà thơ đời Đường (Trung Hoa) lấy
làm yêu thích. Thể thơ niêm luật chặt chẽ, câu chữ thì chắt lọc súc tích, ý tứ lại dạt dào mênh mông, và chẳng bao giờ
là cũ cả...
Bài thơ Đề Bình
Dương quận Phần kiều biên liễu thụ của
Sầm Tham là một bài thơ như vậy, thuộc hàng kinh điển của dòng thơ biên tái đời
Đường...
Ø Bản chữ Hán:
題平陽郡汾橋邊柳樹此地曾居住,
今來宛似歸。可憐汾上柳,相見也依依。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Đề Bình Dương
quận Phần kiều biên liễu thụ,
Thử địa tằng cư trú,
Kim lai uyển tự quy.
Khả liên Phần thượng liễu,
Tương kiến dã y y.
Ø Dịch nghĩa:
Đề bên gốc liễu cầu Phần quận Bình Dương
Ta đã từng
sống ở nơi này Nên giờ đây khi quay trở lại
Thương cho phận cây liễu trên bờ sông Phần
Gặp lại nhau thấy như năm nao.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Đã trải đời ta sống ở đây
Quay
về ngắm lại chốn quê này Thương cho phận liễu bên sông đợi Một dạ tình son mãi vẫn đầy.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Ngày xưa đã sống nơi đây
Sông Phần còn đó, hôm nay ta về Thương cho cây liễu bên bờ
Gặp nhau thấy vẫn gầy như năm nào,
(Nguyễn Vạn An dịch)
Ngày xưa vốn ở nơi này
Bâng khuâng trở lại lòng đầy xót thương Sông Phần phận liễu vấn vương
Nét gầy dương liễu vẫn dường như
xưa...
(Lê Hà Ngân dịch)
Lưu luyến nơi đây đã một thời
Hôm nay trở lại để mà chơi Gặp thân liễu rủ thời xa khuất
Sông Phần tâm đắc hội nhân xưa!
(Kiều Thiện dịch)
Một thời sinh sống chính nơi đây
Ngày về thăm lại lòng vui đầy Góc Liễu sông Phần bao năm cũ Vẫn như ngày ấy giữa mai nay…
(Nguyễn Vĩnh Tuyền dịch)
Ta đã từng sống - ở nơi này Nay
về gặp lại - hỡi cố nhân
Bên sông Phần - Liễu yên phận rũ Vẫn nguyên như cũ - khác gì đâu.
(Trương
Thị Mầu dịch)
Lâu
quá ta về thăm chốn cũ Nghe như chừng
lạ lối mòn xưa
Giang Phần bóng liễu soi niềm cảm
Kỉ niệm năm nao như mới vừa.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch).
Sầm
Tham, nỗi tha hương vời vợi,...
Trong loạt kí sự Châu Âu, tôi đã từng gặp gỡ và viết về người Việt đang sinh sống ở đây (Pháp, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Séc, Slovakia,
Bulgary...), đặc biệt là người Việt ở
CH Séc...
Ở họ, trong tâm khảm mỗi người vẫn đau đáu nỗi nhớ
nhà, và ẩn chứa nỗi niềm tha hương, dù cuộc sống cơ hàn hay thành đạt.
Chẳng thế mà, Sầm Tham - người tiêu biểu cho dòng thơ
biên tái Trung Hoa cổ xưa, trong cuộc đời làm quan đã ba lần đi trấn ải biên
thùy, nỗi niềm tha hương là tâm sự chủ đạo chi phối toàn bộ sự nghiệp thi ca của
ông... Không dưng mà, Sầm Tham đã phải thở than rằng: "... Bằng thiêm
lưỡng hàng lệ,/ Ký hướng cố viên lưu" (hiểu nghĩa là: Ta nhờ mang đôi hàng lệ theo nước sông/ Về
quê cũ nỗi nhớ thương của ta.).
Ôi, nỗi tha hương vời vợi làm sao!...
Ø
Bản chữ Hán:
見渭水思秦川
渭水東流去,何時到雍州.憑添兩行淚,寄向故園流.
Ø Bản âm Hán Việt:
Kiến Vị Thủy tư Tần
Xuyên
Vị
thuỷ đông lưu khứ, Hà thời đáo Ung Châu.
Bằng thiêm lưỡng hàng lệ,
Ký hướng cố viên lưu.
Ø Dịch nghĩa:
Thấy sông Vị Thủy* nhớ đất Tần Xuyên
Sông Vị xuôi dòng về hướng
đông Đến khi nào chảy qua Ung Châu,
* Sông Vị Thuỷ, khởi
nguồn từ huyện Lũng Tây (Cam Túc), chảy hướng đông nam vào tỉnh Thiểm Tây, chuyển
hướng đông để nhập sông Hoàng Hà. Tần Xuyên, chỉ vùng đất thuộc nước Tần cũ.
Ung Châu, tên châu đời Đường, nay thuộc Tây An, tỉnh Thiểm Tây.
Nhờ mang
giúp đôi dòng lệ Về quê cũ nỗi niềm (của ta)
Ø
Bản dịch thơ cửa người yêu thơ Đường:
Qua Thủy Vị nhớ Tứ Xuyên
Đây dòng nước chảy về miền Đông xa Ung Châu! là đất quê nhà
Gửi sông dòng lệ nhạt nhòa tình quê.
(Trần Nhạc dịch)
Sông Vị chảy hướng đông
Khi nào qua Châu Ung Chuyển giúp đôi dòng lệ Nỗi niềm về cố hương.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Vị Giang
xuôi chảy về Đông
Đến khi nào mới quay vòng Ung Châu Chở theo đôi hàng lệ đau
Tâm tư thấm đẫm nỗi sầu tha phương.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Vị Thủy hướng đông xuôi
Ung Châu khi nào tới Nhờ mang đôi dòng lệ Gửi vào mảnh vườn tôi.
(Trần Khẩu dịch)
1.
Vị Giang
lặng chảy về Đông
Đến khi nào ghé qua vùng Tần Xuyên Chuyển giùm ta lệ ưu phiền
Lắng từ tâm khảm nỗi niềm tha
hương.
2.
Vị Thủy êm đềm xuôi hướng Đông
Khi nào qua được bến Châu Ung Ta nhờ chuyển giúp đôi dòng lệ Về với quê xưa tỏ nỗi lòng.
(Thái Xuân Nguyên
dịch)
Thiền, tâm sự kiếp ve
& nỗi Lòng Lý Thương Ẩn...
Hạ rồi, cùng với màu phượng đỏ, tiếng ve ran ran trên
các vòm cây báo hiệu mùa sang. Đọc các bài viết của anh em bạn bè trên mạng, thấy
ai đó kêu ca rằng tiếng ve từ sáng sớm đến đêm khuya làm người khó ngủ. Khổ thế,
muốn ngủ mà lại bị tiếng ve làm mất ngủ thì bực thật. Nhưng đâu biết, thân phận
con ve tạo hóa ban cho thì chỉ biết kêu. Kêu cho bõ những tháng ngày phận con
sâu ngủ vùi trong lòng đất, khi thoát lên thành
ve thì kêu đến rỗng ruột, đến rạc thân xác, biến sang hình hài khác mà thôi...
Đọc bài viết của tác giả Hoa Mai, thấy cám cảnh phận ve "Em đây phải chịu kiếp ve sầu/ Cả chục năm nằm dưới đất sâu/ Lặng tiếng
im hơi chờ thoát xác/ Giấu mình nín thở đợi mọc râu/ Hè sang lên giọng trên cành biếc/Thu tới rơi mình xuống
cỏ nâu/Bụng rỗng kêu liền ba tháng nắng/Chỉ
màu phượng đỏ biết lòng đau! "
Đọc rồi, ngẫm nghĩ, lại nhớ đến bài thơ về con ve (Thiền) của Lý Thương Ẩn, đời nhà Đường từ
hơn nghìn năm trước, bèn lôi ra nghiền
ngẫm chơi... Thì ra, bài thơ Thiền (Con
ve), chính là thân phận, là nỗi lòng của Lý Thương Ẩn. Hiểu thân thế, sự
nghiệp của ông, thấy Lý Thương Ẩn khác nào kiếp con ve sầu đâu...
Còn về sự nghiệp thơ văn, được người đời sau đánh giá:
"Văn Lý Thương Ẩn có phong cách khôi lệ ỷ cổ,
thơ nổi tiếng ngang Ôn Đình Quân, nên người đương thời gọi là "Ôn - Lý", hoặc ngang Đỗ Mục, nên được gọi là
"tiểu Lý - Đỗ" (để phân biệt với "Lý - Đỗ" là Lý Bạch - Đỗ
Phủ). Vương An Thạch đời Tống khen ngợi rằng người đời Đường học tập Đỗ Phủ mà
đạt được mức "phiên ly" (rào dậu, xấp xỉ) của ông, thì chỉ có một
mình Thương Ẩn. Tác phẩm của ông có "Phàn nam giáp tập" (20 quyển),
"Ất tập" (20 quyển), "Ngọc khê sinh thi" (3 quyển); ngoài
ra còn một quyển phú và một quyển văn.
Thơ ca Lý Thương Ẩn có nhiều
nét rất đặc sắc so với
truyền thống thơ ca cổ điển Trung Quốc. Ông tiếp thu ảnh hưởng cổ thi, nhạc phủ
Hán - Ngụy và cả cung thể Lương - Trần. Ông cũng học tập ngũ ngôn hiện thực của
Đỗ Phủ, phong cách lãng mạn của Lý Hạ cho nên thơ ông khá phức tạp cả về nội dung tư tưởng
lẫn hình thức nghệ thuật.
Đặc sắc nhất trong
thơ Lý Thương Ẩn là thơ tình.
Ø
Bản chữ Hán:
蟬
本以高難飽,徒勞恨費聲。五更疏欲斷,一樹碧無情。薄宦梗猶泛,故園蕪已平。煩君最相警,我亦舉家清。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Thiền
Bản
dĩ cao nan bão, Đồ lao hận phí thanh.
Ngũ canh sơ dục đoạn, Nhất thụ bích vô tình.
Bạc hoạn ngạnh do phiếm,
Cố viên vu dĩ bình.
Phiền quân tối tương cảnh,
Ngã diệc cử gia thanh.
Ø Dịch nghĩa:
Con ve
Bản tính vốn
dĩ thanh cao nên khó mà no đủ, Nhọc lòng chỉ biết hận đã phí công sức để kêu Suốt đến canh năm chẳng thiết gì kêu nữa Cây thì vẫn xanh đấy nhưng như kẻ vô tình
Phận mỏng thôi đành thân trôi giạt
Nhà vườn xưa cỏ rậm nay thành bãi đất không Cám cảnh thân ve mà nhủ mình
Ta ngẩng đầu mà giữ nếp nhà thanh bạch.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Thanh
cao nên khó mà giàu Hận cho một kiếp ve sầu - bỏ đi Hết năm canh chẳng thiết gì
Cây
xanh vẫn thế - khác chi vô tình Thôi đành chịu phận mỏng manh Vườn xưa cỏ rậm nay thành đất hoang
Nhủ lòng cám cảnh thân tàn
Nếp nhà cố giữ, chớ làm nhuốc nhơ.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Trời cho chút phận thanh cao
Cho nên cơm nước ít nhiều vậy thôi, Nhọc lòng chỉ biết hận đời
Phí công phí sức kêu hoài đêm khuya Canh năm còn thiết kêu gì
Cây xanh còn
đó mà như vô tình Thôi đành mỏng phận lênh đênh
Vườn xưa cỏ rậm nay thành bãi không Thân ve lòng lại nhủ lòng
Nếp ngoài thanh bạch nếp trong
giữ nền.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Trớ trêu, thanh cao dễ đói ăn! Nhọc lòng kêu hận phí hơi khàn
Canh năm, phận mỏng thôi than vãn
Trống điểm, kiếp ve dứt ái oan
Rậm rịt cỏ vườn như chẳng
sự Xanh rì cây cối tựa vô can
Còn được mái nhà thân tự nhủ Cố mà gìn giữ nếp an nhàn.
(Phan Lan Hoa dịch)
Rõ
ràng một bóng một thân ve Cũng tính,cũng tang cũng gọi hè.
Ngứa ngáy trông sang vườn xanh bóng
Đêm
về dậm dựt rúc bờ tre. Người tài ơi hỡi
người có nghe Trống chiêng chưa dứt ngỡ đã hè. Bụng đói tham lòng nên hoa mắt Cố mà
thoát xác cái thân ve.
(Mai Trinh phỏng
dịch)
Thanh cao phải chịu cảnh điêu linh
Tấu sớ hoài hơi nhọc xác mình Thân rã năm canh đành nín bặt Cây xanh ngay cạnh
lặng vô tình Cơ tàn phận mỏng đời phiêu giạt Cỏ lấn nhà hoang họa rập rình Hận kiếp sầu ve đà quắt héo Ngẩng đầu cố giữ nếp nhà vinh.
(Trần Khẩu dịch)
Lý Thương Ẩn,
Tiêu sầu hựu kỷ thiên
Đã cả tuần mưa gió không ngừng. Suốt một dải từ Đông Bắc-Việt
Bắc-Tây Bắc mưa như trút,
cao hàng mét nước. Lũ ống, lũ quét, sạt núi, sạt
đường, nhà cửa, của nả của người dân
trôi nổi. Thôi cũng đành oằn mình mà chống chọi với thiên tai. Cánh nhà
báo cũng chia nhau chạy đôn chạy đáo, đưa tin, viết bài, nối cầu trực tiếp...
Hai ngày cuối tuần, Hà thành cũng mưa dầm dề. Đành
quanh quẩn xó nhà, lâu lâu điện hỏi thăm, động viên anh chị em phóng viên nhà
VOV nơi Đông Bắc, Tây Bắc đang vất vả tác nghiệp. Rồi lại hỏi thăm chú em Kiều Thiện, người bạn nghề hiện là phóng
viên Báo Nông thôn ngày nay khi biết
anh chàng cứ "quần đùi đi khắp thế gian" đưa tin, viết bài, chụp ảnh, bình
luận cho bản báo nhà hắn. Bảo hắn,
xong bài thì làm quách li rượu cho giãn xương cốt, xoa dịu tình thần, rồi khoèo
một giấc, tỉnh dậy sẽ thấy trời đất khác,...
Khuyên anh chàng Kiều Thiện, rồi đến bữa, nhìn dọc
nhìn ngang, mình cũng thấy thèm, bèn rót một li đầy, nhưng mà, rượu một mình,
một li cũng ngà ngà
say... Vậy mà cụ Lý Thương Ẩn xưa bảo "Tiêu sầu hựu kỷ thiên" (hiểu nghĩa là: muốn tiêu sầu thì phải mua cả ngàn quan tiền mà uống).
Ôi chao, cái sầu của tiền nhân mới lớn làm sao!...
Ø Bản chữ Hán:
風雨
淒涼寶劍篇,羈泊欲窮年。黃葉仍風雨,青樓自管絃。新知遭薄俗,舊好隔良緣。心斷新豐酒,銷愁又幾千。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Phong vũ
Thê lương Bảo Kiếm thiên*! Ki bạc dục
cùng niên.
*Bảo kiếm thiên: tướng quân Quách Nguyên Chần
đời sơ Đường (Võ Hậu) viết, mượn vật là thanh kiếm quý, để ngụ ý mình, có tài mà không được trọng dụng.
Hoàng diệp nhưng phong vũ,
Thanh lâu tự quản huyền.
Tân tri tào bạc tục,
Cựu hảo cách lương duyên. Tâm đoạn Tân Phong tửu**, Tiêu sầu
hựu kỷ thiên.
Tác giả Lý Thương
Ẩn có tài (đậu Tiến sĩ, thơ để
lại 3 quyển gồm 571 bài) nhưng không gặp thời, nên đường công danh vô cùng lận đận (giữ toàn chức nhỏ, ở nơi xa kinh thành) cho tới khi mất ở tuổi
mới 46.
Bài thơ Phong Vũ, nói lên phần nào những bất hạnh của đời ông.
Bài này vốn được Lý Thương
Ẩn tâm đắc.
Ø Dịch nghĩa:
Gió mưa
Bài thơ Kiếm báu thê lương
làm sao!
(Ta) sống gần hết cuộc đời mà vẫn long
đong (Như) lá vàng đã rơi mà gió mưa vẫn vùi dập;
** Tân Phong: một địa danh gần
kinh thành Trường An, nơi có nhiều
quán rượu ngon nổi tiếng.
Vậy mà lầu xanh kia (đám ca kĩ)
vẫn không ngưng
đàn sáo.
Người mới biết đều hạng quen thói đời bạc bẽo; Bạn tri âm cũ thì lại duyên tình
cách trở.
Đã định bụng thôi uống rượu Tân Phong;
Giờ muốn giải sầu lại phải cả ngàn quan tiền mua
mà uống.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Quá thê lương ôi bài thơ “Kiếm báu” Cuối đời rồi sao ta vẫn long đong
Lá
đã rơi sao còn vùi mưa gió Lầu xanh kia sao còn cứ sáo đàn
Thế mới biết thói đời là bạc bẽo
Bạn tri âm thì cách trở tình
duyên
Ly
Tân Phong đã định ngày buông bỏ Rượu giải sầu tìm đâu được ngàn quan?
(Nguyễn Vạn An dịch)
Thi sầu vết kiếm cắt đau
Hết đời vận rủi còn bâu chẳng chừa
Như cây trút lá vì mưa
Mà lầu xanh mãi lê thê tiếng đàn Lòng người sơ ngộ dối gian
Cố nhân cách trở giang san bời bời Tân Phong rượu định bỏ rồi,
Giải buồn đành phải tốn vài ngàn quan.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Bài thơ “Kiếm báu” thê lương
quá Gần hết một đời vẫn long đong Như lá vàng xoay trong bão tố
Lầu
xanh đàn sáo vẫn không ngưng Người mới rặt phường quen bạc bẽo Tri âm toàn kẻ lỡ duyên không
Nhủ
lòng thôi uống Tân Phong tửu Ngàn quan mua rượu giải sầu đông.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Bài thơ “Kiếm báu” thê lương
Đường đời cuối nẻo dặm trường long đong Lá rơi tưởng đã là xong
Hay đâu mưa gió ngập lòng tả tơi Lầu cao ca kĩ lả lơi
Đàn ca sáo thổi nghiêng lời gió mây Người đời bạc bẽo là đây
Nhớ tri âm cũ sao đầy... cách xa
Ly Tân Phong muốn la đà
Sao lòng chợt đắng hay là quẳng đi Một ngàn quan biết lấy chi
Cung sầu chất ngất nói gì... người
ơi?
(Lê Hà
Ngân phỏng dịch)
Bài thơ “Kiếm báu” gợi thê lương Gần
hết đời sao chả thuận đường
Ta lá vàng rơi mưa tới tấp
Kia
lầu xanh hát tiếng du dương Bạn xưa vạn dặm đành trông ngóng Kẻ mới một phân chẳng tỏ tường Đâu
có ngàn quan mua rượu uống Để cơn sầu tủi bớt bi thương.
(Quế Hằng dịch)
Ôi thật thê lương “Bảo kiếm” thiên
Tân Phong đã định bỏ không ghiền Tri âm cách trở tình cô quạnh Phàm
tục mới quen bạc bẽo duyên Thân tựa lá vàng trong gió táp Lầu xanh ca vũ điệu huyên thuyên
Long
đong mãi vận người chưa dứt Lại mất ngàn quan giải muộn phiền.
(Phan Lan Hoa dịch)
Buồn đọc thơ “Kiếm Báu”
Trọn kiếp đời nổi trôi Như lá vàng xào xạc
Đã rơi còn dập vùi
Lầu
xanh sao huyên náo Phải chăng tận thói đời Bạn tri âm xa cách Ngàn vàng đổi rượu vui!
(Kiều Thiện
dịch)
“Kiếm
báu” thơ sầu sao Nửa đời long đong vào Lá vàng mưa gió dập Lầu xanh vẫn đàn sáo
Người quen đời bạc bẽo Tri âm trắc trở theo
Rượu Tân phong định uống
Giải sầu ngàn quan treo.
(Ngô Minh Vương dịch)
Tất cánh thị thùy xuân
Tiết xuân tết Đinh Dậu năm nay thật tươi đẹp. Những
ngày cuối năm tết đến, lạnh vừa, trời khô ráo, trưa thêm chút nắng ấm cho mọi
người thoải mái du xuân chơi tết. Qua chính tết, đúng ngày lập xuân lại thêm
chút mưa, ấy là tiết thuận. Mà tiết thuận thì trời đất quang cảnh tươi nhuần, cấy cối tốt tươi, lòng người,
lòng xuân đều thơ thới. Tháng Giêng đầu năm là vậy, có cái để mà hi vọng cho một
năm mưa thuận gió hòa...
Lại chợt nhớ một câu thơ của Lý Thương Ẩn xưa, trong
bài thơ Tảo khởi, rằng "Tất cánh thị thùy xuân?" (hiểu
nghĩa: Cảnh xuân đẹp này đâu của riêng
ai?)
Ø Bản chữ Hán:
早起
風露澹清晨,簾間獨起人。
鶯啼花又笑,畢竟是誰春。
Ø Bản âm Hán Việt:
Tảo khởi
Phong lộ đạm thanh thần,
Liêm gian độc khởi nhân. Oanh đề hoa hựu tiếu,
Tất cánh thị thùy xuân?
Ø Dịch nghĩa:
Dậy sớm,
Trời lặng sương giăng, vẻ mai thanh mát Rèm trong có người đã tỉnh giấc
Chim oanh hót vang, hoa đua cười
Cảnh xuân đẹp này đâu phải của riêng ai?
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Trời
lặng tinh sương đẹp vẻ mai Rèm trong,
tỉnh giấc, nghé bên ngoài
Oanh
hót hoa cười, lòng xuân nhỉ, Cảnh xuân phơi phới của riêng ai?
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Sớm mai gió lặng,
trời xanh
Có người lặng lẽ sau mành trông ra Chim Oanh ríu rít bên hoa
Ngậm ngùi tự hỏi, xuân là cho ai?'
(Bùi Gia Tỷ Muội dịch)
Cốc khẩu thư trai, thú nhàn cư của cổ nhân,
Những ngày đầu thu (2015), thời tiết thật oi nồng, cái
nóng khó chịu của tiết trời "tháng
tám nắng rám quả bòng". Năm
trước, nhuận tháng, tiết muộn, kéo lê sang năm sau, khiến tiết trời không còn
chuẩn nữa. Mưa ngâu đến sớm, hết sầm
sập rồi lê thê cả nửa tháng liền. Vậy nên, đến tiết Ngâu thì trời lại sinh nắng
nóng, chẳng còn gì cái cảnh "tiết
tháng bảy mưa dầm sùi sụt" nữa. Việc công sở thì ngập đầu, buồn vui lẫn
lộn. Lại thêm, một người bạn văn chương, vốn là
một bác sĩ giỏi nghề và tính tình cương trực, hào
sảng, nhân cách đáng nể trọng, đột ngột ra đi mãi mãi, trong niềm thương tiếc của mọi người. Quả là, sự ra đi của
người bạn ấy, ít nhiều làm tôi hụt hẫng. Hình như là, khá lâu rồi, lòng tôi sinh nặng trĩu làm vậy...
Ngày nghỉ cuối tuần, chẳng muốn đi đâu, cứ lẩn thẩn hết
mở lại gấp cuốn Đường thi... Rồi cũng
dừng ở bài Cốc Khẩu thư trai kí Dương bổ khuyết của
Tiền Khởi. Đọc đi đọc lại, lẩm
nhẩm trong đầu, mà sinh thèm cái thú nhàn cư của cổ nhân đến vậy...
Về thân thế sự nghiệp của Tiền Khởi được tóm tắt như
sau:
"Tiền Khởi 錢起 (710-782) tự là Trọng Văn 仲文, người đất Ngô Hưng (nay thuộc Hồ
Châu, tỉnh Chiết Giang). Năm Thiên Bảo thứ 10 đời Ðường
Huyền Tông (751) thi đậu Tiến sĩ, được bổ làm Hiệu thư lang, đi sứ đất Thục,
rồi về thăng làm Khảo công lang. Giữa thời Ðại
Lịch, đời Ðường Ðại Tông, làm chức Hàn Lâm học sĩ. Tiền Khởi nổi tiếng ngang với Lang Sĩ Nguyên, nên người đương thời có câu: "Tiền hữu Thẩm Tống,
Hậu hữu Tiền Lang" (tức là: trước có Thẩm Thuyên Kỳ,
Tống Chi Vấn, sau có Tiền Khởi, Lang Sĩ Nguyên). Tiền Khởi là một trong 10 tài
tử thời Ðại Lịch...".
Ø Bản chữ Hán:
谷口書齋寄楊補闕泉壑帶茅茨,
雲霞生薜帷。竹憐新雨後,山愛夕陽時。閒鷺棲常早,秋花落更遲。家童掃羅徑,昨與故人期。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Cốc Khẩu thư trai kí Dương bổ khuyết
Tuyền hác đới mao tì,
Vân hà sinh tệ duy.
Trúc
lân tân vũ hậu, Sơn ái tịch dương thì. Nhàn lộ thê thường tảo, Thu hoa lạc cánh trì.
Gia đồng tảo la kính, Tạc dữ cố nhân kì.
Ø Dịch nghĩa:
Từ thư trai Cốc Khẩu*
gửi quan bổ khuyết họ Dương,
Khe suối trên cao, cỏ ấp mái gianh, Ráng mây nổi theo nhành cây tệ la.
Yêu thay khóm trúc sau cơn mưa vừa
dứt,
* Cốc Khẩu ở phía tây bắc huyện Kinh Dương,
tỉnh Thiểm Tây, tương
truyền là nơi vua Hoàng Đế lên tiên.
Ðẹp thay dáng núi ngập trong nắng chiều! Chú cò nhàn thường về đây đậu sớm,
Đóa hoa thu lặng lẽ rơi từng cánh.
(Bảo) gia đồng quét dọn lối đi dầy cỏ nữ la,
(Nhớ là) hôm qua ta có hẹn với bạn cũ đến
chơi.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Bên khe cỏ ấp mái gianh
Áng mây trôi nổi theo nhành tệ la Yêu thay khóm trúc sau mưa
Đẹp thay dáng núi vàng mơ nắng chiều Cò nhàn đậu ngọn cây xiêu
Hoa thu từng cánh rơi theo gió lành Gia đồng dọn bớt cỏ xanh
Để mai ta đón tri âm đến nhà.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Suối cao, cỏ ấp mái gianh,
Ráng mây trôi nổi theo cành tệ la Yêu thay khóm trúc sau mưa
Nắng chiều ngập núi cũng vừa lòng ai
Chú
cò thường tới sớm mai Cánh hoa thu lặng lẽ rơi lìa cành Nữ la nhớ quét cho nhanh
Hôm qua có hẹn cố nhân tới nhà.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Khe
suối cỏ cao ấp mái tranh Ráng mây trôi nổi tệ la nhành Yêu thay khóm trúc sau mưa dứt
Đẹp lắm hình núi cuối nắng lành Ríu rít cò nhàn về đậu nhánh Hoa thu lặng lẽ thả
rơi cành
Nữ la quét dọn đường dày cỏ
Đón bạn ngày mai hẹn đến
nhanh.
(Phan Thị Thanh Minh dịch)
1.
Suối
xanh như lụa vắt ngang nhà Mây trắng giăng trùm khóm tệ la Đỏm dáng trúc xinh ngày giọt tạnh
Hữu tình núi thẳm lúc chiều tà
Cò hoang no dạ thơi thảnh đậu
Thu muộn hết mùa lã tã hoa Bé quét nữ
la đường sạch cỏ Chờ mai đón bạn ghé thăm ta.
2.
Lều
tranh suối lụa vắt ngang quà Bảng lảng tệ la mây vướng xòa Đỏm dáng trúc xanh ngày giọt tạnh
Hữu tình núi thẳm lúc chiều sa
Cò hoang no dạ thơi nhàn dáng
Thu muộn cuối mùa lã tã hoa Bé dọn nữ la quang lối cỏ
Già mong tri kỉ ghé thăm nhà.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Giải lụa khe treo triền cỏ mọc Ráng hồng mây nối dọc đằng la
Mưa qua trúc vẫy hiên nhà
Núi
xa tỏa ánh nắng tà đầu non Thảnh thơi cò trắng đùa nắng sớm
Đóa thu hoa muộn chớm sắc tươi
Gia đồng dọn cỏ tươm lối
Hôm qua có hẹn bạn chơi viếng nhà.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Suối con ta dạo khắp chốn vườn
Mây chiều
buồn nhẹ, thoáng
hơi sương Trúc xanh tháng
ngày bên tượng đá Núi rừng ngần ngại, nắng tư tương
Cò
bên kia sóng, mờ xa trắng Tím… giận mùa thu, tím rụng dần Bóng em dọn cỏ bờ
mương nhỏ Mộng, cuối chiều
nay, ai đến thăm!
(Nhà Gom La Bàng phỏng dịch)
Trúc tiết, tâm niệm của Tiền Khởi
Đã vào tiết cuối xuân, những loài hoa thơm cỏ lạ của
mùa xuân đều đua nở. Những loài hoa xuân muộn thì cũng đã khai. Sắp sang hạ,
các loài hoa sớm của mùa hạ như hoa gạo, hoa lựu... cũng đã thấp thoáng. Mùa
qua, mùa tới, các loài hoa đặc trưng của mỗi mùa cứ thay nhau khoe sắc. Riêng
chỉ có loài trúc, thì mùa nào cũng vậy, đâu mấy đổi thay...
Chợt nghĩ đến mấy câu thơ của Tiền Khởi (đời Đường),
trong bài thơ Mộ xuân quy cố sơn thảo đường
của ông "Thủy liên u trúc sơn
song hạ,/ Bất cải thanh âm, đãi ngã
quy.". Mấy câu thơ này còn như một tâm niệm của Tiền Khởi về bản tính
của loài trúc, xưa nay thường được ví với khí tiết người quân tử...
Ø Bản chữ Hán:
暮春歸故山草堂
谷口春殘黃鳥稀,辛夷花盡杏花飛。
始憐幽竹山窗下,不改青陰待我歸。
Ø Bản âm Hán Việt:
Mộ xuân quy cố sơn thảo đường
Cốc khẩu xuân tàn, hoàng điểu hi,
Tân di* hoa tận, hạnh hoa phi.
Thủy
liên u trúc sơn song hạ, Bất cải thanh
âm, đãi ngã quy**.
Ø
Dịch nghĩa:
Chiều xuân về lại ngôi nhà cỏ bên núi,
Trong thung xuân đã qua, oanh vàng thưa thớt
Hoa tân di tàn hết, hoa hạnh rơi bay
Chỉ thương
khóm trúc u ẩn bên cửa sổ nhìn ra núi
Chẳng đổi sắc xanh, đứng như đợi ta về.
* Tân-di là một loại cây thân lớn có hoa.
** Ý bài thơ: Các loài hoa đều thay đổi theo mùa, riêng cây trúc là
vẫn giữ tiết trung thành, luôn có ý chờ đợi chủ cũ.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Cuối Xuân oanh hiếm trong thung
vắng Tân di rã cánh, hạnh cũng tàn
Khóm
trúc nép mình bên cửa sổ Sắc xanh chẳng
đổi đợi chủ nhân.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Xuân qua oanh vàng vắng
Hoa hạnh, tân di tàn Riêng trúc xanh không đổi
Như ngóng đợi người thân,
(Trần Mỹ Giống dịch)
Lũng vắng xuân qua lạc tiếng
oanh Tân di tàn tạ, hạnh lìa cành
Thương cho khóm trúc bên song đợi
Chờ chủ bao mùa lá vẫn xanh.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Xuân tàn thung vắng tiếng oanh ca
Rũ cánh tân di, hạnh cũng tà
Thương
trúc u buồn bên cửa sổ Xanh hoài chẳng
đổi đứng chờ ta.
(Thái Xuân Nguyên dịch)
Xuân
tàn oanh lạc trong thung vắng Tân di, hoa hạnh cũng phai màu Khóm trúc mướt xanh buồn tĩnh lặng
Ngóng mãi cố nhân đang nơi đâu.
(Trần Nhạc dịch)
Thưa thớt oanh vàng xuân đã qua
Tân di, hoa hạnh rụng la đà
Bỗng thương
khóm trúc bên triền vắng Biếc mãi màu xanh đứng đợi ta...
(Lê Hà Ngân dịch)
Thung chẳng
còn xuân, thưa thớt oanh Mộc liên tàn, ngân hạnh mong manh Chừng
như khóm trúc bên song cửa Ngóng núi đợi người sắc mãi xanh.
(Phan Lan Hoa dịch)
1.
Cuối Xuân thung vắng oanh thưa thớt
Mộc liên, ngân hạnh… đã rụng rơi Trúc
xanh sau cửa chừng ngóng đợi Chủ còn du ngoạn mãi nơi đâu…
2.
Tàn Xuân thung tẻ… vắng giọng
oanh… Tân di, hoa hạnh đã xa cành
Thương khóm trúc già nơi song cửa
Đợi chủ cạn mùa xanh vẫn
xanh.
3.
Thung lũng tàn xuân vắng oanh vàng
Tân di, hạnh rã đợi mùa sau
Trúc xanh bên cửa màu tươi sáng
Ráng đợi chủ về lâu đã lâu…
4.
Tàn
Xuân… thung vắng oanh vàng Tân di cùng hạnh hoa đang đổi mùa
Trúc xanh ráng chịu nắng mưa
Đợi chờ ta những sớm trưa quay về.
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Cốc Khẩu xuân tàn, thưa tiếng
oanh Tân di, hoa hạnh rụng trơ cành
Âm thầm khóm trúc ngoài song cửa
Thương đợi ta về vẫn thắm xanh.
(Nguyễn Hữu Thăng dịch)
Oanh vàng thưa thớt báo xuân đi
Hạnh rã, tân di cũng hết thì
Thương trúc bên song sầu ngóng đợi Chờ ta năm tháng vẫn xanh rì.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Mãn xuân, thưa tiếng oanh kêu
Mộc liên, ngân hạnh phơi chiều héo hon Bên song khóm trúc mỏi mòn
Chờ ai cành biếc mãi còn xanh lơ.
(Thuyền Thơ-Lê Ngọc Vân dịch).
Giang tuyết,
tuyệt bút của Liễu Tông Nguyên
Những ngày này, trước thềm Noel sang năm
2016, các quốc gia phương Bắc đang dày băng tuyết. Ngay Việt Nam, các điểm cao
như Sìn Hổ, Ô Quy Hồ (Lai Châu), Mẫu Sơn (Lạng Sơn)
và Sapa (Lào Cai) cũng có hiện tượng băng giá. Chạnh
lòng nhớ đến bài thơ Giang tuyết, một
tuyệt bút của Liễu Tông Nguyên (đời Đường)...
Qua tìm hiểu được biết, "Liễu Tông Nguyên,
người Hà Đông, nay thuộc huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc). Ông đỗ Tiến
sĩ năm Trinh Nguyên thứ chín (793) đời Đường Đức Tông, làm quan đến chức Giám
sát ngự sử. Năm 815, thời Đường Hiến Tông thứ mười, Liễu Tông Nguyên được bổ nhiệm làm Thứ sử Liễu Châu (nay thuộc tỉnh Quảng
Tây) và bốn năm sau (819), ông mất tại đó. Khi ấy, ông chỉ
mới 47 tuổi.
Tác phẩm của
Liễu Tông Nguyên hiện còn Liễu Hà Đông tập (Tập thơ văn của họ Liễu ở Hà Đông), 45
quyển, trong đó có 2 quyển Cổ kim thi (Thơ cổ kim) gồm khoảng 140 bài. Liễu Tông Nguyên là một nhân vật có ảnh hưởng lớn đối
với sự phát triển văn xuôi của Trung Quốc, nhờ sáng tác của ông đa dạng, hiện
thực và sâu rộng. Riêng mảng thơ, đa phần thơ ông thiên về thổ lộ tâm trạng cá
nhân trong những ngày bị biếm trích. Tuy có những nét ủy mị, buồn thương nhưng
tình cảm thì chân thành, nghệ thuật thì điêu luyện. Bên cạnh đó, vẫn có những
bài phê phán hiện thực khá trực tiếp hoặc miêu
tả đời sống nhân dân tương đối chân thực"...
Riêng bài thơ Giang
tuyết, theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt,
ý tứ hàm súc, câu chữ chắt lọc. Đây có thể xem như một tuyệt bút của Liễu Tông
Nguyên nói riêng và thi ca đời Đường nói chung. Đã có nhiều bản dịch hay, tuy nhiên,
không vì thế mà ta ngại, không
dám thử sức...
Ø Bản chữ Hán:
江雪
千山鳥飛絕,萬徑人蹤滅。孤舟簑笠翁,獨釣寒江雪。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Giang tuyết
Thiên sơn điểu phi tuyệt Vạn kính nhân tung diệt
Cô chu thôi lạp ông
Độc điếu hàn giang
tuyết,
Ø
Dịch nghĩa:
Sông tuyết
Giữa non ngàn, bặt bóng chim bay
Trên mọi ngả đường (cũng)
bặt dấu người, Trơ trọi một con thuyền,
ông già nón lá áo tơi
Cô độc ngồi thả câu trong tuyết sông lạnh,
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
1.
Non ngàn bặt bóng chim bay
Đường xa cũng chẳng mảy may dấu người
Thuyền con - ngư phủ áo tơi
Thả câu sông lạnh giữa trời tuyết sương.
2.
Non
ngàn chim trốn biệt Trên đường không lữ khách Thuyền nhỏ mình ngư ông Thả câu giữa
sông tuyết.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Ngàn
non bóng chim bặt Đường xa lữ khách không Buông câu giữa sông tuyết
Thuyền con độc ngư ông.
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Chim
không bay về núi Lữ khách ngại đường xa Thuyền
câu một bóng già
Thả hồn vào sông lạnh.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Xa
bặt ngàn non bóng nhạn chao Ngàn dặm tuyệt
không lữ khách
nào Sông tuyết chơ vơ thuyền độc mộc Già câu thinh lặng nón tơi nhàu,
(Phan Lan Hoa dịch)
Non
ngàn chim vắng bặt Không bóng khách qua đường Mình lão nón tơi tả
Câu gì trong tuyết sương.
(Thái Xuân Nguyên
dịch)
Non ngàn không một bóng chim mọi nẻo bặt dấu chân người độc mộc áo tơi đơn chiếc
sông băng lão ngư không
lời…
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Chim
bặt, cảnh non trơ Mọi nẻo chẳng bóng người Thuyền lẻ, tơi một mảnh Sông buốt lặng buông
cần.
(Trần Khẩu dịch)
Núi
ngàn bặt chim bay Vạn dặm chẳng dấu hài Thuyền
độc câu tuyết giá
Tơi, già... có ai hay?
(Miền Mây Trắng- Cao Tỵ
dịch)
Ngàn núi vắng bóng chim
Vạn ngả bặt dấu người Trơ trọi một ngư lão Lạnh sông tuyết thả câu.
(Ngô Minh Vương dịch)
Trập trùng núi chẳng chim bay
Phóng xa tầm mắt dấu hài cũng không Thế mà sót lại mình ông
Áo tơi, cần trúc trên sông tuyết
dầy.
(Thu Phong 62 dịch)
Trên không chim không bóng
Mọi chốn không dấu người Cô đơn chiếc thuyền nhỏ Trong tuyết lập điếu đài.
(Nguyễn Thế Duyên dịch)
Giữa
cả non ngàn, bặt bóng chim bay Trên mọi ngả đường cũng bặt dấu người,
Trên giải tuyết sông, con thuyền trơ trọi Ông già thả câu, nón lá áo tơi.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Hầu hết người yêu thơ Việt Nam, khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du đều biết câu
thơ: "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông". Cụ Nguyễn tả tâm trạng chàng
Kim (Kim Trọng), trở lại vườn xưa,
nào đâu thấy bóng nàng Kiều, chỉ thấy hoa đào phơ phất trong gió đông. Thấy cảnh,
nhớ người, chẳng biết người xưa phiêu bạt nơi nao, là thế…
Khi viết câu thơ ấy, là Nguyễn Du đã mượn ý thơ Đường.
Người yêu thơ Đường, hẳn cũng biết đến câu thơ: “Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu
tiếu đông phong". (hiểu nghĩa là: Gương
mặt người giờ chẳng biết ở phương nào/ Nơi đây chỉ thấy có hoa đào như cười
trong gió đông).
Đây là hai câu kết trong bài tứ tuyệt Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ, một nhà
thơ đời Đường. Bài thơ còn có tên Đề đô
thành Nam Trang.
Sách Đường Thi của
học giả Trần Trọng Kim, chú thích như sau:
Truyện chép rằng: Thôi Hộ là một người đẹp trai,
tính quả hợp, ít giao du. Một ngày thanh minh, đi chơi một mình đến phía nam
kinh thành, thấy một nhà có vườn đào nhiều hoa, bèn gõ cửa, xin nước uống. Một
người con gái đẹp và đoan trang ra hỏi họ tên thi sĩ, rồi lấy nước mời khách uống.
Sang tiết thanh minh năm sau, Thôi Hộ
lại đến nhà ấy, thấy cửa đóng kín bưng, tức cảnh đề bài thơ này lên cánh cửa
bên tả. Cách mấy hôm sau đến lại, chợt nghe trong nhà có tiếng
khóc, rồi có ông
lão ra hỏi. "Anh có phải là Thôi Hộ không? Con gái tôi đọc bài thơ của anh rồi nhịn ăn, vừa mới
chết". Nghe vậy, Thôi Hộ vào
nhà, khấn nàng, thì người còn gái ấy sống lại, bèn lấy làm vợ. Sau, Thôi Hộ đỗ
Tiến sĩ vào niên hiệu Trinh Nguyên
(đời Đường), làm quan đến chức Lĩnh Nam tiết độ sứ.
Ø Bản chữ Hán:
題都城南莊
去年今日此門中.人面桃花相映紅。人面不知何處去?桃花依舊笑春風
Ø
Bản âm Hán Việt:
Khứ
niên kim nhật thử môn trung Nhân diện đào hoa tương ánh hồng Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Ø
Dịch nghĩa là:
Hôm nay, trở lại nơi năm ngoái đã đến, thì thấy cửa đóng then cài
Người mà ta đã gặp, gương mặt tươi hồng sánh ngang sắc hoa đào
Vậy mà, gương mặt ấy, giờ không biết ở nơi nao?
Chỉ thấy mỗi hoa đào vẫn như năm ngoái đang
cười với gió đông.
Ø Học giả Trần Trọng Kim dịch thơ như sau:
Đề chỗ đã trông
thấy năm trước Hôm nay, năm ngoái, cửa cài.
Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi Mặt người chẳng biết đâu rồi
Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.
Kẻ vãn bối này, xin nôm na mà dịch như sau:
Ngày này, năm ngoái,
cửa kín bưng Đào hoa, mặt ánh sắc tươi hồng Nhủ
lòng người ấy giờ đâu nhỉ?
Chỉ thấy hoa đào giỡn gió đông.
Nôm na vậy, song chưa thỏa, bèn đưa bài viết này lên
blog cá nhân, và sau một thời gian, có mấy người bạn quen gửi đến bản dịch thơ.
Xin được trưng ra để mọi người cùng tham khảo:
Nhà cũ, cài then - nay vắng không Nhớ ai gương mặt ánh đào hồng Ngẩn
ngơ tự hỏi người đâu nhỉ? Chỉ thấy đào xưa cợt gió Đông.
(Việt An-Nguyễn
Xuân Sinh dịch)
Năm ngoái
ngày này cửa đứng trông Hoa đào - ánh mặt sắc tươi hồng Nhủ
lòng người ấy giờ đâu nhỉ?
Chỉ thấy hoa đào giỡn gió đông.
(Đặng Đình
Nguyễn dịch)
Năm
xưa nay đến cửa then cài Sắc thắm hoa đào má đỏ hây Vắng bặt biết tìm đâu má thắm
Đào cười như cũ gió đông hay.
(Nhược Mộng dịch)
Hành cung,
tuyệt bút của Nguyên Chẩn
Tôi đã từng cân nhắc có nên đưa bài thơ này lên hay
không. Đơn giản, bởi đây là một bài thơ rất nổi tiếng, nhiều người đã dịch, đã
bàn luận về nó. Nhưng nay, đọc lại một số tài liệu, thấy có những điểm khác
nhau, vậy nên đưa lên đây, ngõ hầu, mọi người cùng biết và chia sẻ.
Thứ nhất, về
tên bài thơ: Đa số các bản in về thơ Đường đều có tên là Hành cung (行宮), nhưng
cũng có bản là Cổ hành cung (古行宮); lại có bản là Cố
hành cung (故行宮).
Thứ hai, về
tác giả: Hầu hết các sách biên soạn về thơ Đường đều ghi tác giả là Nguyên Chẩn,
song cũng có tài liệu lại cho là của Vương Kiến;
thậm chí có tài liệu lại nói là của Bạch Cư Dị. Cá nhân
tôi nghĩ, là của Nguyên Chẩn.
Về thân thế, sự nghiệp, được biết:
Nguyên Chẩn (元稹),
779-831, tự là Vi Chi (微之); người Lạc Dương, (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung
Quốc),
là nhà thơ Trung Quốc thời Trung Đường. Ông thông minh dĩnh ngộ, đi thi đỗ khoa Minh kinh, được bổ làm quan. Trong cuộc đời làm quan của
mình, Nguyên Chẩn từng giữ nhiều chức tước khác nhau, cũng gặp nhiều thăng trầm
do hiềm khích, tranh giành quyền lực triều chính, song cũng có thời kì ông lên
đến đỉnh cao danh vọng, giữ chức Tể tướng dưới triều Đường Mục Tông. Ông mất
năm 831, thọ 52 tuổi.
Về văn
chương, ngoài sự nổi tiếng về thơ, Nguyên Chẩn còn là tác giả của Hội chân kí (会真記) tức Oanh Oanh
truyện (鶯鶯傳), là cảm hứng
và nền móng cho kịch Tây Sương kí sau
này (西廂記, Truyện Mái Tây, tác giả Vương Thực Phủ, đời Nguyên)... Nguyên Chẩn
sinh thời cùng Bạch Cư Dị, và giữa hai người có mối thâm giao với nhau. Ấy cũng
là cái may mắn của cuộc đời Nguyên Chẩn...
Hành cung là
một bài thơ hay của Nguyên Chẩn và của cả nên thi ca Đường nói chung. Đã có
không biết bao nhiêu người từng thử sức dịch bài thơ này:
Ø Bản chữ Hán:
行宮
寥落古行宮,宮花寂寞紅。白頭宮女在,閒坐說玄宗。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Hành cung
Liêu
lạc cổ hành cung, Cung hoa tịch mịch hồng. Bạch đầu cung nữ tại,
Nhàn tọa thuyết Huyền Tông.
Ø
Dịch nghĩa:
Hành cung cũ thật hoang tàn
Hoa nở hồng trong
nỗi hiu quạnh Có một cung nữ đầu bạc
Ngồi rồi lẩn thẩn chuyện Huyền
Tông.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Lạc
bước nơi cung tàn Hồng hoa chẳng hân hoan Nhuốm bạc đầu cung nữ Ngồi nhớ thuở Huyền Tông.
(Nguyễn Kim Chi dịch)
Hành cung cũ tan hoang
Hiu quạnh hoa nở hồng Một cung nữ đầu bạc
Lẩn thẩn chuyện
Huyền Tông.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Đơn
côi rệu rã cổ hành cung Lặng lẽ buồn thiu một cánh hồng Cung nữ trăng tàn còn rớt lại
Ngồi rồi lẩm nhẩm chuyện Huyền
Tông.
(Trần Khẩu dịch)
1.
Tàn
tạ cổ hành cung Hoa hiu quạnh
sắc hồng Cung nga đầu bạc trắng
Lẩn thẩn chuyện Huyền
Tông.
2.
Hành cung xưa, cảnh tiêu điều
Âm thầm hoa nở, quạnh hiu sắc hồng Cung nga đầu bạc ngồi không
Dông dài kể chuyện
Huyền Tông thuở nào.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Lưu
lạc chốn cung xưa Hoa sắc hồng cung vắng Bạc đầu cung nữ ơi!
Ngồi nhớ truyện
Huyền Tông.
(Ngô Văn Chiến dịch)
Cố
cung hoang lạnh hơi người Hồng hoa tự thắm tự cười thế gian
Bạc đầu cung nữ trông trăng
Dưới khuya lần dở Huyền
Tông ghập ghềnh.
(Phan Lan Hoa dịch)
Hành cung hoang phế từ lâu
Trớ trêu hoa nở một màu hồng tươi Cung nhân tóc bạc da mồi
Ngồi buồn nhớ lại cái thời Huyền
Tông.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Hành cung bụi bám màu hoang phế
Hoa nhuộm tịch liêu lạc bóng hồng Có nữ cung hoàng phai tóc tọa
Ngồi buồn lẩn thẩn chuyện
Huyền Tông.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Lang thang
lạc bước chốn hoàng cung Vắng vẻ vườn hoa sắc kém hồng
Lẻ bóng vương
phi đầu bạc trắng
Ngồi buồn tưởng nhớ chuyện Huyền Tông.
(Hương Đất Bãi-Trần
Bài dịch)
Hoàng thành
hoang phế có buồn không Hiu quạnh vườn hoa nhạt sắc hồng
Cung nữ già nua đầu bạc trắng
Ngồi buồn lại nhớ chuyện Huyền Tông.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Tiêu
điều xơ xác chốn hành cung Giữa cảnh hoang liêu trổ nhánh hồng Cung nữ âm thầm soi tóc bạc
Ngồi buồn nhớ lại thuở Huyền
Tông.
(Thái Xuân Nguyên
dịch)
Hồi hương ngẫu thư, nếp quê khó đổi...
Phàm xưa nay, người quê li hương đi học hành rồi lập
nghiệp nơi xa xôi, chốn phồn hoa đô hội, đông lắm. Nếu công thành danh toại,
thì xênh xang áo gấm về làng, khoe
danh vọng; còn như, không thành đạt gì, thậm
chí thất bại, đói kém thì biệt tăm, thói đời xưa nay
vẫn vậy. Về mặt tâm lí chung, thì khi đã cao tuổi, tóc đã bạc, mắt mờ chân chậm,
người ta hay nhớ đến quê hương bản quán. Công thành danh toại mà làm chi, khi
thiếu thốn tình cảm mộc mạc của người quê chốn cũ?!
Giật mình, ngộ ra, bấy lâu nay, ta đã mải mê ham hố,
bon chen, đeo đuổi, phù du…, vô tình để mất đi một thứ tình cảm quý giá đã từng
nâng bước ta, nuôi dưỡng tâm hồn ta thành người … Hạ Tri Chương, một nhà thơ nổi
tiếng đời Đường đã ngộ ra điều ấy, bằng bài thất ngôn tứ tuyệt Hồi hương ngẫu thư:
Ø Bản chữ Hán:
回鄉偶書其一
少小離家老大迴,鄉音無改鬢毛摧。兒童相見不相識,笑問客從何處來。
Ø Bản âm Hán Việt:
Thiếu
tiểu li gia lão đại hồi Hương âm vô cải mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.
Ø Dịch nghĩa:
Lúc còn nhỏ rời quê ra đi,
khi đã già mới trở lại Chất giọng quê còn chưa mấy đổi mà tóc đã bạc
trắng cả rồi
Trẻ con ở làng trông thấy mình nào biết mình là ai Chúng cười hỏi, rằng khách từ nơi đâu
đến đây.
Đã có nhiều người dịch bài thơ này, mỗi người
mỗi vẻ. Nay xin nôm na mà dịch như sau:
Xưa
nhỏ rời quê, già lại hồi Giọng quê chưa đổi, tóc đà vôi Trẻ làng trông thấy nào đâu biết
Hỏi khách nơi nao, rồi bật cười.
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Lúc
nhỏ xa nhà, già lại quay Giọng quê vẫn thế, tóc đà phai Trẻ con ngơ ngác... nào ai nhớ! Hỏi khách xa về - Chẳng biết ai.
(Đặng Đình
Nguyễn dịch)
Xưa
nhỏ rời quê già hồi hương Giọng quê chưa đổi tóc đã hường Trẻ làng trông thấy nào đâu biết
Chỉ trỏ rồi cười: Khách
thập phương?
(Khuyết danh)
1.
Từ nhỏ đi xa, già lại về
Tóc bạc, vẫn tròn chất giọng quê
Lũ trẻ đứng nhìn đâu có biết
Cười chào hỏi phải khách sơn khê?
2.
Đi xa từ nhỏ, già quay về
Tóc bạc, vẫn nguyên
chất giọng quê Lũ trẻ đứng nhìn đâu có biết
Cười chào hỏi phải khách
sơn khê?"
(Việt An-Nguyễn
Xuân Sinh dịch)
1.
Lúc
nhỏ rời quê… lão trở về Tiếng quê còn đó tóc bạc ghê Lạ
kẻ hồi hương trẻ tròn mắt
Cười trêu khách lạ nhóc ven đê…
2.
Thiếu thời đi, già mã hồi
Lời quê chưa đổi… da mồi tóc mây Trẻ làng hỏi cụ nào đây
Lão nơi nào đến?...
cười ngây ngất cười...
(Nguyễn Vĩnh Tuyền dịch)
Hoàng Hạc Lâu,
Lâu đài thi ca tự cổ chí kim
Cố thi sĩ Huy Cận, thuở trai trẻ, bước vào lâu đài thi ca
khi trào lưu "Thi ca tiền
chiến" mới khởi nguồn, bằng nhiều bài thơ hay, trong đó, có bài thơ Tràng Giang. Song hay và gợi, là hai câu cuối: "Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà".
Sau khi bài thơ ra đời, câu thơ ấy, dần trở thành nỗi niềm của lữ khách đường xa, và đến tận giờ vẫn thế.
Các tâm hồn lớn thường gặp nhau, cách đó hơn nghìn
năm, Thôi Hiệu, nhà thơ nổi tiếng đời nhà Đường đã sáng tác bài thơ Hoàng Hạc Lâu bất bủ.
"Nhật mộ
hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu" - Thật tuyệt
cú. Hai câu kết này, âm Hán Việt đã
hay, song qua bản dịch của cụ Tản Đà, lại càng hay, bởi thể thơ lục bát (dễ thuộc, dễ nhớ), mà vẫn hút được hồn
vía của câu thơ, bài thơ nguyên gốc: "Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai".
Huy Cận, khi nâng bút viết ra câu thơ nọ, hẳn đã bị ám
ảnh, váng vất trong hồn câu thơ của Thôi Hiệu rồi.
Giờ trở lại Thôi Hiệu với bài thơ Hoàng Hạc Lâu.
Thôi Hiệu (tức
Thôi Hạo) - theo sách Đường Thi của học giả Trần Trọng Kim, chỉ ghi
đơn giản: "Có tiếng hay thơ, nhưng
người ta chê là người vô hạnh". Còn
theo sách Đường thi tam bách thủ của
Hành Đường Thoái Sĩ (người Trung Hoa, tên
thật là Tôn Thù, đỗ Tiến sĩ năm Càn Long thứ 16), biên soạn, thì ghi chú rõ
hơn: “Thôi Hiệu (704 - 754), người Biện Châu (nay là Khai Phong, Hà Nam).
Đỗ Tiến sĩ năm Khai nguyên, làm quan
đến chức Tư Huấn viên ngoại lang”.
Ngoài Hoàng Hạc
Lâu, Thôi Hiệu còn để lại một số bài thơ (như Trường Can hành, Hành kinh Hoa Âm…). Thôi Hiệu vốn bản tính phóng
khoáng, có lối sống phóng túng, ít giữ gìn lễ nghĩa, nên người đời không ưa.
Ở xứ Việt ta, nhiều người cũng hay nhầm lẫn bài thơ Đề tích sở kiến xứ là của Thôi Hiệu.
Thực ra, bài thơ ấy, của một nhà thơ đời Đường nổi tiếng khác, là Thôi Hộ kia.
Còn Hoàng Hạc Lâu (Lầu
Hoàng Hạc)- gắn với bài thơ nổi tiếng này, ở phía tây bắc thành Vũ Xương (tỉnh
Hồ Bắc). Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với truyền thuyết người trần cưỡi hạc thành
tiên, bay đi mất. Người xưa đồn rằng, khi Lý Bạch đến Hoàng Hạc Lâu, định làm thơ,
ngửa mặt lên, đã thấy có đề bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu
rồi, bèn gác bút. Là bởi, Lý Bạch tự biết, mình có làm thơ nữa, thì cũng
không sao sánh nổi bài thơ của Thôi Hiệu. Thế đủ biết, bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu tuyệt hay và
nức tiếng đến mức nào.
Ø Nguyên tác chữ Hán:
黃鶴樓
昔人已乘黃鶴去,此地空餘黃鶴樓。黃鶴一去不復返,白雲千載空悠悠。晴川歷歷漢陽樹,芳草萋萋鸚鵡洲。日暮鄉關何處是,煙波江上使人愁。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng
Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang
thượng sử nhân sầu.
Ø Dịch nghĩa:
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi, Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng một khi
bay đi đã không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu
diêu trên không Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán
Dương rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà
nơi đâu?
Trên sông
khói tỏa,
sóng gợn,
khiến người
sinh buồn.
Cho đến nay, có rất nhiều người dịch bài thơ này, như:
Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Tản Đà và một số người khác. Song, theo tôi, bản dịch
của Tản Đà vẫn là hay nhất, không thể không dẫn ra đây:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. Hạc vàng bay mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay. Hán Dương sông lạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non. Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Hạc vàng ai cưỡi đâu rồi,
Còn đây Hoàng Hạc bên trời đứng trơ. Hạc vàng hút bóng thuở xưa
Nghìn năm mây trắng đến giờ còn bay... Hán Dương lạnh bóng hàng cây
Cỏ thơm Anh Vũ bãi đầy xanh non. Bóng quê chiều khuất hoàng
hôn Sóng sông gợi khói cho buồn lòng ai?
(Đặng Đình Nguyễn dịch)
Người xưa cưỡi hạc khuất tầng mây
Hoàng hạc lầu không vẫn chốn này Hoàng hạc bay đi không trở lại Ngàn năm lơ lửng
áng mây bay
Hán Dương trời tạnh hàng cây đứng
Anh Vũ cỏ thơm bãi mọc dày
Lặng
ngắm hoàng hôn đâu chốn cũ Trên sông khói sóng chạnh
buồn thay.
(Nhược Mộng dịch)
Hạc
vàng người cưỡi khuất xa rồi Hoàng Hạc Lầu trơ với nắng thôi Muôn nhớ hạc xưa
không trở lại Ngàn thương mây cũ vẫn còn trôi Hán Dương mưa tạnh cây soi bóng
Anh Vũ hương nồng cỏ tốt tươi Bóng đổ chiều buông quê chợt nhớ Sông sầu khói sóng dạ đơn côi.
(Việt An-Nguyễn Xuân Sinh dịch).
Hoa Thanh cung, Luyến giấc mộng ngàn xưa...
Mùa thu năm 2008, trong một khóa học tại Trung Quốc,
đoàn chúng tôi được phía bạn bố trí đi thực tập tại Thiểm Tây một tuần. Chương
trình tham quan học tập chủ yếu ở thủ phủ Tây An và khu lân cận, trong đó có đến
thăm Bảo tàng Binh mã dũng (khu mộ Tần Thủy
Hoàng) và Hoa Thanh cung (di tích về
chuyện tình lịch sử của vua Đường Huyền
Tông và Dương Quý Phi, một trong “Tứ đại mĩ nhân” cổ kim Trung Hoa)...
Di tích còn lại của Hoa Thanh cung là Hoa Thanh trì (hồ
Thanh Hoa), Lầu hong tóc của Dương Quý Phi, thư pháp cổ, ba cây lựu cổ và một
số công trình khác, đặc biệt, là hệ thống bồn tắm của vua Đường và Dương Quý Phi...
Sau này, tôi có viết một truyện
ngắn mang tên Mỹ
nhân mộng là lấy cảm hứng chuyến thăm ấy. Riêng về Hoa Thanh cung và câu chuyện tình thiên thu Đường
Minh Hoàng (tức vua Đường Huyền Tông)-Dương
Quý Phi, xưa nay, là nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao văn nhân, thi sĩ Trung Hoa. Ngay đời Đường,
các nhà
thơ lớn thời ấy (Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Đỗ Mục, Thôi Lỗ,...) cũng đã không tiếc lời ngợi
ca, luyến tiếc, hay ai oán thay cho chuyện tình nổi tiếng này...
Bài thơ Hoa
Thanh cung (kỳ 1) của Thôi Lỗ là một trong số đó...
Về thân thế, sự nghiệp văn chương, có tài liệu cho biết,
Thôi Lỗ (崔櫓), không rõ
năm sinh năm mất, đỗ Tiến sĩ vào niên hiệu Đại Trung đời Đường Tuyên Tông (cũng có tài liệu cho là vào niên hiệu Quảng
Minh đời Đường Hy Tông). Ông làm quan đến chức Tư mã Đại Châu. Tác phẩm có Vô cơ tập (無機集) gồm 4 quyển. Thơ Thôi Lỗ đến ngày nay chỉ còn 16
bài.
Theo tôi, bài thơ Hoa Thanh cung (kỳ
1), như một tiếng thở dài của Thôi Lỗ đầy luyến tiếc giấc
mộng ngàn xưa...
Ø Bản chữ Hán:
華清宮 (其一)
草遮回磴絕鳴鑾,雲樹深深碧殿寒。明月自來還自去,更無人倚玉欗干。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Thanh Hoa cung
Thảo già hồi đắng tuyệt minh loan,
Vân thụ sâm sâm bích điện hàn.
Minh nguyệt
tự lai hoàn tự khứ, Cánh vô nhân ỷ ngọc lan can.
Ø Dịch nghĩa:
Cỏ leo mèo lốc, bặt tiếng chuông,
Mây cùng cây cối khỏa lấp bích điện lạnh lẽo. Ánh trăng tự mình lặng sáng rồi lặng
tắt, Chẳng còn thấy người tựa lan can ngọc.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Cỏ che bậc đá, bặt chuông
ngân Cây phủ mây che điện lạnh tàn Lặng lẽ trăng lên rồi tự lặn
Chẳng còn người đứng tựa lan can.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Lầu hoang
chuông bặt phủ già nam Điện biếc lạnh lùng bóng tối tràn Vò
võ trăng nhô trăng tự lánh
Đâu còn dáng ngọc tựa lan can.
(Trần Khẩu dịch)
Vắng
chuông, bậc đá cỏ che dày Cung biếc lạnh lùng rợp bóng cây Trăng sáng tự lên rồi
tự khuất Lan can người
tựa chẳng còn đây.
(Nguyễn Hữu Thăng dịch)
Cỏ
khô mốc, đắng, hết hân hoan Mây phủ hàng cây, lạnh điện tàn Trăng sáng đêm nay đâu còn nữa
Để người thục nữ tựa lan can.
(Hương Đất Bãi-Trần Bài dịch)
Cỏ
lan lấp kín vết xe loan Cây cối tùm lum điện héo tàn
Trăng đến, trăng đi trăng biết vậy
Hỡi đâu người tựa ngọc lan can.
(Đỗ Xuân Đào dịch)
Cỏ
lan, dây phủ, chuông lặng ngắt Mây trùm, cây lấp, bích điện mờ Vầng trăng chợt
sáng rồi chợt tắt Chẳng còn bóng ngọc dựa thềm xưa.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Bìm leo cỏ phủ tiếng chuông đâu Cây xõa mây vươn bích điện sầu Thỏ lặn
trăng treo tàn cõi mộng Người xưa biền biệt vắng cô lâu.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Cỏ
tràn bậc đá, lặng chuông loan Lá rợp, mây u, bích điện tàn Nguyệt lặng gieo ngà
rồi lặng tắt Không còn người tựa ngọc lan can.
(Phan Lan Hoa dịch)
Cây trùm, điện vắng tiếng chuông
đưa Lạnh lẽo mây giăng, cỏ mọc bừa
Bóng nguyệt âm thầm rồi lặng khuất
Đâu rồi dáng ngọc tựa lầu xưa?
(Thái Xuân Nguyên
dịch)
Lối
xưa chuông vắng phủ rêu dầy Bích điện lạnh buồn ủ cỏ cây Trăng sáng dâng sầu rồi
chợt tắt Dáng ngọc giờ đây khuất
vào mây.
(Lê Hà Ngân dịch)
Kim Lũ y,
tác
phẩm của nữ sĩ duy nhất thời Đường
Đến nay, đọc các sách viết về thơ Đường, tôi biết, hầu
hết các tác giả-nhà thơ, từ người nổi tiếng đến không nổi tiếng, đều là nam giới,
duy nhất có một nữ sĩ, ấy là Đỗ Thu Nương. Và sự nhiệp thi ca của nữ sĩ duy nhất
này, cũng chỉ thấy mỗi một bài thơ Kim lũ
y (Áo kim tuyến, áo thêu vàng).
Về thân thế, sự nghiệp Đỗ Thu Nương, được biết: "Không
rõ năm sinh năm mất. Sinh ở Kim Lăng nay thuộc
Trấn Giang tỉnh Giang Tô. Thuở nhỏ nhà nghèo, nhờ có nhan sắc và tài ca múa nên đươc tuyển vào đội ca múa và làm thiếp cho Lý Kỳ (李錡:740 - 807) từ lúc mới 15 tuổi. Lý Kỳ là dòng dõi tôn thất nhà Đường,
làm tiết độ sứ Trấn Hải. Sau Lý Kỳ làm phản và bị giết, Đỗ Thu Nương lại bị đưa
vào cung làm nô dịch, nhưng cũng nhờ tài ca múa nên lại được chọn vào đội ca
múa cung đình, có dịp biểu diễn cho vua Đường Hiến Tông (778-820) xem. Nhận thấy Đỗ Thu Nương có nhiều tài hoa (ca múa
giỏi, làm thơ hay), nhà vua rất sủng ái. Không bao lâu, bà được vua cho cải danh là Thu Phi (秋妃). Sống ở trong cung, bà được các đại thần rất kính nể. Thời Đường Mục
Tông (Lý Hằng: 821 - 826), bà được làm Cung trung giáo tập và vừa làm bảo mẫu để
dạy học cho hoàng tử Lý Thấu (con của Đường Mục Tông). Sau Lý Thấu bị hại, bà
trở về quê quán cho đến khi mất. Về thơ, bà nổi tiếng nhất là bài Kim lũ y"...
Chúng ta biết, chế độ phong kiến xưa ở Trung Hoa và một
số quốc gia châu Á (Việt Nam, Nhật Bản,
Triều Tiên v.v...), vốn không coi trọng nữ giới. Họ chỉ lo phận sự sinh
con, nuôi con và làm lụng đồng áng, giúp việc nhà, không được học hành, tham chính, và hoạt động xã
hội nói chung. Vì lẽ đó, ngày xưa, có rất nhiều phụ nữ tài giỏi đã phải giả trai để được học hành, thi cử. Cũng vì vậy, Đỗ Thu Nương, nếu không được vua
yêu, chúa quý, được sống ở trong triều đình, thì bà cũng chẳng thể để lại ít nhất là một bài thơ (Kim lũ y).
Còn ngày nay, riêng trong lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật, đã có biết bao nữ tác gia
nổi tiếng ở trong ngoài nước... Thậm chí, đoạt giải Nobel văn chương cũng không
hiếm...
Hãy làm quen với Đỗ Thu Nương và bài thơ Kim lũ y của bà:
Ø
Bản chữ Hán:
金縷衣
勸君莫惜金縷衣,勸君惜取少年時。花開堪折直須折,莫待無花空折枝。
Ø Bản âm Hán Việt:
Kim lũ y
Khuyến
quân mạc tích kim lũ y, Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì. Hoa khai kham chiết trực tu chiết, Mạc
đãi vô hoa không chiết chi.
Ø Dịch nghĩa:
Áo kim tuyến
Khuyên
chàng đừng tiếc áo thêu vàng, (Mà) chàng
hãy biết tiếc thời trẻ trung,
Hoa nở đáng ngắt thì ngắt ngay đi,
Chớ đợi, (kẻo) hoa rụng lại bẻ cành không.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Đừng tiếc áo vàng người ơi!
Mà người hãy biết tiếc thời trẻ trung Hoa nào đẹp - cứ bẻ dùng
Chớ chờ tới lúc cành không - lại buồn!
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Khuyên người
đừng tiếc áo thêu vàng Mà nên biết tiếc thuở trẻ trung
Hoa nở đến thì xin hãy hái
Chớ chờ hoa rụng bẻ cành
không.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Áo
dù kim tuyến chớ cầu mong Hãy tiếc tuổi xuân thuở thắm nồng
Hoa nở có thì, nên bẻ vội
Đừng chờ hoa rụng bẻ cành
không.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Áo dẫu thêu vàng chẳng sánh bì
Chàng ơi quý nhất cái xuân thì Hoa thơm hãy ngắt khi đang độ Chớ để lìa cành tiếc quá đi.
(Trần Khẩu dịch)
Chường (chàng)
ơi chớ mải gấm bào Mà phung mà phí dồi dào sức tân
Rộ thì ngắn ngủi đào lan
Chần chừ qua độ nhụy tàn, cành không...
(Phan Lan Hoa dịch)
Người ơi chớ tiếc kim y
Mà xin nhớ lấy xuân thì chóng qua Hoa thơm còn búp đó mà
Chớ khi úa rữa cành già còn đâu.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Lương Châu từ
Khúc
bi tráng về chiến tranh
Trong số các nhà thơ đời Đường họ Vương (Vương
Duy, Vương Xương Linh, Vương Bột, Vương Chị Hoán, Vương Loan, Vương Kiến, Vương
Tích, Vương Hàn), thì Vương Hàn dường như kém nổi tiếng hơn.
Thơ của Vương Hàn, cho đến nay, các sách về Đường Thi,
chỉ thấy có duy nhất một bài, ấy là Lương
Châu từ (có sách chép là Lương Châu
khúc). Bài thơ này, xét về độ nổi
tiếng, không kém gì những bài thơ Đường bất hủ khác như: Tương Tiến tửu, Tĩnh dạ tư (Lý
Bạch), Trường Hận ca (Bạch Cư Dị), Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu), Đằng Vương các (Vương Bột), Xuân hiểu (Mạnh Hạo Nhiên), Phong Kiều dạ bạc (Trương Kế), Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), Điểu minh giản (Vương Duy), Kim
lũ y (Đỗ Thu Nương)…
Vương Hàn (theo sách Đường Thi tam bách thủ của
Hành Đường Thoái Sĩ), không rõ năm sinh và năm mất, có tên chữ là Tử Vũ, người Tinh Châu Tấn Dương, làm
quan giữ chức Thứ sử Nhữ Dương, sau triều đình điều đi làm
Hóa Châu Biệt Giá.
Lương Châu
từ* của
Vương Hàn, diễn tả tâm tình của tướng sĩ nơi chiến trận. Theo đánh giá của nhiều
nhà nghiên cứu về Đường Thi, xưa nay, ngoài nội dung hàm chứa, về âm điệu Hán
Việt thì tuyệt hay (khi ngâm vịnh, hoặc đọc
lên).
Ø Bản chữ Hán:
涼州詞其一
葡萄美酒夜光杯,欲飲琵琶馬上催。醉臥沙場君莫笑,古來征戰幾人回。
Ø Bản âm Hán Việt:
Bồ đào mĩ tửu dạ quang bôi Dục ẩm tì bà mã thượng
thôi
* Lương Châu (được
nhà Hán đổi tên từ Ung Châu) - là vùng đất nằm giữa Lan Châu và Uy Vũ (nay thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Hoa). Xưa
kia, vùng đất này luôn là chiến trường, bởi những cuộc xung đột tranh chấp lẫn nhau liên miên giữa nhà Hán và người Hồ (rợ Hồ
- chỉ một số bộ lạc ở phía tây bắc Trung nguyên).
Tuý ngoạ sa trường
quân mạc tiếu Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi.
Ø Dịch nghĩa:
Rượu ngon được uống bằng chén quý dạ quang,
Còn chưa kịp thưởng thức thì tiếng tì bà đã giục giã lên ngựa.
Kệ, uống cái đã, say kềnh ra bãi cát chiến trường, mặc ai cười chê,
Bởi xưa nay, đi chiến trận, còn được mấy người
sống sót trở về đâu.
Ø
Bản dịch thơ của học giả Trần Trọng Kim:
Rượu nho kèo chén lưu li
Uống thì trên ngựa tiếng tì giục sôi Say nằm bãi cát chớ cười
Xưa nay chinh chiến
mấy ai trở về.
Ø Bản dịch của nhà thơ Ngô Văn Phú:
Bồ đào rượu chát, chén lưu li Lên ngựa, tì bà giục giã đi
Say ngủ sa trường, cười chớ vội Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Ngẫm bài thơ, Vương Hàn đã mượn chuyện say rượu nơi
chiến trường, để mà diễn tả nỗi niềm tâm sự của quân sĩ phải tham gia chiến trận. Lịch sử Trung Hoa từ cổ đại, là lịch sử của chiến tranh
liên miên, hết triều đại này qua triều đại khác (lập quốc; thay đổi triều đại cai trị; chống ngoại xâm từ phía các bộ tộc
nhỏ từ phương bắc, tây bắc; xung đột từ các tập đoàn phong kiến cát cứ, rồi
xung đột sắc tộc, tôn giáo đủ kiểu …). Trước nhà Đường, Trung Hoa trải qua
mấy cuộc chiến tranh lớn (điển hình là thời
Tam Quốc, hơn trăm năm; thời Hậu Tấn; loạn Nam-Bắc Triều gần hai trăm năm). Đất nước kiệt
quệ, người lính bỏ mạng nơi chiến trận, có thể nói là "xương chất
thành núi, máu chảy thành sông”)… Vậy thì, đã mang tiếng là nam tử hán đại
trượng phu, chinh chiến, chết chóc đâu có sá gì… cho nên, có rượu ngon cứ uống
thôi, chết còn chẳng sợ, sợ chi tiếng cười chê…?
Đấy là ý thực của bài thơ. Song bao trùm lên, là ý thức
phản kháng chiến tranh, là tiếng kêu gọi hòa
bình… để người dân có cuộc sống yên lành. Bài thơ, từ khoảng một nghìn
năm trăm năm trước, đặt trong một không gian bi tráng, và đích thị, đó là khúc
ca bi tráng (không chút bi lụy). Nó đằm lại ở câu kết, tuyệt bút - "Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi "- có sức lay động và thức tỉnh
con người!
Và như thế, ấy là triết
lí nhân văn.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Rượu quý uống bằng chén dạ quang
Dở dang đàn đã giục lên đàng
Sa trường say ngủ, cười chê - Mặc!
Chiến trận thây ai mấy vẹn toàn?
(Đặng Đình
Nguyễn dịch)
Mới rót rượu đào chén dạ quang
Tì bà đã giục bước lên đàng
Cứ uống,
say kềnh, ai cười mặc Chắc gì trở lại vắng màu tang.
(Việt An-Nguyễn Xuân Sinh dịch)
Bồ
đào rượu quý chén dạ quang, Nhấp môi, tì bà giục lên đàng Thây kệ, cứ say, ai
cười trách Xưa nay, chiến
trận mấy bình an.
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Lữ tức,
nỗi
tha hương của Đỗ Mục
Thời trẻ, khi chưa làm báo, tôi đã phải xa nhà, biền
biệt gần chục năm trời nơi đồng đất Tây Nam Bộ. Đến khi làm nghề báo, tháng đôi
lần công tác. Thôi thì, gặp đâu ngủ trọ đó. Thời bao cấp khó khăn, đi cơ sở,
đêm ngủ lại nhà kho HTX, trụ sở UBND xã, nhà khách Ủy ban, thôi thì đủ kiểu... Sau này, kinh tế xã hội phát triển, mới
có khách sạn. Đi công tác xa cũng đỡ vất vả. Thường là đi nhiều, cũng dễ ngủ. Mệt,
đặt lưng xuống là ngủ. Bữa cơm tối,
có chén rượu mời, hay anh em đi cùng, gọi chút cay đưa cơm, ngà ngà một chút, lại
càng dễ ngủ. Nói vậy thôi, chuyện thao thức canh khuya nơi đất khách quê người,
nằm nhớ nhà, điểm việc chung riêng cũng là chuyện thường thấy... Lại nhớ câu
thơ "Hàn đăng tư cựu sự,/Đoạn nhạn cảnh
sầu miên", giống như nhà thơ Đỗ Mục xưa, thi thoảng cũng từng...
Về thân thế, sự nghiệp: Đỗ Mục là người
Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây). Nội ông là Tể tướng Đỗ Hựu, từng là một viên quan
giỏi về lí tài (coi về tiền bạc), và là một sử gia biên soạn
sách Thông điển. Anh ông là Phò mã
Đỗ Sùng, từng trải đến chức Tiết độ sứ, rồi Tể tướng. Theo tài liệu, Đỗ Mục có
dáng thanh tú, tính thích ca vũ, và có tài văn ngay từ lúc nhỏ. Năm 828 đời Đường Văn Tông, ông thi đỗ Tiến sĩ lúc
25 tuổi, lại đỗ luôn khoa Hiền lương phương
chính, được
bổ chức Hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi lần lược trải các chức:
Đoàn luyện tại Giang Tây, Thư kí cho Tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ ở Hoài Nam, Giám sát ngự
sử ở Lạc Dương. Sau đó, ông lần lượt giữ chức Thứ sử tại Hoàng Châu, Từ Châu và
Mục Châu. Về sau, ông được triệu về triều làm chức Khảo công lang, Tri chế cáo, rồi làm Trung
thư xá nhân. Năm 853, đời Đường Tuyên Tông, Đỗ Mục lâm bệnh mất lúc 50 tuổi.
Đỗ Mục được đánh giá là người tài hoa, lãng mạn, nhưng cương trực
có khí tiết, không hay để ý chuyện nhỏ nhặt, và xem thường lễ giáo. Trong thư gửi
cho Lý Trung Thừa, ông đã nói về mình như sau: "thích rượu, thích ngủ, đã thành
cố tật, thường
đóng của hàng chục ngày, việc
thăm viếng mời mọc cũng nhiều thiếu sót"...
Sau đây là bài Lữ tức:
Ø Bản chữ Hán:
旅宿
旅館無良伴,凝情自悄然。寒燈思舊事,
斷雁警愁眠。遠夢歸侵曉,家書到隔年。滄江好煙月,門系釣魚船。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Lữ tức
Lữ
quán vô lương bạn, Ngưng tình tự tiễu nhiên. Hàn đăng tư cựu sự,
Đoạn nhạn cảnh sầu miên.
Viễn mộng quy xâm hiểu, Gia thư đáo cách niên.
Thương giang hảo yên nguyệt,
Môn hệ điếu ngư thuyền.
Ø Dịch nghĩa:
Ngủ
ở quán trọ
Nơi quán trọ không bầu bạn
Tự lòng buồn (mà) sinh ngẩn ngơ
Trước ngọn đèn lạnh nhớ hoài chuyện cũ Tiếng nhạn động giấc sầu
Cứ mộng đi xa về cho đến sáng
Thư nhà (thì) mất một năm mới đến Sông biêng biếc trăng khói tỏa
Cửa ngoài buộc chiếc thuyền câu.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Quán
trọ không bầu bạn Tự lòng ngơ ngẩn buồn Đèn lạnh hoài chuyện cũ Tiếng nhạn giấc
sầu tuôn Tới sáng còn viễn mộng Thư nhận đã cách năm Sông trăng biêng biếc khói
Thuyền câu neo bên thềm.
(Phan Lan Hoa dịch)
Quán trọ bạn bè có ai đâu
Lòng
buồn nên cứ ngẩn ngơ sầu Một thân ngồi trước cây đèn lạnh
Chuyện cũ nhớ hoài có quên đâu
Con nhạn từ đâu gây tiếng động Để ta bỗng tỉnh giấc mơ sầu Mộng mị
về quê cho tới sáng Thư nhà có tới cũng năm sau
Ngoài
kia sông biếc trăng khói tỏa Cửa ngoài có buộc chiếc
thuyền câu.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Một
mình trong quán trọ Thầm thầm nhớ nhung nhau Nhạt màu đèn xưa cũ
Chim
trời vọng đêm thâu Mộng theo ta vào sáng Một năm cánh thư nhà Trăng côi trầm
khói biếc Bập bềnh sóng thuyền câu.
(Tường Vi dịch)
Dừng nơi lữ quán chiều thiêm thiếp
Hối hả người đi ngày đuổi kịp Thăm thẳm chân mây đã xám dòng
Xa xăm thảm cỏ còn xanh liếp
Hạ chuyền năm cũ tím phong thư Thu
gửi mùa này vàng cánh thiệp
Khói tỏa sông sầu vọng tiếng tiêu Cô đơn lạnh nhớ nhà hồng bếp.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Đêm khuya quán trọ một mình
Tự lòng buồn bã sinh tình ngẩn ngơ Trước đèn nhớ chuyện ngày xưa
Trên cao tiếng nhạn nhặt thưa...
giấc sầu Mộng dài tới sáng
hôm sau
Thư nhà thăm thẳm biết đâu mà chờ
Sông trăng khói tỏa như mơ
Ngoài kia thuyền
buộc bên bờ quạnh hiu.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Phong Kiều dạ bạc,
Làm nên tên tuổi Trương Kế
Về thân thế và sự nghiệp: "Trương Kế 張繼 (?- 779) tự Ý Tôn 懿孫, người
Tương Châu 襄州, đỗ Tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 12 (754), là một nhà thơ có tiếng
thời Trung Đường. Thơ của ông trong Toàn Đường thi tập có chép thành một quyển, nhưng chỉ một bài Phong
Kiều dạ bạc (楓橋夜泊) đã giúp
ông lưu danh thiên cổ.
Bài thơ Phong Kiều
dạ bạc của Trương Kế thật sự là một
bài thơ nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Ở Việt Nam cũng vậy. Là bởi, văn
học cổ cận của Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng của thơ Đường rất lớn. Còn giờ đây, thơ Đường nói chung và bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế nói
riêng, được đưa vào chương trình giảng văn ở bậc phổ thông nước ta. Người ta,
biết và thuộc Phong Kiều dạ bạc, mà
có thể không biết, không thuộc Tĩnh dạ tư
của Lý Bạch, Hoàng Hạc lâu của
Thôi Hiệu, Lương Châu từ của Vương
Hàn,
Điểu minh giản của Vương Duy, Đề tích sở kiến xứ của
Thôi Hộ, Xuân
hiểu của
Mạnh Hạo Nhiên, Tầm ẩn giả bất ngộ của
Giả Đảo, Kim lũ y của Đỗ Thu Nương
v.v...
Nhà thơ Trần Đăng Khoa là một người yêu thơ Đường, và theo tôi, thơ ông ít nhiều chịu ảnh hưởng của thơ
Đường, bởi sự hàm súc của cấu tứ, ngôn
từ chắt lọc, tinh tế, nhịp điệu du dương, thanh
thoát... Ấy vậy, hễ nói đến thơ Đường, dường như Trần Đăng
Khoa chỉ thuộc mỗi bài Phong Kiều dạ bạc,
mặc dù ông là người có biệt tài, dù không biết chữ Hán, nhưng khi ai đó đọc một
bài thơ Đường bất kì nào bằng âm Hán Việt, ông đều hiểu được nghĩa cơ bản và có
thể dịch thơ ngay tắp lự...
Tôi đã nhiều lần đàm đạo cùng Trần Đăng Khoa, được
nghe ông bàn về thơ Đường nói chung, rồi viện dẫn bài Phong Kiều dạ bạc để mà nhấn nhá, phân tích cấu tứ, hình ảnh, ngôn
từ và nhịp điệu tuyệt diệu của bài
thơ này...
Ø Bản chữ Hán:
楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天,江楓漁火對愁眠。姑蘇城外寒山寺,夜半鐘聲到客船。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Ø Dịch nghĩa:
Đậu thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Trăng lặn, quạ kêu, sương bao phủ đầy trời.
Hàng phong trên bến, ngọn đèn thuyền chài cùng sầu mơ ngủ,
Ngoài thành Cô Tô có chùa Hàn San,
Tiếng chuông
lúc nửa
đêm vẳng
đến bến
thuyền khách.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Quạ kêu, trăng lặn, sương đầy
Rặng phong cùng với đèn chài ngủ mơ Chùa Hàn ngoài lũy Cô Tô
Nửa đêm vẳng tiếng chuông đưa bến thuyền.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
1.
Trăng
lặn quạ buồn gọi biển sương Hàng phong, đèn cá… mộng sầu vương Hàn San cạnh bến Cô Tô vắng
Khuya khoắt bên thuyền vẳng tiếng chuông.
2.
Trăng tà, tiếng quạ đẫm sương
Hàng phong,
đèn cá buồn buồn trong mơ
Hàn San kề bến Cô Tô
Bên thuyền vẳng tiếng chuông
chùa giữa đêm.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Trăng tà, tiếng quạ đẫm sương ngâu
Đèn cá, hàng phong thả giấc sầu Hàn tự
ngoại thành Cô vắng ngắt
Bên thuyền chuông
vẳng giữa canh thâu.
(Thái Xuân Nguyên
dịch)
Trăng tàn, quạ lạc đêm sương
Hàng phong rủ lá, thuyền vương
ánh đèn
Hàn San chuông vọng êm êm
Cô Tô chợt tỉnh giấc đêm tìm người.
(Kiều Thiện
dịch)
Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ trời
Đèn chài, cây bến ngủ mơ hoài Ngoài thành Tô có Hàn San tự
Nửa đêm văng vẳng tiếng chuông
dài.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Trăng tàn tiếng quạ kêu sương
Hàng phong thuyền lưới đèn man mác sầu Hàn San chùa ngoại Cô lâu
Tiếng chuông rụng giữa canh thâu não lòng.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Quạ sầu nguyệt lạc bóng trời sương
Le lói đèn câu, phong ngủ buồn Trên bến Cô Tô
thuyền khách mộng
Ngoại thành Hàn tự vọng thanh chuông.
(Phan Lan Hoa dịch)
1.
Thuyền đêm đậu bến Cầu Phong
Quạ kêu, đèn cá, thấu lòng, sương buông Cô Tô riêng một nỗi buồn
Hàn San văng vẳng tiếng chuông đêm trường.
2.
Qụa kêu sương, ánh trăng tà
Đèn chài, cây bãi, ngẫm xa, nghĩ gần Cô Tô độc mộc một thân
Hàn San chuông
điểm gieo vần nửa khuya…
3.
Tàn đêm, tiếng quạ, sương rơi
Vạn chài, kề bãi đón người ghé qua Bến Cô Tô một thân ta
Chùa Hàn San tiếng chuông
xa đêm buồn…
4.
Thuyền
đêm ta đậu bến Cầu Phong Quạ kêu, sương phủ, đèn chài chong Hàn San thành ngoại Cô Tô ấy
Chuông vẳng nửa khuya ngẫm se lòng.
(Nguyễn Vĩnh Tuyền
dịch)
Quạ kêu trăng lặng trời sương
Lửa chài sông lạnh nặng vương nỗi sầu. Hàn San thành ngoại nơi đâu
Nữa đêm chuông đổ canh thâu một mình.
(Vũ Việt Hùng dịch)
Ngẫu
hứng xuân của người xưa...
Ngày xuân, kì nghỉ tết Bính Thân vẫn còn. Mọi người nô
nức trẩy hội xuân, lễ chùa đầu năm... Riêng mình, ghé cơ quan, thấy cành đào rừng nở muộn đang độ hoa đẹp. Ngắm nghía, lòng
xuân hứng khởi. Chợt thơ câu thơ của Vu Lương Sử, thi nhân đời Đường, rằng: "Xuân sơn đa thắng
sự/ Thưởng ngoạn dạ
vong quy/ Cúc thủy nguyệt tại thủ/ Lộng hoa hương
mãn y..." (bài thơ Xuân sơn nguyệt dạ).
Ôi, người xưa thật biết thưởng xuân...
Qua tìm hiểu được biết, Vu Lương Sử (于良史), thi nhân đời Đường, sống vào khoảng năm Chí Đức đời
Đường Túc Tông, từng giữ chức Thị ngự sử; và năm Trinh
Nguyên đời vua Đường Đức Tông làm Tiết độ sứ Dự Châu và được Trương Kiến (張建) nhận làm tòng sự. Theo đánh giá, thơ ngũ ngôn của Vu Lương Sử từ ngữ siêu dật
thanh lệ, nghiêm cẩn; đa phần tả cảnh, cấu tứ xảo diệu, hình tượng chân thực,
hàm chứa lòng nhớ quê hương và chí của người ẩn dật. Hai bài nổi tiếng
hơn cả trong số những bài thơ còn lại của ông là Xuân sơn dạ nguyệt
(春山夜月) và Túc Lam Điền sơn khẩu phụng kí Trầm viên ngoại (宿藍田山口奉寄沈員外). Câu thơ "Cúc thủy nguyệt tại thủ/ Lộng hoa hương mãn y" (掬水月在手,弄花香滿衣) trong bài Xuân sơn dạ nguyệt của
Vu Lương Sử nổi tiếng là giai cú (câu
thơ đẹp)...
Ø Bản chữ Hán:
春山夜月
春山多勝事,賞翫夜忘歸。掬水月在手,弄花香滿衣。興來無遠近,欲去惜芳菲。南望鳴鐘處,樓臺深翠微。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Xuân sơn nguyệt
dạ
Xuân
sơn đa thắng sự, Thưởng ngoạn dạ vong quy.
Cúc thủy nguyệt
tại thủ, Lộng hoa hương mãn y.
Hứng lai vô viễn cận,
Dục
khứ tích phương phi. Nam vọng minh chung xứ, Lâu đài thâm thuý vi.
Ø Dịch nghĩa:
Núi mùa xuân nhiều cảnh đẹp
Thưởng ngoạn
đến đêm buông, quên cả về nhà (Muốn) múc trăng trong nước vào bàn
tay
Rồi đùa với những đoá hoa hương thấm đẫm áo Hứng lên thì chẳng ngại gì xa gần
Muốn về lại tiếc hoa thơm cỏ lạ
Xa tít phía nam vẳng tiếng chuông ngân Lâu đài ẩn sâu giữa núi xanh rờn.
Ø Một số bản dịch của người yêu thơ Đường:
Núi
xuân nhiều cảnh đẹp Thưởng ngoạn quên về nhà
Muốn
vớt trăng đáy nước Ngửi hương đùa cùng hoa Gần xa hứng chẳng ngại Hoa cỏ níu chân
ta
Lâu
đài trong núi thẳm Vẳng tiếng chuông ngân xa...
(Trần Mỹ Giống dịch)
Núi Xuân nhiều cảnh đẹp thay
Mải mê thưởng ngoạn vui say quên về Ước gì múc ánh trăng khuya
Áo khăn thấm đẫm hương quê ngạt ngào Hứng lên chẳng ngại chút nào
Hoa thơm cỏ lạ khiến xao xuyến lòng Chùa Nam vẳng tiếng chuông ngân Lâu
đài ẩn giữa trập trùng núi cao.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
1.
Đẹp đến nao lòng ơi núi xuân
Đêm buông thưởng ngoạn quên lối về
Muốn múc trăng trong
nơi trần thế Tưới đẫm hoa rừng hương áo ta
Cảm
hứng ngại gì chốn gần xa Dùng dằng hương sắc bên cỏ hoa Giục giã chuông ngân
ngoài xa tít Ôi bóng đài trang đêm non ngàn…
2.
Núi
xuân đa sắc cực Mải đêm quên lối về Vốc nước trăng quá thể
Tưới hoa áo đẫm
hương
Gần xa mặc cung đường
Tơ vương hoa cỏ thơm
Chuông phía Nam ngân giục Lâu đài xuân chập chờn…
(Nguyễn Vĩnh Tuyền dịch)
Núi
xuân cảnh đẹp thay Đêm say ngắm quên về Vục nước trăng lòng tay
Sương lay vương đẫm áo
Hứng chí chẳng ngại xa Bỏ đi thì thật tiếc
Núi nam lâu đài ẩn
Vẳng lại tiếng chuông
ngân.
(Trần Khẩu dịch)
Non xuân bao cảnh đẹp tươi
Đêm buông vẫn mải mê chơi quên nhà Long lanh tay vớt trăng ngà
Đùa hoa áo đẫm mùi hoa lúc nào
Đã vui, xa chẳng là bao
Hoa
thơm cỏ lạ ngạt ngào níu chân Phương nam vẳng tiếng chuông ngân Lâu đài thấp thoáng giữa tầng núi xanh.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Sen & người
Những ngày hè, là mùa sen nở. Những vùng ao đầm, hồ có
sen là điểm yêu thích của những người yêu sen, chơi sen tìm đến. Nói đến sen,
là người ta nói đến thiếu nữ. Cô gái hái sen, thiếu nữ bên hoa sen... Những
ngày này, vùng sen Hồ Tây (Hà Nội), các nàng đua nhau đến, chụp ảnh sen, làm
dáng với sen...
Ngày xưa, các nhà thơ đời Đường cũng lấy cảm hứng từ
thiếu nữ với hoa sen. Lý Bạch, Vương Xương Linh đều có Thái liên khúc... Mấy câu thơ của Vương Xương Linh "Hà diệp la quần nhất sắc tài,/Phù dung
hướng kiểm lưỡng biên khai", thật tài hoa...
Về thân thế sự nghiệp, được biết: "Vương
Xương Linh 王昌齡
(khoảng 698-756)
tự Thiếu Bá 少伯, người đất Giang Ninh (tỉnh Giang Tô), năm 727
(đời Ðường Huyền Tông), thi đậu Tiến sĩ, được bổ làm chức hiệu thư lang. Sau vì sơ suất về hành vi, bị biếm ra làm chức úy tại
Long Tiêu, ở phía Tây sông Tương. Khi trở về quê nhà, gặp lúc loạn lạc, bị Thứ
sử Lư Khâu Hiển giết chết vì tư thù. Vương Xương Linh được người đương thời
xưng tụng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm".
Ø
Bản chữ Hán:
採蓮曲 (其二)
荷葉羅裙一色裁,芙蓉向臉兩邊開。亂入池中看不見,聞歌始覺有人來。
Ø Bản âm Hán Việt:
Thái liên khúc (Kỳ 2)
Hà diệp la quần nhất sắc tài,
Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.
Loạn nhập trì trung khan bất kiến, Văn
ca thủy giác hữu nhân lai.
Ø Dịch nghĩa:
Lá sen và quần lụa cùng một màu,
Gương mặt nghiêng trong
sen, sánh hoa cùng nở. Trong đầm lẫn vào nhau nhìn không rõ,
Chỉ khi
nghe tiếng
hát mới
biết là
trong sen
có người.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Lụa
gấm xiêm y tựa lá sen Muôn hoa sánh nở cứ đua chen
Trong đầm lẫn lộn nhìn không rõ
Nghe tiếng hát rồi mới thấy em.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Lá sen quần lĩnh sắc trùng
Mặt hoa nghiêng
giữa một rừng phù dung Khó tường giữa cảnh mông lung
Nghe ca mới biết sen chung với người.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Lá sen quần lụa một màu
Gương sen gương mặt thi nhau rạng ngời Trong đầm chỉ thấy bóng thôi
Nghe ca mới biết em ngồi trong sen.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Sen xanh,
quần lụa lẫn màu,
Gương sen, gương mặt bên nhau sánh cùng.
Trong đầm hoa quyện người chung,
Vẳng nghe hát... thấy dáng lung linh người.
(Trần Mạnh Tuân
dịch)
Lá sen và quần lụa cùng một màu,
Gương mặt nghiêng trong
sen, sánh hoa cùng nở. Trong đầm lẫn nhau nhìn không rõ,
Nghe tiếng hát biết trong sen có người.
(Ngọc Lê dịch)
Quyện màu quần lĩnh, lá sen
Họa hồng gương mặt ngời chen hoa cười Ngỡ rằng thanh vắng sen tươi
Chợt nghe tiếng hát biết người trong
sen.
(Phan Lan Hoa dịch)
Quần xanh với lá một màu
Má hồng, sen thắm bên nhau nở bừng Nhấp nhô đầm rộng khó tường
Vẳng nghe tiếng hát đoán gương mặt người.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Sen
hoa cùng lụa đẹp thi tài Nghiêng soi cùng sen đẹp chẳng sai Trong đầm xen nhau nhìn chẳng
rõ Ấy khen tiếng hát sen cùng ai.
(Ngô Minh Vương dịch)
Xiêm y tơ nõn lẫn lá sen
Soi bóng lồng hoa nở đua chen Mượt xanh như ngọc trông
không rõ
Nghe hát biết người ngát hương
hoa.
(Lũy Tre1 dịch)
Quần
lụa, lá sen cũng một mầu Mặt người hoa nở lẫn vào nhau Đầm lầy lóng lánh lời em hát
Mới biết có nàng quanh quẩn đâu?
(Trịnh Tuyên dịch)
Nhân được tặng bức thư họa
Tầm ẩn giả bất ngộ của Giả Đảo
Trước tết Tân Mão (2011), tôi được bạn đồng nghiệp
cùng cơ quan chuyên công việc quan hệ quốc tế, tặng cho một bức thư họa Trung
Hoa. Đơn giản, anh là dân tây học, được bạn Trung Quốc tặng tranh, vì không hợp
gu, biết tôi võ vẽ chữ Hán, nên đem tặng lại...
Bức thư họa này thực ra cũng chỉ tầm tầm, song quý ở chỗ, tác giả thể
hiện bài thơ Đường
nổi tiếng Tầm ẩn giả bất ngộ (Tìm ẩn sĩ không gặp) của Giả Đảo.
Giả Đảo, chữ Hán 賈島, ((779-843) tên chữ: Lãng Tiên, hiệu: Kiệt Thạch Sơn Nhân, người Phạm
Dương, tỉnh Hà Bắc (nay thuộc ngoại ô Bắc Kinh), Trung Quốc. Thời trẻ, ông đi
thi nhiều lần không đậu, đi làm tăng tại Lạc Dương, pháp danh là Vô Bản. Sau đến
kinh đô Trường An, ngụ tại chùa Thanh Long. Ở đấy, ông gặp được Hàn Dũ và nghe
lời danh sĩ này hoàn tục. Sau này, ông làm quan, thọ 65 tuổi. Sở trường của ông là thơ ngũ ngôn. Bài thơ “Tầm ẩn
giả bất ngộ” là bài thơ nổi tiếng nhất của Giả Đảo còn đến ngày nay, có mặt ở hầu hết các
tuyển tập Thơ Đường:
Ø
Bản chữ Hán:
松下問童子,言師採藥去.只在此山中,雲深不知處
Ø Bản âm Hán Việt:
Tùng
hạ vấn đồng tử Ngôn sư thái dược khứ Chỉ tại thử sơn trung Vân thâm bất
tri xứ.
Ø Dịch nghĩa:
Dưới bóng
tùng hỏi thăm tiểu đồng Thưa rằng: Thày tôi đi hái thuốc chưa về Chỉ quanh quất ở trong núi này thôi
Nhưng mây mù che phủ nên chẳng
rõ nơi nao.
Hiện có nhiều bản dịch thơ bài thơ này (Tản Đà, Trần Trọng San, Tương Như, Khuyết danh...) nhưng tôi
không nêu ra đây để những ai yêu thích thơ Đường có thể tự dịch riêng cho mình. Và xuân Tân Mão, tôi đã nhận được vài
món quà thơ, ấy là bản dịch thơ bài thơ này:
1.
Hỏi thăm bé dưới bóng tùng
Rằng: Thày hái thuốc
trên rừng đâu đây
Chỉ quanh quất ở núi này
Mây mù che phủ chẳng
hay nơi nào?
2.
Bóng thông hỏi thăm nhà
Rằng: Thày tôi hái thuốc Quanh quất ở núi này Mây phủ mờ đâu đây.
(Đặng Đình
Nguyễn dịch)
Tiểu đồng đáp đưới bóng cây
Thầy tôi hái thuốc quanh đây chưa về Nhưng mà núi phủ mây che
Vậy nên chẳng
biết thầy về phương nao?
(Trần Quê dịch)
Dưới
tùng hỏi đồng tử Thầy hái thuốc bao lâu? Ngay núi này thôi ạ, Mây mù chẳng rõ
đâu...
(Nguyễn Chu Nhạc dịch)
Thiền phòng hoa mộc thâm
Những ngày Phật Đản năm nay (2015),
không khí ở những
nơi có chùa lớn tọa lạc tưng bừng hẳn lên, mặc dù
đang
những ngày nắng nóng đầu hè dữ dội khác thường...
Với tôi, do đặc
trưng nghề nghiệp, nên có điều kiện đi đó đây... Và ở đâu, biết có
chùa chiền, tôi thường tranh thủ ghé thăm, vãn cảnh lễ Phật. Tôi vốn thích những
chùa làng khuất lấp, chùa nhỏ, cổ kính, thưa bóng người, nơi thâm sơn cùng cốc,
mà ngại chen chân nơi chùa sầm uất.
Chiều nắng nóng lên hơi ngùn ngụt, từ tầng cao công sở
nhìn hút về phía chùa Quán Sứ, tự nhiên lại nhớ
đến một câu thơ của Thường Kiến, một nhà thơ
đời Đường (Thường Kiến 常建, thi nhân đời Đường, đỗ Tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ
15): "Khúc kính thông u xứ/ Thiền
phòng hoa mộc thâm..." (Đề Phá Sơn tự hậu thiền viện). Câu thơ này được
hiểu nghĩa là: "Lối nhỏ quanh co dẫn
đến nơi yên tĩnh/ Xung quanh thiền phòng hoa, cỏ rậm rạp"...
Sao mà thèm thấy cái cảnh u tịch như thế giữa những
ngày nắng nực và náo nhiệt này...
Ø
Bản chữ Hán:
題破山寺後禪院
清晨入古寺,初日照高林。曲徑通幽處,禪房花木深。山光悅鳥性,潭影空人心。萬籟此俱寂,惟聞鐘磬音。
Ø Bản âm Hán Việt:
Đề Phá Sơn* tự hậu thiền viện
Thanh thần nhập cổ tự
Sơ nhật chiếu cao lâm Khúc kính thông u xứ
* Chùa Phá Sơn tức
chùa Phúc Hưng,
ở huyện Thường
Thục, tỉnh Giang Tô ngày nay. Ngôi chùa này có từ xa xưa, được thứ sử Bân
Châu cho dựng lên. Tương truyền, xưa Thường Kiến hay qua lại thăm viếng chùa
này, cảm tác mà thành thơ.
Thiền phòng hoa mộc thâm
Sơn quang duyệt điểu tính, Đàm ảnh không nhân tâm Vạn lại** thử câu tịch
Duy văn chung khánh âm.
Ø Dịch nghĩa:
Đề ở thiền viện sau chùa núi Phá Sơn
Buổi sớm vào thăm ngôi chùa cổ,
Ánh dương sớm mai chiếu trên rừng cây cao
Lối nhỏ quanh co dẫn đến nơi yên tĩnh Ngoài
thiền phòng hoa và cây cỏ rậm rạp
Ánh sáng
trong lành
núi sớm
làm chim
chóc quần
tụ
Bóng
ảnh trong mặt đầm khiến người ta muốn
trút hết lòng trần
Nơi đây mọi thứ thanh âm dường như ngưng bặt Chỉ còn mỗi tiếng chuông, mõ mà thôi,
** Vạn lại: chỉ hiện tượng gió
thổi vào ống rỗng của tre trúc lau sậy mà thành tiếng như tiếng sáo.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Bình
minh chiếu cổ tự Ánh nắng rọi cây cao Rậm lá thiền phòng khuất Đường quanh lối dẫn vào Yên lòng
chim thích ở
Ổn dạ kẻ tiêu dao
Vạn
sự dường như lắng Thanh tao vọng mõ chào.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Chùa xưa buổi sớm vào thăm
Ánh dương lồng lộng một rừng cây cao Quanh co lối nhỏ đưa vào
Phòng thiền yên ả, vườn đào hoa tươi Cỏ cây chen chúc mọc dài
Bình minh rọi cánh chim bay một vùng
Mặt đầm soi bóng mông lung
Khiến ta muốn trút hết lòng trần gian Cả vùng yên ả thanh bình
Lắng nghe chuông
mõ không thinh
dội về.
(Nguyễn Vạn An dịch)
Viếng
cảnh chùa xưa buổi sớm mai Rừng cây xanh thẳm nắng loang dài Điện trung lối cỏ hòa sương loãng Thiền ngoại phòng hoa quyện lá dày
Líu ríu chim lành xua tạp niệm
Rì rào nước sạch gột trần ai
Âm thanh
vọng động dường
như lắng Chỉ vẳng tiếng
chuông mõ chốn này.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Vào thăm chùa cổ sớm hừng
Ánh dương tỏa chiếu trên rừng cây cao Quanh co lối nhỏ dẫn vào
Thiền phòng hoa cỏ ngạt ngào tỏa hương
Ríu ran chim hót khắp vườn
Bóng soi mặt nước - chẳng vương
bụi trần Tạp âm ngưng bặt chỉ
còn
Tiếng chuông tiếng mõ vang dồn cõi không,
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Sáng sớm thăm chùa xưa
Rừng núi cao nắng rải Lối lượn sâu nẻo vắng Cây hoa rợp phòng tu Chốn thanh
bình chim tụ Đầm thoáng lòng nhẹ ru Tiếng vi vu im bặt
Vẳng nhịp khánh chuông ngân.
(Trần Khẩu dịch)
1.
Ban
mai thăm cổ tự Nắng sớm đã đan cài Lối nhỏ sao yên tĩnh Thầm thĩ lời cỏ hoa
Chim rừng vui quần tụ Mặt nước rũ bụi trần
Trong thinh không vũ trụ Chuông mõ điểm lòng thiền...
2.
Ban
mai thăm cổ tự Nắng sớm đã đan cài Lối nhỏ sao yên tĩnh Thầm thĩ lời cỏ hoa
Chim rừng vui quần tụ Mặt nước rũ bụi trần
Trong thinh không vũ trụ Chuông mõ điểm lòng tu.
(Lê Hà Ngân dịch)
Thú điền viên,
thuật dưỡng sinh của cổ nhân
Khi bước vào độ tuổi năm mươi, tôi đã thèm thú điền
viên. Mặc dù sinh ra ở thành phố, nhưng tôi có
hơn chục năm sống ở quê trong độ tuổi học trò. Sau này, về lại phố sống, bận mải lập thân lập
nghiệp, thảng đâu đó hằng ngày, nếp sống quê vẫn ẩn hiện trong tiềm thức. Khi
càng dần cao tuổi, thú điền viên cũng ngày một đậm thêm trong kí ức... Nay thì
đã thấy thèm một mảnh vườn quê, có trồng ít cây ăn quả, mấy luống rau, vài bầy
gà, đôi con mèo, con chó nuôi làm
vui, theo kiểu " tự túc tự cấp"
đã dần hiển hiện. Giờ cũng có gọi là
một mảnh vườn quê be bé, dựng được ngôi thừa tự, tiếc là không đủ rộng để trồng
rau, nuôi gà, nuôi chó... Dẫu sao,
như thế cũng tạm bằng lòng.
Chẳng thế mà người xưa, biết bao bậc cao nhân quân tử,
lúc về già, cũng thỉ mong có vậy. Không những thế, Mã Đái (nhà thơ đời Đường), trong bài thơ Quá dã tẩu cư, còn xem đó là thuật dưỡng sinh của người già...
Qua tìm hiểu được biết: "Mã Đái 馬戴
(775-?) tự Ngu Thần 虞臣, nay thuộc Thiểm Tây
(có nơi nói thuộc Hà Bắc, hoặc Giang
Tô), đỗ Tiến sĩ năm Hội Xương thứ 4. Đầu năm Đại
Trung đời Tuyên Tông, làm Tịch chưởng thư kí cho Lý Tư Không 李司空
ở Thái Nguyên, dùng lời ngay thẳng bị biếm làm Long Dương
uý. Cuối năm Hàm Thông đời Ý Tông làm Tá đại đồng quân mạc, cuối cùng làm đến
Thái học bác sĩ. Thơ một tập, nay được biên thành 2 quyển".
Cùng với Quá dã
tẩu cư, Mã Đái được người yêu thơ Đường ở Việt Nam biết đến là: Bá thượng thu cư, Lạc nhật trướng vọng, Sở
giang hoài cổ, Xuất tái từ...
Ø Bản chữ Hán:
過野叟居
野人閒種樹,樹老野人前。居止白雲內,漁樵滄海邊。呼兒采山藥,放犢飲溪泉。自著養生論,無煩懮暮年。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Quá dã tẩu cư
Dã nhân nhàn chủng thụ, Thụ lão dã nhân tiền.
Cư chỉ bạch vân nội,
Ngư
tiều thương hải biên. Hô nhi thái sơn dược, Phóng độc ẩm khê tuyền. Tự trước dưỡng sinh luận,
Vô phiền ưu mộ niên.
Ø Dịch nghĩa:
Qua thăm nhà lão quê
Người quê nhàn rỗi thì trồng
cây lưu niên Giờ cây cũng đã già cùng người quê rồi
Ngay nơi ở có mây trắng bay
Ngư phủ, tiều phu về bên biển Bảo
con đi hái thuốc trong núi
Chăn thả trâu nơi khe suối
Tự mình làm
ra thuật dưỡng sinh Chẳng bận ưu phiền lúc tuổi già đến,
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Người quê trẻ thích trồng cây
Trải qua năm tháng,
đến nay cùng già Ngày ngày mây
trắng bay qua
Ngư Tiều về chốn biển xa cuối trời Thuốc hay vào núi hái phơi
Thả trâu khe suối bời bời cỏ xanh Tự mình nghĩ phép dưỡng sinh
Tuổi già kéo đến - xem khinh ưu phiền.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
1.
Quê
nhàn trồng cổ thụ Người với cây cùng già Củi cá đầy rừng biển Trời mây ngay
nóc nhà Thuốc cần, non có sẵn Trâu thả, suối không xa
Thuật dưỡng sinh mình tạo
Thong dong tuổi xế tà.
2.
Người quê nhàn nhã trồng cây
Cây thành
cổ thụ người nay cũng già
Ở nơi mây trắng la đà
Quăng chài, kiếm củi chẳng xa biển rừng Thuốc hay, vào núi hái cùng
Suối trong, trâu thả ung dung bên bờ Dưỡng sinh mình tự chăm lo
Sống vui đến tuổi bạc phơ mái đầu.
(Nguyễn Hữu Thăng
dịch)
Nông nhàn gieo hạt giống lưu niên Kết bạn cùng cây bác bón điền
Cội rễ mây vờn vui với lá
Ngư
tiều biển gọi sống cùng biên Thay già kiếm dược con leo núi Thế trẻ chăn ngưu
lão lội ghềnh Tự tại thư nhàn kia thuật dưỡng Tâm an chẳng gợn chút ưu phiền.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Rảnh việc lại trồng cây
Cùng già tỏa bóng dày Đỉnh đầu mây trắng
tụ Bên biển củi cá đầy Núi lớn con hái thuốc Khe sâu trâu thả bầy
Giữa thiên nhiên vui sống
Nhà lão cảnh Tiên đây.
(Trần Khẩu dịch)
Tư Không Thự & Giang thôn tức sự
Ngày nhỏ, tuy sinh ra ở thành phố, song tôi có một thời
gian dài sống và học ở quê (Hưng Yên), làng cách Hà Nội chưa đầy ba chục cây số.
Quê tôi, một làng quê điển hình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, làng cổ, chùa cổ,
nép theo triền một con sông nhỏ, nhiều ao chuôm, đường làng lát gạch nghiêng và
dày đặc lũy tre, cánh đồng thì rất rộng, cao trũng đều có cả. Ngày ấy, tôi rất
mê khoản câu cá và kéo vó tôm, nhất là khi mùa mưa lũ,
nước sông Cái (sông Hồng) đổ về cuồn cuộn ngầu đỏ phù sa. Dân làng tuy còn
nghèo song cảnh sắc làng quê thập đẹp và nên thơ lắm. Tất cả bầu không gian
làng mạc ấy đã nuôi dưỡng lòng yêu thi ca văn học nơi tôi. Giờ đây, đã là phố nửa
làng, những giá trị văn hóa cũ mai một nhiều, trong khi những giá trị mới thì
chưa thành... Nghĩ mà buồn, nhiều khi lại tự hỏi lòng, rằng "bao giờ cho đến ngày xưa"?
Sao mà thèm cái cảnh trong thơ "Giang thôn tức sự"
của Tư Không Thự làm vậy.
Tư Không Thự 司空曙 (720-790), tự Văn Minh, quê nay thuộc tỉnh Hà Bắc,
Trung Quốc, thi nhân đời Đường. Ông là một trong Đại Lịch thập tài tử.
Theo ghi chép của Diêu Hợp thời Đường trong sách Cực
Huyền tập thì Đại Lịch thập tài tử đời
Đường gồm có Lý Đoan, Lư Luân, Cát Trung
Phù, Hàn Hoành, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Miêu Phát, Thôi Động, Cảnh Vi, Hạ Hầu Thẩm. Đây là những nhà thơ
chủ trương thơ ca hoa mĩ, điển nhã, xướng họa... trong khi, nhiều nhà thơ Đường
nổi tiếng như Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ... lại chủ trương phản ánh hiện thực đời sống
xã hội, dân sinh thời ấy...
Ø Bản chữ Hán:
江村即事
罷鈞歸來不係船,
江村日(月) 落正堪眠。縱然一夜風吹去,
只在蘆花淺水邊。
Bản chữ Hán, có một từ chép khác nhau, ấy
là: nhật lạc (hoặc nguyệt lạc); bản nào chính xác thì chưa rõ, song dịch
nghĩa thì đều hiểu ý là trời đã tối rồi.
Ø
Bản âm Hán Việt:
Giang thôn tức sự
Bãi điếu quy lai bất hệ thuyền,
Giang thôn nhật (nguyệt)
lạc chính kham miên.
Túng nhiên nhất dạ phong xuy khứ,
Chỉ tại lô hoa thiển thủy biên.
Ø Dịch nghĩa:
Chuyện xóm ven sông
Câu xong trở về chẳng cần buộc thuyền
Xóm làng tối lắm rồi (mà mình) thì buồn ngủ Nhỡ ra đêm nay gió có thổi trôi thuyền
đi Cũng chỉ dạt đâu đó bờ lau cạn kia thôi.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Câu
xong chẳng muốn buộc thuyền Đêm buông - cơn ngủ đến liền bên mi Cho dù gió thổi thuyền đi
Chỉ loanh quanh
giữa bốn bề hoa lau.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Chẳng phải lăn tăn néo buộc thuyền
Buông chèo vội rẽ mái nhà yên
Thôn quê gió động thuyền nghiêng
ngửa Cũng chẳng đâu xa vẫn bến nhà.
(Kiều Thiện
dịch)
Thuyền câu rã cuộc chẳng buông neo
Lỡ giấc xóm khuya đã ngủ khoèo Đêm trôi mặc kệ xuồng theo gió Cũng dạt bờ lau bởi vắng chèo.
(Sáu Miệt Vườn-Võ Văn Chánh dịch)
Câu xong ta trở về làng
Cái thuyền
để đó buộc thuyền làm chi
Trăng thôn lạc bước đường về
Mình thì buồn ngủ xóm thì tối om
Đêm khuya gió có lên cơn,
Bờ lau thuyền cũng dạt quanh
thôi mà.
(Nguyễn Vạn An phỏng dịch)
Thuyền câu chẳng buộc nữa đâu
Đêm buông
buồn ngủ trong đầu thật nhanh
Lo
chi thuyền phải chòng chành Dẫu là gió thổi loanh quanh lau bờ...
(Lê Hà Ngân dịch)
Hết buổi câu về chả buộc ghe
Đêm buông
xóm tối muốn ngơi ghê Cần chi phải sợ ghe trôi mất
Luẩn quẩn quanh đây dạt một bề.
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Giang thôn trăng lặn cập thuyền
câu Buồn ngủ kéo về sao nhãng neo
Đêm nhỡ gió lùa thuyền có dạt
Cũng là đâu đó phía bờ lau.
(Phan Lan Hoa dịch)
Ngày câu nhấp nhổm mỏi nhừ rồi Đêm xuống mi chùng hãy ngủ
thôi Thuyền mặc trôi theo luồng
gió dạt Bờ lau bãi cạn vẫn là
nơi.
(Trần Khẩu dịch)
Thuyền
câu xong về đâu cần neo Thôn trang tối mịt mắt liu riu Dẫu thuyền
bất chợt dạt theo gió Quanh bờ lau cạn chẳng cần lo.
(Trương
Thị Mầu dịch)
Câu xong về bãi chẳng buộc thuyền Trăng buông
bên sông thôn say ngủ Đêm về gió lùa thuyền trôi dạt
Đâu đó lạc bến lau lách nước cùng thuyền.
(Ngô Minh Vương dịch)
Câu mệt về khuyêa nhác buộc thuyền
Mắt buồn muốn ngủ cũng đành yên Sóng xô dẫu có trôi đâu đó
Cũng chỉ bờ lau...
chẳng thoát thiên.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch).
Vi Ứng Vật - U nhân ưng vị miên...
Năm nay 2013, tiết ngâu muộn, mưa suốt tháng bảy, kéo
sang đầu tháng tám. Khi trời hửng, nắng đã rõ tiết thu. Ừ, mà tiết Trung Thu đến
nơi rồi. Hơi thu rõ nhất là lúc nửa đêm về sáng, trong cái se lạnh tĩnh lặng của
đất trời. Nơi phố thị, có được sự tĩnh lặng không phải dễ. Song lúc trở mình chợt
tỉnh canh khuya, lắng nghe, gạn lọc, ta có thể bắt gặp được những thanh
âm bí ẩn của đất trời lúc
chuyển mùa. Rồi, có thể ta khó ngủ lại. Thức thì sinh nghĩ ngợi. Nhưng mà, có kể
chi, cứ miên man nghĩ, biết đâu, ta lại ngộ được những điều thú vị, mới mẻ; hoặc giả, có những điều bấy
lâu tưởng phức tạp, khó lí giải, khó xử, giờ đây lại hiển hiện rõ ràng, giản dị,
minh triết...
Vi Ứng Vật, thi sĩ đời Đường, trong bài thơ Thu dạ kí Khâu viên ngoại, đã thấu tỏ điều này, nên viết: "Không
sơn tùng tử lạc/ U nhân ưng vị miên."...
Về tiểu sử: Vi Ứng Vật là người Trường
An (nay là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây). Đời Đường Huyền Tông, ông được bổ
làm chức Tam vệ lang, được ra vào cung cấm. Sau ông thi đỗ Tiến sĩ, được cử làm Thứ sử
Trừ Châu, Giang Châu, rồi Tô Châu; được dân chúng rất mến
phục. Năm 792 (hoặc 793?), đời Đường Đức Tông, Vi Ứng Vật mất, lúc ấy ông khoảng
55 tuổi. Sinh thời, tính ông chuộng
nghĩa hiệp, có lúc cuồng phóng, nhưng cũng rất cao khiết, mỗi lần đi đến đâu,
ông cũng cho quét sạch đất, đốt hương
rồi mới ngồi. Ông không thích giao du rộng, bạn thơ chỉ có Lưu Trường Khanh, Cố
Huống, Thích Hiệu Nhiên; và ông thường ví mình với Đào Tiềm.
Cùng với bài thơ Hữu
sở tư, bài thơ Thu dạ kí Khâu viên ngoại là những bài thơ nổi tiếng của Vi Ứng Vật:
Ø Bản chữ Hán:
秋夜寄丘員外
懷君屬秋夜,散步詠涼天。空山松子落,幽人應未眠。
Ø Bản âm Hán Việt:
Thu dạ kí Khâu viên
ngoại
Hoài
quân thuộc thu dạ Tản bộ vịnh lương thiên
Không sơn tùng tử lạc
U nhân ưng vị miên.
Ø
Dịch nghĩa:
Đêm thu gửi viên ngoại họ Khâu
Nhớ bạn thường
vào lúc đêm thu,
Tản bộ gặp trời đẹp lòng những muốn ngâm vịnh, Núi vắng (đến nỗi) nghe rõ tiếng quả thông rụng, Người đi lánh đời lại hay
khó ngủ,
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Đêm
thu nhớ bạn nỗi niềm mang Cảnh đẹp thong
dong gởi mấy hàng
Vách đá thông rơi vang tiếng khẽ Thức hồn day dứt bụi trần gian.
(Khuyết danh)
1.
Đêm thu thường nhớ tri âm,
Những ngày trời đẹp muốn ngâm thơ nhàn.
Trái thông rụng giữa non ngàn, Lánh đời mà cứ mơ màng năm canh.
2.
Đêm
thu nhớ bạn hiền Ngày ngâm ngợi cảnh tiên Núi vắng quả thông rụng Ước một giấc
cô miên.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Lẻ
bước rừng thu khuya Tri âm hoài khúc vịnh Thông rụng vào u mịch Trằn trọc đường chân tu.
(Phan Lan Hoa dịch)
Đêm
thu thương nhớ bạn hiền Nhẹ chân tản bộ lạc miền trời say
Mình ngâm vịnh, một mình hay
Tiếng thông rơi giữa đồi cây vắng người
Vấn vương chi với cuộc đời?
Mà không ngủ được, mình tôi...
một mình...!
(Nguyễn Trọng Liên phỏng dịch)
Núi vắng đêm thu
Đêm thu bỗng nhớ chàng
Trời đẹp thèm ngâm vịnh Chỉ thông rơi núi vắng Lánh đời ngủ
sao đang!
(Nhược Mộng dịch)
Đêm thu thường nhớ bạn hiền
Một mình ngâm vịnh với miền đơn côi Thông rơi núi vắng bóng người
Đêm dài thao thức lánh đời chẳng yên!
(Đặng Đình
Nguyễn dịch)
1.
Đêm lạnh thu, nhớ tri âm
Bộ hành trời đẹp muốn ngâm đôi lời Rừng vắng tiếng quả thông rơi
Ngủ chẳng
được - Lúc lánh đời?...
Ta ơi...
2.
Đêm thu nhớ bạn - nỗi niềm riêng
Đồi vắng trái thông
rụng, rơi nghiêng
Tản
bộ trời trong thèm ngâm vịnh Lánh đời. Khó ngủ?...
Khúc-niệm-thiêng.
(Nguyễn Vĩnh Tuyền dịch)
Đêm
thu nhớ bạn hiền Giục hồn thơ - cảnh
tiên Núi vắng, nghe thông rụng Lánh đời. Ngủ không yên?
(Phạm Trung
Dũng dịch)
Xuân phong hoàn vị khởi vi ba
Năm nay, mấy ngày tết Bính Thân, thời tiết đẹp. Lạnh
khô, nắng nhẹ. Rồi ra, trời ấm dần lên. Khi có cảm giác nắng nồm khó chịu thì một
đợt gió mùa đông bắc mới tràn về. Sau kì nghỉ tết dài, ngày mồng 8 trở lại nhịp sống thường ngày. Sớm đi làm ngày đầu
của năm mới, chạy xe ngang qua hồ Bảy Mẫu, Ba Mẫu (Hà Nội), gió mùa lạnh tạt
vào mặt, ngó ngang bên thấy hồ Bảy Mẫu mặt nước gợn sóng lăn tăn... Chợt nhớ đến
một câu thơ của Ôn Đình Quân đời Đường
trong bài thơ Xuân nhật ngẫu tác, ấy là "Xuân phong hoàn vị khởi vi ba" (hiểu nghĩa: Chăng là gió xuân lại thổi làm dợn sóng lăn
tăn). Ôi, người xưa ngẫu hứng xuân đến vậy, thật khó có gì bằng...
Ôn Đình Quân 溫庭筠
(812-870), tự Phi Khanh飛卿, sống vào thời Vãn Đường, người Thái Nguyên (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của Tể tướng Ôn Ngạn Bác 溫彥博.
Ông vốn tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi
danh, thi cử sớm nhưng không đỗ, nên thích đi ngao du đây đó. Thơ ca
ngôn từ của ông lời rất đẹp, nên hậu thế
đánh giá ông khá cao. Tác phẩm của Ôn Đình Quân có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tứ tán thất lạc hết, nay
không còn mấy...
Ø Bản chữ Hán:
春日偶作
西園一曲艷陽歌,擾擾車塵負薜蘿。自欲放懷猶未得,不知經世竟如何。夜聞猛雨拌花盡,寒戀重衾覺夢多。釣渚別來應更好,春風還為起微波。
Ø Bản âm Hán Việt:
Xuân nhật ngẫu tác
Tây viên nhất khúc diễm dương ca,
Nhiễu nhiễu xa trần phụ bệ la.
Tự dục phóng hoài do vị đắc, Bất tri kinh thế cánh như hà.
Dạ văn mãnh vũ phan hoa tận,
Hàn luyến
trùng khâm giác mộng đa. Ðiếu chử biệt lai ưng cánh hảo,
Xuân phong hoàn vị khởi vi ba.
Ø Dịch nghĩa:
Ngày xuân ngẫu tác
Vườn mé tây (ai đó) hát khúc ca xuân,
Xe chạy
tung bụi mù bám vào bụi cây bệ la Lòng muốn phóng túng tùy hứng mà chưa được
Không biết rồi cuộc đời này sẽ sao đây
Đêm nghe
mưa rào (biết) rụng hết cả hoa Trời lạnh nhớ mền ấm, giấc đẫy chiêm bao
Bến câu, lâu chưa trở lại, giờ chắc gì còn là nơi tốt đẹp Chăng là gió xuân lại thổi làm dợn
sóng lăn tăn.
Ø Một số bản dịch của người yêu thơ Đường:
Vườn tây ai hát khúc xuân tình
Xe lao tung bụi phủ cây xanh
Chờ
hứng lên cao mà chửa tới Chẳng biết sự đời bại hay thành Mưa suốt đêm qua hoa rụng
cả Ước ao mền ấm giấc mộng lành Bến câu xưa chắc giờ vẫn đẹp Gió xuân thổi gợn sóng long lanh.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Vườn
tây lảnh lót vẳng lời ca Xe chạy bụi mù nhuốm bệ la Chợt hứng lòng ta vần chửa rõ
Tỏ sao thế sự ý chăng là...
Đêm mưa hạt nặng hoa rời rã Khí lạnh chăn trùm mộng trỗi òa
Câu cá nơi xưa còn bãi tốt?
Gió xuân gợn nổi sóng lan xa.
(Trần Khẩu dịch)
Du dương
ai hát mé vườn tây Xe chạy mịt mù bụi bám cây
Lòng muốn thênh thang
chưa được nhỉ
Đời còn dằng dặc sẽ sao đây
Đêm khuya mưa xuống
bông hoa nát Trời lạnh chăn ôm giấc mộng đầy
Xa
cách bến câu, giờ chắc đẹp Lăn tăn sóng gợn gió xuân bay.
(Nguyễn Hữu Thăng dịch)
Tây vườn ai hát khúc ca xuân
Xe chạy cành la bụi bám thân
Tùy hứng lòng mong mà chửa được Suy tư cuộc sống sẽ xoay vần?
Mưa rào vùi dập ngờ hoa rụng Khí lạnh xui lòng nhớ ấm chăn
Phải bến câu xưa nay vẫn đẹp? Gió xuân vờn nhẹ sóng lăn tăn...
(Trần Mỹ Giống dịch)
Cổ du du hành,
cảm
quan vũ trụ của Thi Quỷ
Người được mệnh danh là Thi Quỷ (đời Đường), ấy là Lý Hạ.
Cổ nhân từng nhận định rằng, cơ trời đã khéo sắp đặt cho bốn thi nhân thiên tài
ấy: Phật, Tiên, Thánh, Quỷ để cùng hội tụ trong một thời đại vương quyền (Nhà
Đường)...
Qua tìm hiểu, được
biết: "Thi Quỷ Lý Hạ 李賀 (790- 816), quê ở Xương Cốc, Hà Nam, trung Quốc, thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường, cực kì thông minh đĩnh ngộ, mới lên bảy đã biết làm thơ. Danh sĩ
đương thời là Hàn Dũ nghe tiếng Hạ bèn cùng Hoàng Phủ Thực đến nhà. Hai người
muốn thử tài nên bắt Hạ làm thơ. Hạ thản nhiên cầm bút viết ngay bài Cao hiên quá trình lên, hai ông xem xong đều kinh hoảng. Bài thơ Cao hiên quá có những câu vô cùng kì dị, nếu đúng là do một cậu bé làm ra như giai
thoại được kể trong Thái bình ngự lãm thì hai nhà thơ đương thời có kinh tâm động phách cũng là
điều dễ hiểu: Điện
tiền tác phú thanh ma không/ Bút bổ tạo hoá thiên vô công... (hiểu nghĩa là: Trước nhà, làm thơ trình, thanh âm của bài
thơ chạm vào bầu trời/ Ngọn bút bổ sung những chỗ khiếm khuyết bất toàn của tạo
hoá một cách dễ dàng, không tốn chút công)...
Nếu đọc bài thơ Tràng Giang của Huy Cận, người ta
đã hết lời khen về cảm quan vũ trụ bao la, thì không biết, khi đọc Cổ du du hành của Lý Hạ,
sẽ thấy cảm quan về vũ trụ của ông đến
nhường nào...
Ø
Bản chữ Hán:
古悠悠行
白景歸西山,碧華上迢迢。古今何處盡,千歲隨風飄。海沙變成石,魚沫吹秦橋。空光遠流浪,銅柱從年消。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Cổ du du hành
Bạch cảnh quy Tây sơn,
Bích hoa thượng thiều
thiều. Cổ kim hà xứ tận,
Thiên tuế tùy phong phiêu.
Hải sa biến thành thạch, Ngư mạt hấp Tần kiều.
Không quang viễn lưu lãng,
Đồng trụ tòng niên tiêu.
Ø
Dịch nghĩa:
Bài hành Thiên cổ mang mang
Mặt trời đã lặn về núi Tây
Bầu trời
đêm thì quá mênh mông Đâu là cùng tận của xưa và nay đây? Ngàn năm bay theo cánh gió
Cát biển thì đã hóa đá
Cá đang đớp bọt ở dưới cầu Tần, Thời gian trôi đi thật chóng
vánh
Trụ đồng rồi tiêu tan dần theo tháng năm.
Ø
Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Mặt trời đã xế đổ về tây
Đêm đến mênh mông bóng phủ dày
Chẳng biết xưa-nay đâu điểm tận Mà tường muôn thuở gió còn bay Cát vàng bãi biển
thời hóa đá
Cá bạc cầu Tần đớp bóng mây
Thấm thoát
thời gian trôi chóng vánh Trụ đồng năm tháng cũng mòn phai.
(Miền Mây Trắng-Cao Tỵ dịch)
Núi Tây mặt trời lặn
Trời đêm quá mênh mông
Xưa nay đâu cùng tận?
Ngàn năm theo gió tung
Hóa đá rồi cát biển
Cá
đớp dưới cầu Tần Thời gian trôi chóng vánh
Tháng năm tan trụ đồng.
(Trần Mỹ Giống dịch)
Ác lặn chìm dần phía núi Tây
Bóng đêm tràn ngập chín tầng mây Hai chiều kim cổ vô cùng tận
Vạn thuở xưa giờ tựa gió bay Cát
biển triệu năm thì hóa đá
Cá sông đớp bọt vẫn còn đây
Thời gian - vó ngựa qua song cửa
Trụ sắt tiêu tan cũng có ngày.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Vầng
dương về núi ngủ Vũ trụ quá mênh mông Vạn thuở đâu cùng tận Ngàn năm theo gió bồng.
Cát trên bờ hóa đá
Cá dưới cầu đùa sông Ngày lướt qua như gió Thời gian tiêu trụ đồng.
(Thái Xuân Nguyên dịch)
Chiều
buông ráng đỏ phía non tây Lãng mạn đêm say bóng nguyệt đầy Tạo hóa xoay vần thay cũ mới Thiên nhiên biến đổi thế xưa nay Nhìn trên
bãi biển sa thành đá Ngắm dưới cầu Tần cá đớp mây Cảnh vật mơ hồ trôi dĩ vãng
Cột đồng thuở ấy chẳng
còn đây.
(Hương Đất Bãi-Trần
Bài dịch)
Bóng
ác ngả về tây Trời đêm đã phủ dày Xưa nay đâu cuối tận
Gió cuốn nghìn năm bay Cát biển đà thành đá Cầu Tần cá xoãi
vây
Thời gian trôi chóng vánh
Đồng trụ rữa theo
ngày.
(Sáu Miệt Vườn-Võ
Văn Chánh dịch)
Độ Hán giang,
nỗi niềm quê của Lý Tần
Tôi có khoảng chục năm sống và đi học phổ thông ở quê. Quê tôi, một làng quê điển hình của
vùng đồng bằng Bắc Bộ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, còn xưa kia, thuộc trấn Kinh Bắc.
Nếp sống, tập tục là của vùng Kinh Bắc. Dù không còn đất hương hỏa do cụ kị xưa
để lại, ở quê, tôi vẫn còn chút đất cắm dùi, là do
thời chiến tranh chống máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc, bố mẹ tôi về quê bỏ tiền
mua lại một mảnh đất ở giữa làng. Sau này, lập nghiệp thành phố, cha mẹ khuất
núi đều chôn cất tại quê, nên năm dăm ba lần về quê thăm vườn cũ, thắp hương cho cha mẹ ông
bà. Thêm nữa, về họ hàng ở
quê, nhà tôi là ngạch trưởng, bản thân phải đóng vai ông trưởng chi họ. Thôi
thì, có đi đâu thì cũng phải thủ lễ ngày giỗ cụ tổ chi họ... Đi xa, lâu lâu mới
về làng, lại chớp nhoáng đảo nhoàng, nên cái gì cũng lạ. Quang cảnh, nhà cửa,
sông ngòi nay ít nhiều đổi khác, song không mấy ngại. Điều đáng ngại nhất, là gặp
người làng mình, mà cứ như người xa lạ. Người ta biết mình, chào mình, mà mình
lại chẳng thể nhớ, chẳng thể thuộc mặt thuộc
tên họ là ai... Gặp người quen thì chào trước,
được chào thì chào lại, giữ lễ là chính thôi. Lâu lâu, có người
làng hay chuyện, tự giới thiệu họ là ai, con cái nhà nào trong làng... Mình thì khi biết, khi không, đành gật đầu
vâng dạ cho qua chuyện... Thật ái ngại làm sao.
Thế nên, với tâm trạng này, tôi từng bình bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương,
cũng là để tự nhủ lòng mình. Bài thơ ấy có câu rằng "Nhi đồng tương kiến bất tương thức/ Tiếu vấn khách tòng hà xứ
lai”. (Nghĩa là: Trẻ con ở làng trông
thấy mình nào biết mình là ai/ Chúng cười hỏi, rằng khách từ nơi đâu đến đây)....
Song như vậy, khả dĩ vẫn còn được. Chứ đằng này, Lý Tần, trong bài thơ Độ Hán Giang của mình, mức độ e ngại còn
hơn nhiều; những là "Cận hương tình
cánh khiếp,/Bất cảm vấn lai nhân", kia mà!
Nay, tranh thủ kì nghỉ lễ, tôi về quê. Đi trên đường
làng, vẫn cái tình cảnh ấy, tâm trạng ấy. Mai kia, tôi bận chút việc sân vườn,
nhà cửa ở quê, hẳn sẽ hay phải về quê hơn. Ô, may mà, đã có cái nhà ông Lý Tần,
sống từ thời Đường, giãi bày hộ tâm trạng mình rồi.
Ø Bản chữ Hán:
渡漢江
嶺外音書絕,經冬復立春。近鄉情更怯,不敢問來人。
Ø
Bản âm Hán Việt:
Độ Hán giang
Lĩnh
ngoại âm thư tuyệt, Kinh đông phục lập xuân. Cận hương tình cánh khiếp,
Bất cảm vấn lai nhân.
Ø Dịch nghĩa:
Qua sông Hán
(Ra) ngoài đất Lĩnh, thư tín vắng bặt Hết mùa đông lại đến tiết lập xuân
Cứ đến gần làng,
lòng những luống e ngại Chẳng dám hỏi ai cả khi gặp người.
Ø Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
Ra ngoài đất Lĩnh bặt tin
Hết mùa đông lại tiếp liền đến xuân Về quê lòng những ngại ngần
Gặp người
chẳng biết hỏi han điều gì.
(Hoa Mai Trần Thị Thìn dịch)
Xa
đất Lĩnh bặt thư Bao đông qua xuân lại Vào thôn lòng e ngại
Gặp người chẳng
dám thưa.
(Phan Lan Hoa dịch)
Ngũ Lĩnh xa, thư cũng xa...
Tàn đông, hoa lại mặn mà cùng xuân Về làng, ngần ngại bước chân
Gặp người, lòng cứ bần thần... chào,
thưa!
(Nguyễn Trọng Liên dịch)
Biệt vô âm tín quê nhà
Đông tàn xuân lại quê cha lại về Ngại ngần chân bước lòng e
Gặp người lòng ngợ tình quê xao lòng,
(Giác Minh Nguyễn Đình Diệm dịch)
Xa quê vắng bặt tin nhà
Đông qua Xuân tới những là nhớ mong
Ngày về lòng biết sao đang
Hỏi ai, ai hỏi ngổn ngang tơ lòng.
(Mai Trinh
dịch)
MỤC LỤC
Chỉ là chuyện
rong chơi.................................................... 5
Cuộc đời là giấc mộng lớn................................................ 9
Đối thử thạch thượng
nguyệt, phong thái Lý Bạch........... 21
Mỹ cảm nguyệt tửu của Lý Bạch...................................... 27
Nhớ bạn, đọc Tống hữu nhân của Lý Bạch...................... 31
Cúi đầu nhớ cố hương.................................................... 38
Độc Lý Bạch thi tập của Trịnh
Cốc................................... 42
Thu giang
tống khách, nỗi sầu muôn thuở...................... 47
Bạch Cư Dị bịn rịn với xuân............................................ 55
Thảo, nhân sinh triết lí Bạch Cư Dị................................. 62
Mãn phát tự thành
ti, triết lí đời của Đỗ Phủ................... 69
Đỗ Phủ &
thơ tuyệt cú.................................................... 77
Đỗ Phủ &
nỗi buồn chiến
tranh...................................... 82
Dã vọng &
cõi lòng Đỗ Phủ............................................. 86
Điểu minh
giản, tâm sự của Vương Duy.......................... 91
Tiễn bạn, đọc Tống biệt của Vương Duy.......................... 96
Bức tranh tuyết
sơn của Lưu Trường Khanh................ 101
Lưu Trường Khanh,
người theo đuổi
sự tinh tế............. 106
Cảm nhận thu, tinh tế Lưu Vũ
Tích............................... 112
Xuân hiểu, một cách hiểu.............................................. 116
Cảm quan lịch sử của Mạnh Hạo Nhiên......................... 123
Tảo hàn hữu hoài
của Mạnh Hạo Nhiên........................ 129
Sầm Tham, tương kiến dã y y..................................................... 137
Sầm Tham, nỗi tha hương vời vợi,................................ 142
Thiền, tâm sự kiếp ve & nỗi lòng Lý Thương Ẩn............ 146
Lý Thương Ẩn, Tiêu sầu hựu kỷ thiên..................................... 152
Tất cánh thị thùy xuân.................................................................. 160
Cốc khẩu thư trai, thú nhàn cư của cổ nhân.................. 163
Trúc tiết, tâm niệm
của Tiền Khởi................................. 170
Giang tuyết, tuyệt bút của Liễu Tông Nguyên................ 176
Hoa đào năm ngoái còn cười gió
đông.................................... 183
Hành cung, tuyệt bút của Nguyên
Chẩn........................ 188
Hồi hương
ngẫu thư, nếp quê khó đổi........................... 194
Hoàng Hạc Lâu, lâu đài thi ca tự cổ chí kim................... 198
Hoa Thanh cung, luyến giấc mộng ngàn xưa.................. 204
Kim lũ y, tác phẩm của nữ sĩ duy nhất thời
Đường........ 210
Lương Châu
từ - Khúc bi tráng về chiến tranh............... 215
Lữ tức, nỗi tha hương của Đỗ Mục................................ 220
Phong Kiều dạ bạc, làm nên tên tuổi Trương Kế........... 226
Ngẫu hứng xuân
của người xưa.................................... 233
Sen & người................................................................. 239
Nhân được tặng bức thư họa Tầm ẩn giả bất ngộ
của Giả Đảo.................................................................. 244
Thiền phòng hoa mộc thâm.......................................... 247
Thú điền viên, thuật dưỡng sinh của cổ nhân............... 254
Tư Không Thự & Giang thôn tức sự.............................. 260
Vi Ứng Vật - U nhân ưng vị miên............................................... 266
Xuân phong hoàn vị khởi vi ba..................................... 272
Cổ du du hành, cảm quan vũ trụ của Thi Quỷ................ 277
Độ Hán giang, nỗi niềm quê của Lý Tần........................ 283
CÙNG MỘT TÁC GIẢ
Tác phẩm đã xuất bản:
- Đêm nguyệt thực - Truyện ngắn - Nhà xuất bản Hà Nội, 1993
- Vĩnh biệt những mùa trăng
- Truyện ngắn - Nhà xuất bản Hà Nội, 1995 .
- Tổ ấm chim câu - Truyện ngắn - Nhà xuất bản Lao Động, 1999.
- Công cống mùa thu - Tản văn - Nhà xuất bản Kim Đồng, 1999.
- Hoa tầm xuân - Truyện ngắn - Nhà xuất bản Hội
Nhà văn, 2003
- Lên núi tầm mai - Tản văn& Chân dung văn học -
Nhà xuất bản Văn học, 2005 .
- Những người thắp lửa - Tiểu luận & Chân dung
văn học - Nhà xuất bản Văn học, 2009 .
-
Chút thu - Thơ - Nhà xuất bản Văn học, 2011.
- Trúc nguyệt - Truyện ngắn - Nhà xuất bản Lao Động, 2012.
-
Hiên lan- Thơ- Nhà
xuất bản Văn học, 2013.
- Khi lòng ta chợt nhớ thu - Tản văn & bình luận văn học - NXB
Lao Động, 2014.
- Cho thu dùng dằng thêm chút nữa - Thơ - NXB Văn học, 2014.
- Một chiếc lá vàng động cả thu - Thơ - NXB Văn học,
2015.
- Ừ nhỉ, thật thu rồi đấy - Thơ - NXB Hội Nhà văn, 2016
-
Trời đất thu hay lòng ta thu- Chân dung văn học -
NXB Dân trí, 2016.
-
Chỉ lửa là rất thật -Thơ -NXB Hội Nhà văn-2017.
-
Lối thu - Ký sự - NXB Hội Nhà văn-2017.
- Rong chơi miền Đường thi - Tiểu luận, bình luận
văn học - NXB Hội Nhà văn - 2017.
Tác phẩm sắp xuất bản:
-
Thời gian không trở lại - Tản văn, ký sự.
-
Xương rồng khô đã lên xanh - Thơ.
Rong chơi miền Đường thi
NGUYỄN CHU NHẠC (Biên soạn)
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
65
Nguyễn Du - Hà Nội Tel & Fax: 04.38222135
E-mail: nxbhoinhavan@yahoo.com.vn http://nxbhoinhavan.net
Chi nhánh miền Nam
371/16 Hai Bà Trưng - Q3 - TP. HCM Tel & Fax: 08.38297915
Email: nxbhnv.saigon@gmail.com
Chi nhánh miền Trung và Tây Nguyên 277 - Trần Hưng Đạo - Thành phố Đà Nẵng
Tel: 0511.3849516
Email: nxbhnv.mientrungtaynguyen@gmail.com
Chi nhánh miền Tây Nam Bộ
314C - Hoàng
Lam - Thành phố Bến Tre
Tel: 075.3812736 - 016.998.083.86
Email: nxbhnvmekong@gmail.com
Chi nhánh NXB Hội nhà văn khu Đông Bắc
114 Phố Hải Phúc - phường Hồng Hải - TP Hạ Long - Quảng Ninh Tel: 090.3409142 - 091.4660592
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám
đốc - Tổng biên tập NGUYỄN QUANG THIỀU
Biên tập: Đào Bá
Đoàn Sửa bản in: Mai Hương
Trình bày bìa: Hải Nam Chế bản: Như
Loan
In … cuốn, khổ 13 x 20,5cm tại Công ty ...
Địa chỉ: …, TP. Hà Nội.
Số xác nhận đăng ký xuất bản: -2017/CXBIPH/-/HNV.
Quyết định xuất bản số: /QĐ-NXBHNV; ký ngày /…/2017. In xong và nộp lưu chiểu năm
2017.
Mã ISBN: 978-604-53-

Nhận xét
Đăng nhận xét