CHÂN DUNG VÕ HUY TÂM (nhuận sắc)

 

@@@

VÕ HUY TÂM –

không chỉ tiểu thuyết, còn có thơ…

 

1.     Phỏng vấn Võ Huy Tâm, người thật việc thật…

            Nhà văn Võ Huy Tâm là người được bạn đọc xứ mình sớm biết tên tuổi. Ấy là may mắn vớii mỗi người cầm bút, không riêng gì ông.  Nói đến ông là người ta nhớ ngay tác phẩm “Vùng mỏ” của ông, đơn giản bởi ngày trước, các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hay nông thôn khá nhiều nhưng về đề tài công nhân, công nghiệp hiếm lắm. Vậy nên, ngay từ khi ra đời, “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm không những được đông đảo bạn đọc đón nhận mà các nhà phê bình văn học cũng quan tâm nhắc đến trong những công trình nghiên cứu, phê mình văn học của họ.

            Biết đến tên tuổi và tác phẩm của ông từ hổi còn đi học, nhưng phải nhờ nghề báo, tôi mới có duyên gặp gỡ, không những thế còn trực tiếp phỏng vấn nhà văn Võ Huy Tâm. Năm ấy (1995), trước dịp Quốc khánh 2/9, tôi được phân công thực hiện một chương trình phát thanh chuyên đề thời lượng 45 phút nhằm kỷ niệm 50 thành lập nước. Tôi nảy ý tưởng làm phép so sánh đời sống của hai giai cấp cơ bản ở nước ta là nông dân và công nhân sau 50 năm (1945-1995) thông qua hai tác phẩm văn học là “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm. Ở đây, xin không nói đến nông dân qua “Tắt đen” mà chỉ nói về công nhân qua “Vùng mỏ”. Vậy là phải đi Quảng Ninh để hỏi chuyện nhà văn Võ Huy Tâm.

Mùa thu năm 1995 sao lắm mưa. Những cơn bão cuối mùa hoành hành ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Thị xã Hòn Gai và thị xã Cẩm Phả chìm trong nước và ngổn ngang đất đá, bùn vữa từ sườn núi trượt xuống. Nước vịnh Hạ Long, Bái Tử Long thường ngày trong xanh nên thơ là thế, cũng trở nên đen ngòm bởi than trôi và lốc lật chìm mấy xà lan than đậu trên vịnh. Vào một ngày như thế, nhóm chúng tôi (Nguyễn Chu Nhạc, phóng viên-kịch sĩ Nguyễn Huấn và phóng viên Trần Nhật Minh) đi Quảng Ninh. Qua phà Bãi Cháy, ngược dốc Bồ Hòn ghé tư gia nhà thơ Trần Nhuận Minh xin chỉ dẫn. Ông cho biết sau khi rời núi Võ Huy Tâm về sống ở thị xã Cẩm Phả nhưng không rõ địa chỉ cụ thể. Lại mò đến tư gia nhà thơ Trần Ngọc Tảo hỏi địa chỉ thì vợ nhà thơ tưng tửng không mấy thiện cảm: ”Ông ấy nhà tôi vừa ra khỏi nhà, nghe đâu đi rượu thịt cày với nhà văn Tô Ngọc Hiến”. Chán ngán thì chọt nhớ nhà văn Dương Hướng làm việc ở Hải quan Quảng Ninh bèn tìm đến ông, may sao nhàvăn Dương Hướng có địa chỉ chi tiết, chỉ dẫn cẩn thận, vội lao ngay đi Cẩm Phả dù trời đã trưa.  Ở vào thời điểm đó, ông không còn ở trong núi mà đã về sống cùng gia đình trong căn nhà lầu do Công đoàn các công ty than trích quỹ xây dựng tặng nhà văn. Ngôi nhà mà lúc đùa vui, ông gọi là cái chum bạc vài trăm triệu. Trời mưa đều hạt, cả thị xã Cẩm Phả đường sa ngập sũng, loanh quanh một hồi rồi cũng tìm được nhà ông. Trời đã qua trưa.

Thật may, Võ Huy Tâm có nhà nhà, hình như trước đó ông đã có rượu trong người, tiếp khách trong trạng thái ngà ngà. Ấy vậy, vì hiếu khách, ông cứ liên tục giục bà vợ cầm chai đi mua thêm rượu về mời khách. Ngoài trời thì đang mưa gió sầm sập, chúng tôi thấy ái ngại, phải can mãi ông mới chịu thôi. Nhìn dáng vẻ và sắc diện Võ Huy Tâm, tôi thấy sức khỏe ông giảm sút nhiều.  Và cũng cơn ngà ngà say, ông kể chuyện đời sống công nhân mỏ thời Pháp thuộc cơ cực thế nào, chuyện ông đi thực tế để lấy chất liệu viết tiểu thuyết “Vùng Mỏ” ra sao. Ông còn thuộc lòng và đọc cho chúng tôi nghe lời vè tràng giang đại hải mô tả đời sống vùng mỏ xưa. Tôi cầm mic trực tiếp phỏng vấn, Trần Nhật Minh điều chỉnh chiết áp máy ghi âm, còn Nguyễn Huân loay hoay tìm góc máy chụp ảnh bằng chiếc máy ảnh cũ kỹ của mình. Ngộ nhất, người ông gày lòng khòng, cổ ngẳng lại như “sợ” chiếc míc nên cứ ngửa đầu ra sau, còn tôi lo không đủ âm lượng nên  tịnh tiến chiếc míc gần miệng ông, ông càng ngửa đầu. Sau này xem lại bức ảnh phải bật cười như cảnh đánh vật vì người phỏng vấn hệt bức hiếp hỏi cung người trả lời. Say chuyện, ông kể cả chuyện ngày nhỏ ở quê hương Nam Định đã đi học chữ quốc ngữ ra sao, học trường dòng thế nào... Xong việc, trời đã sang chiều, cả nhóm đều đói lả, vôi chào chia tay để tìm một quán ăn kiếm miếng cho vào bụng  thì ông bảo “Hợm đã, chờ tớ chút”. Rồi ông lật đật lên gác và quay trở xuống, dúi vào tay tôi xấp giấy đánh máy chữ bảo: “Tớ có mươi bài thơ, tặng các cậu về đọc chơi cho vui nhớ… Các cậu thấy đấy, tớ không chỉ văn xuôi mà còn làm cả thơ”.

Tiếc là băng ghi âm cuộc trò chuyện ấy, anh em đồng nghiệp của tôi không còn giữ đến giờ... Riêng bản thảo đánh máy 10 bài thơ ông đưa tặng tôi hôm ấy thì hiện tôi vẫn giữ được... Thế nên, giờ tôi mới có cái để bàn,…

            2.… Và chút thơ gửi lại,,,,

           Cũng chính buổi gặp gỡ ấy, lần đầu tiên tôi biết đến ông không phải với tư cách là tác giả của những tiểu thuyết, truyện ngắn nổi tiếng một thời – “Vùng mỏ”, “Chiếc cán búa”, “Những người thợ mỏ”, “Gánh chèo mảnh”, “Rượu Chát”,... và nhiều tác phẩm văn xuôi khác, mà là một nhà thơ. Nhưng trước khi nói về thơ, tôi nghĩ cũng nên phảy chút về văn xuôi của Võ Huy Tâm. Tác phẩm “Vùng mỏ” không có gì để bàn về nghệ thuật tiểu thuyết, mà giá trị của nó nằm ở nội dung thuộc số ít tác phẩm viết về đề tài công nhân, công nghiệp ở thời điểm ra đời, nên gây được sự chú ý của bạn đọc và giới phê bình văn học nói chúng. Cùng với nó, các tác phẩm văn xuôi về sau của Võ Huy Tâm, có chuyện, có vấn đề nhưng ngôn ngữ nôm na, mộc mạc theo lối kể chuyện truyền thống. Thế nên, hầu như không có đóng góp gì đáng kể về nghệ thuật tiểu thuyết để bàn luận. Với Võ Huy Tâm, điều đáng quý là nhân cách trung thực của người cầm bút và tình thương yêu con người mà biểu hiện rõ nhất là một thời gian dài ông bỏ phố vào vùng núi Quảng Ninh chịu đựng thiếu thốn, kham khổ để dạy chữ cho các cháu lang thang cơ nhỡ thất học.

    Về thơ Võ Huy Tâm, chỉ có 10 bài thơ ông đưa tặng, với tôi, cũng đủ để khắc họa diện mạo một Võ Huy Tâm – thơ. Không hiểu ông còn những bài thơ nào khác hay không, hay chỉ có 10 bài vỏn vẻn được đánh số thứ tự từ I – X? Thơ Võ Huy Tâm lạ. Ông viết tuyệt đối không làm dáng, không giống một ai, không na ná như hàng trăm, hàng ngàn bài thơ – đau vờ, buồn vờ, yêu vờ, suy tư cũng vờ, nhan nhản trên các tờ báo hàng ngày. Ông viết đúng những gì ông nghĩ, chắt lọc. Bài số III (Hòn đá bên lều):
                    Bên lều một hóa thạch
                    Trong đá in hình cây
                   Trúc có riêng phong cách
                   Triệu năm đốt vẫn ngay.
           Bài số X (Cặp phạm trù đáng nhớ), ông viết:
                  ... Rừng đước dông không đổ
                  Nguồn nhâm nắng chẳng vơi
                  Gốc bền ở tại lòng ta cả!...
           Có khi, ông lại triết lý một cách trần trụi, như thể tự nói với mình, tự nhủ mình vậy:
                  Ngẩng đầu chỉ sợ một vật gì rơi
                 Trời là mái nhà không trần
                 ... Đêm nay nằm dưới những vì sao
                ngửa mặt lên trần
                Mắt trần không thấy bụi...!
                (Bài số IITrần trời)
          Có một số bài như ở dạng phác thảo, câu thơ xổ bung ra theo ý tưởng và người ta dễ liên tưởng khi viết những câu thơ như thế ông chỉ chú ý đến việc diễn đạt ý tưởng nhiều hơn là chú tâm vào câu chữ. Chẳng hạn như ở Bài số V (Mưa xuân đặt phản đề cây cá):
              ... Ta vốn yêu những cảnh đẹp vĩ đại
              của trời đất bể sông
              những hình khe
              thế núi
              những thành phố
              cánh đồng
              những rừng thưa
              rừng già
              những cổ thụ mười hai người ôm...
       Rồi ông lại tự trào cái nghiệp văn chương thơ phú của mình, hơn thế, ông mượn cớ để lên án tệ tham ô trong xã hội:
            Cốc cốc đánh mõ rình cót thóc
             Hề tôi dòng họ Vũ...
            ... Chuột đang chạy trong các kho dự trữ
            Làm thơ chẳng đủ ăn phải viết truyện ngắn
            Viết truyện ngắn chẳng đủ ăn phải viết truyện dài...
            ... Chuột đã bớt chạy trong các kho dự trữ
           Viết tiểu thuyết sợ quá giàu phải viết truyện ngắn...
     Chỉ ngỡ ông làm thơ, nhăm nhăm triết lý, hoặc bất cần câu chữ trau chuốt cốt sao diễn đạt được ý tưởng mà thôi, thì bỗng nhiên, ông lại trữ tình, sương khói:
            ... Đò qua Phủ Lạng
            Tránh càn thuyền thúng nghé thôn bờ
            Nhà nền – đất – nện
            rơm năm nắng
            Sương đẫm sân cau mờ
            Cống trắng
            ngã ba
            đồng Trảng
            Đi đi anh! Kẻo sáng bây giờ!...
            Bài số VI – (Chỉ gặp một lần)
      Có thể nói, dù là ở vùng mỏ than Đông Bắc thời trước, hay khi đi kháng chiến, và sau này về sống lại vùng mỏ trong cảnh hòa bình, viết văn, hay làm thơ, Võ Huy Tâm bao giờ cũng là một con người nhập thế, nhập thế đến cùng, sống có trách nhiệm, và đích thực là người cầm bút vì những người lao động. Trong Bài số I (Hòm mìn), ông viết:
             Bạn của tôi những người thợ mỏ
             đã giúp tôi dựng túp lều bằng gỗ
             Căn phòng của tôi                                                                                                                                          Sàn bằng gỗ hòm mìn                                                                                                              

               Trần bằng gỗ hòm mìn
            ...Tất cả căn phòng là một cái hòm mìn!
              Còn tôi, tôi phải là thuốc nổ!
        Sau này, xã hội ta nhức nhối bởi nạn “than thổ phỉ” tàn phá thiên nhiên, sinh thái, môi trường vùng mỏ, còn với riêng ông, không những đau, ông vẫn muốn làm một việc gì đấy, dù là nhỏ bé, để ngăn ngừa tác hại của nó:
              Gần sáng trăng lên dậy vét ao.
              Chỗ nào đào được người ta đào.
              Trời mưa, lũ quét bừa, vùng trũng
              Vỉa sạt bọn càn phạt lũng cao...
             ... Be bờ trồng rú chờ mong nác
             Dưới đáy chợt mừng thấy ánh sao!
              Bài số VIII – (Khi vét ao suy diễn)
       Võ Huy Tâm qua đời vào cuối thu năm 1996, vừa đúng một năm sau lần tôi gặp ấy. Tôi vẫn cứ băn khoăn, khoảng thời gian một năm đó, ông có thêm bài thơ nào không? Nhưng thôi, với tôi, dù ít ỏi thế cũng đủ làm nên một nhà thơ và 10 bài thơ này là một chút thơ để lại đời! Ở ông, sống và viết đều nhất quán. Trong Bài số IV – (Tiếng chim), ông viết:
             ... Cánh chim trong bão
             bả mồi lánh xa...
       Có lẽ, cho đến lúc mất, ông luôn tự nhủ mình, răn mình như vậy?!
       Và cho đến mãi sau này, rôi mới biết, ông còn có một trường ca có tên “Kể chuyện mỏ thời Tây”, được sáng tác năm 1956, tác phẩm văn học thứ hai ngay sau ‘Vùng mỏ”. Chính cái buổi trả lời phỏng vấn hôm ấy, khi diễn tả lại đời sống cơ cực của công nhân mở than thời Pháp chiếm đóng, ông đã đọc một thôi một hồi dài cho chúng tôi nghe, song tôi những tưởng là vè hay thơ ca khuyết danh chi đó do chính những người thợ mỏ ngày ấy sáng tác mà ông sưu tầm và thuộc long, chứ đâu ngờ đó là một phần trong trường ca của ông.
        Về nội dung, tôi không bàn, song về nghệ thuật thơ ca, chắc chắn là trường ca ấy non tay hơn với những bài thơ ông sáng tác sau này. Nó gần với vè, ca dao, văn vần, nôm na, dễ thuộc, dễ nhớ. Hẳn trường ca ấy phù hợp cho công tác tuyên truyền thời kỳ đầu...
        Dẫu sao, cũng đủ thêm vào để nhận diện một Võ Huy Tâm – Thơ, trong khi chờ đợi bổ sung những bài thơ khác của ông (nếu có) mà chưa mấy người biết ?!...

          Tôi mươn mấy câu thơ trích từ bài “Tinh chất” của nhà thơ Trần Nhuận Minh tặng nhà văn Võ Huy Tâm để kết cho bài viết này bởi tôi nghĩ, Trần Nhuận Minh đã hí họa rất thú vị người đàn anh văn chương đất mỏ của mình: “Bản thảo mấy thếp dày/ Anh cho vào bao tải/ Đeo lên lưng chậm rãi/ Nhà văn về Thủ đô…/ Vỉa than trong lòng đất/ Tiểu thuyết trong bao này/ Nào ai mà biết được/ Cái nào quí hơn đây?/ Trông mình như hành khất/ Trộm cướp nó sẽ tha/ Nhà văn híp mắt lại/ Hồn nhiên cười hà hà…/ Không vào rừng thì đói.. / Nhà văn lại cười xoà/ Mà văn chương còn phải/ Vươn lên những tầm xa…/ Tấm lưng hơi còng còng/ Đeo văn về Hà Nội/ Trong văn có biển rừng/ Bao kiếp người chìm nổi…/ Cả một vùng tụ lại/ Dưới đáy chiếc bao này/ Nhìn anh cười hiền hậu/ Tôi bỗng nhoè mắt cay...” ./.

 

     


Nhận xét