ĐỒNG ĐỨC BỐN
đời và thơ “mải
mê đuổi một con diều”…
Ấy
là nhà thơ Đồng Đức Bốn,
Người yêu thơ xứ mình, hầu như
đều thuộc vài ba câu thơ của Đồng Đức Bốn. Đó là may mắn và hạnh phúc của Đồng
Đức Bốn trong thời buổi loạn thi ca này,...
Những câu thơ ấy, như: “Cành hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm
vào như không”; “Mải mê đuổi một con
diều/ Củ khoai nướng đẻ cả chiều thành tro”; “Chiều nay Hồ Tây có giông/ Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm”;
“Xong rồi chẳng biết đi đâu/ Xích lô Bà
Triệu ra cầu Chương Dương”; “Đang
trưa ăn mày vào chùa/ Sư ra cho một lá bùa rồi đi/ Lá bùa chẳng biết làm gì/ Ăn
mày nhét túi lại đi ăn mày”; “Trở về
với mẹ ta thô/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ”; ‘Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không chìm”;
“Đợi em ở trước cửa thiền/ Lá cây rụng
một chiếc thuyền đang trôi” ... Đại loại vậy. Dẫu chỉ thế thôi những tưởng
cũng là đủ với người làm thơ!?... Song không, Đồng Dức Bốn còn có nhiều hơn...
Tôi nghĩ thế.
Trước tập thơ CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA (NXB Lao động, 1993), Đồng Đức Bốn xuất
bản tập thơ đầu tay, CON NGỰA TRẮNG VÀ RỪNG CÂY CỎ ĐẮNG (NXB Văn học, 1992), và sau đó, từ năm 2000 đến năm 2006, Đồng Đức
Bốn còn xuất bản thêm 4 ấn phẩm nữa, nhưng riêng tập CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA, với 112
bài thơ ở vào thời kỳ tác giả vừa độ chín sáng tạo, thiết tưởng cũng đủ để nhận
diện một tài năng thơ Đồng Đức Bốn, đặc biệt thể Lục bát.
Quả thật, tập "Chăn trâu đốt lửa", thơ lục bát
chiếm già nửa. mà hầu như bài nào cũng đọc được. Vậy là, lục bát viết được như
như thế không phải dễ, không phải ai, nhà thơ nào cũng làm được.
Nào thử xem Đồng Đức Bốn làm trò gì
với mớ lục bát của mình?
@ Trước hết, Đồng Đức Bốn sử dụng
ngôn ngữ dân gian, câu cửa miệng, thản nhiên nói ra như chẳng có gì, mà lại có
gì vậy.
Ví như, bài CUỐC KÊU, mở đầu: “Cuốc kêu như thể cuốc kêu/ Ngàn năm cái
giọng vẫn đều thế thôi”, đúng là chẳng có gì thật, nói ra là để nói, thế
thôi. Câu tiếp theo: “Bụi tre bụi dứa tan
rồi/ Cuốc kêu ai biết cho lời cuốc đâu”, thấy như có cái gì đó rồi. Câu
tiếp: “Đường đời còn lắm bể dâu/ Trắng
đen còn một Mỵ Châu để buồn”, có chuyện lớn rồi đó, mà chuyện quốc gia đại
sự, chuyện hưng vong của cả một dân tộc. Lại tiếp: “Thì cho chớp bể mưa nguồn/ Cuốc kếu vẫn giữ cái hồn cuốc kêu”, đã
là sự suy ngẫm, triết lý sinh tồn rồi đấy. Câu tiếp nối: “Tôi nghe nẫu cả những chiều/ Câu thơ ngã xuống đổ xiêu quán chùa”,
trở về với suy tư cá nhân về lẽ đời. Và bất ngờ: “Thoắt nghe dựng tiếng gươm khua”, kết để mở ra một chương mới,...
Tôi thích bài thơ này, bởi tính giản dị như không của nó, mở đầu là nói một
việc thường nghe thường thấy, ai cũng biết, song chẳng mấy người lưu tâm, ấy là
tiếng cuốc kêu mỗi ngày, chẳng cần đao to búa lớn, rủ rỉ dẫn dắt đến việc đại
sự, lẽ sinh tồn và bài học giữ nước cả cả dân tộc.
Hay như bài ĐỢI CHỜ THÁNG BA, mở đầu
cũng bằng một việc hết sức bình thường: “Bây
giờ chờ đợi tháng ba/ Tôi ra đứng ở cây đa đầu làng”. Đúng là chắng có gì,
thậm chí là vu vơ vớ vẩn, cũng phải. Song câu tiếp theo: “Khói nhà ai cứ mọc ngang/ Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều”, thì
quả là bắt đầu có chuyện rồi. Nào xem có chuyện gì: “Lề dường trong những chiếc lếu/ Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày”,
thấy lộ diện chút về một làng quê nghèo, chẳng mấy ai mua bán gì. Nhưng tiếp
đến: “Ngả nghiêng mấy lão thợ cày/ Rượu
say vác cả cối chày nện nhau”, thì rõ rồi, nghèo, không có việc làm, sinh “nhàn cư vi bất thiện”. Ai cũng biết,
tháng ba là tháng giáp hạt, hay đói kém. Làng xóm giàu có, người dân của ăn của
để thì đỡ, chứ vốn thiếu thốn triền miên thôi rồi. Vì nghèo nàn, đến thần phật
cũng mất thiêng, bất lực, còn dân chúng lo thân chẳng xong, nghĩ gì đến thần phật,
mà lễ bái: “Miếu thờ phật tượng ngồi đau/
Cửa thiền rêu đã lên màu cổ xưa”. Để rồi kết ở câu thơ khiến người ta phải
suy nghĩ: “Tháng ba vẳng tiếng chuông
chùa/ Bây giờ tôi đợi bóng vua về làng”. Bài thơ với một cái kết như vậy là
tiếng chuông cảnh tỉnh, báo động. Vua quan gì đâu, ấy là lời thỉnh cầu khẩn
thiết về một sự quan tâm của các nhà quản lý đất nước, cần phải làm gì đó để
thay đổi cơ chế, đem lại công ăn việc làm cho người dân, thoát nghèo, làm
giàu,...
Cái lối mở đầu cửa miệng thản nhiên
như không, để rồi gây sự, xưng mọc về những chuyện đâu đâu ấy, khá phổ biến
trong thơ Đồng Đức Bốn. Có thể thấy như vậy trong các bài Cơn mưa dừng ở Sóc Sơn, Chợ
buồn, Cái đêm em ở với chồng, Hoa
dong riềng, Hội Lim, Sông Thương ngày không em, Đàn buồn lại mắc dây oan, Bờ sông, Nhà quê, và nhiều bài thơ khác
của ông...
@
Thơ Đồng Đức Bốn nhìn chung là Gợi.
Trong lời Tựa thơ Đồng Đức Bốn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, đã phân chia ra
mấy loại người làm thơ (loại một là các
thiên thần, loại hai là những người khởi nghĩa,...), và ông đưa ra nhận
định “Đồng Đức Bốn là một nhà thơ, một
người khởi nghĩa”. Tôi chẳng rõ, nói như vậy, Nguyễn Huy Thiệp định dạng
Đồng Đức Bốn thuộc loại nào?
Tôi thì thấy, thơ Đồng Đức Bốn nhin
chung là gợi.
Nhà nghiên cứu, phê bình văn học
nổi tiếng đời Thanh là Viên Mai, trong cuốn sách "Tùy Viên thi thoại" của mình, đã nghiên cứu thơ ca Trung Hoa
cổ đại để đưa ra quan điểm, thơ trước tiên ở gợi (sức gợi), và cùng
với đó là ý tứ, ngôn từ, nhạc điệu,... Như vậy, thơ hay thì quan
trọng ở sức gợi, rồi theo đó là ý, ngôn ,nhạc. Tôi đồng tình với quan điểm này.
Thế nên, cũng như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nhận định, tôi thấy thơ Đồng Đức Bón
hay.
Lại xem thơ Đồng Đức Bốn gợi thế
nào ?
“Khói nhà ai cứ mọc ngang/ Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều” (Chờ đợi tháng ba), câu thơ thật gợi,
khiến người ta cứ phải hình dung xem sao. Hay như, gợi làm sao: “Chăn trâu đốt lửa trên đồng/ Rạ rơm thì ít
gió đông thì nhiều” (Chăn trâu đốt
lửa): “Em như chim bay về ngàn/ Để
rơi một cánh hoa tan nát chiều” (Sông
Thương ngày không em): “Nhà em ở chỗ
vòng quanh/ Sao tôi đi mãi không thành đường đi” (Về Nhổn tìm em): “Cái đêm em
ở với chồng/ Để ai hóa đá bên sông đợi đò/ Cái đêm hôm ấy gió mùa/ Tơ nhện
giăng đến cổng chùa thì tan” (Cái
đêm em ở với chồng): “Chuông chùa
tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò” (Bờ sông): “Bây giờ tuổi đã hoàng hôn/ Tôi ra đứng gió đợi buồn trên sông” (Đợi buồn)...vv... Thơ Đồng Dức Bốn, rất
nhiều nhưng câu thơ giàu sức gợi như thế,...
Tôi nghĩ, thơ Đồng Đức Bốn, nhờ sức
gợi mà hấp dẫn người đọc. Nó khiến người ta liên tưởng này nọ, gợi mở để người
ta có cảm giác được tham gia vào ý thơ,… Thích là thế.
@
Liên kết lỏng làm nên sức bền thơ Đồng Đức Bốn,
Thơ Đồng Đức Bốn, phần lớn cả bài
không rõ ý tứ, liên kết các khổ thơ trong bài cũng lỏng, thậm chí, câu trước,
khổ thơ trước như chẳng liên quan gì đến câu sau, khổ thơ sau. Ấy vậy, mỗi câu,
mỗi khổ thơ lại có vai trò làm cọc tiêu cho các câu thơ trong bài nương tựa vào
nhau mà đứng vững, đến mức, nếu lược bớt đi lại cảm thấy chống chếnh. Các bài
thơ Chăn trâu đốt lửa, Cuốc kêu, Chờ dợi tháng ba là những bài thơ có ý tứ rõ ràng, liên kết khá
chặt chẽ, chiếm số ít trong thơ Đồng Đức Bốn. Nhìn chung, thơ ông thuộc dang
liên kết lỏng, đơn giản, bởi mỗi câu thơ đều mang ý tứ riêng và dường như hoàn
thành xứ mệnh của nó rồi.
Này đây, bài Chợ buồn, cả thảy 4 cặp lục bát: “Chợ buồn đem bán những vui/ Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em”, nếu
chỉ ngắn gọn thì thế cũng thành bài thơ rồi. Nhưng tác giả vẫn thêm “Chợ buồn bán nhớ cho quên/ Bán mưa cho nắng
bán đêm cho ngày”, rồi lại thêm nữa “Chợ
buồn bán tỉnh cho say/ Bán thương suốt một kiếp này cho yêu”, cũng không
thừa, vẫn thêm nữa để kết “Tôi giờ xa cách bao nhiêu/ Đem thơ đổi lấy
những chiều tương tư”. Mấy câu sau, tách riêng ra, mỗi cũng thành câu đủ
làm nên ý của nó, song tất cả xếp liền với nhau lại làm nên sự dày dặn cho cái
kết chung, mà cũng là tâm trạng thực của nhà thơ.
Bài thơ Sông Thương ngày không em, cũng là một bài thơ như vậy. Câu đầu “Không em ra ngõ kéo diều/ Nào ngờ được mảnh
trăng chiều trên tay”. Vậy thôi, cũng gợi và mở rồi, để cho người ta mặc
sức liên tưởng. Nhưng vì muốn đi đến cái kết chở tâm tư của mình “Không em từ bấy đến giờ/ Bàn tay vẫn héo như
cờ chịu tang” thì tác giả phải thêm “Sông
Thương như gỗ hóa trầm/ Mùi hương để vết tím bầm trên da”, và “Sông Thương từ buổi em xa/ Tay anh quờ xuống
hóa ra bị chàm”. Cảm thấy chưa đủ, tác giả dông dài thêm mấy cặp lục bát
nữa, mà câu nào cũng đủ ý của mình “Em
đi như chim về ngàn/ Để rơi một cánh hoa tan nát chiều”, “Tôi đi trên dòng sông gai/ Lối chân chim đâu
trên vai thành hồ”. Có vẻ như chúng chẳng liên quan gì đến nhau, nhưng mỗi
câu đều khá gợi, nên đứng được, riêng mình, hay nương tựa vào nhau thành bài
thì vẫn ổn.
Nhiều bài thơ Đồng Đức Bốn là vậy,
chiếm số đông, nhất là thơ lục bát. Có cảm giác, khi sáng tác, tác giả chắp nối
các câu thơ riêng vào với nhau, hoặc tác giả không làm chủ được mình, mặc cho
câu thơ dẫn dắt mình đi, lạc bước, để rồi khi giật mình tỉnh giác, ngơ ngác tìm
đường trở về. Các bài Đàn buồn lại mắc
dây oan, Thôi đừng hát nữa người ơi,
Chiều mưa trên phố Huế, Em bỏ chồng về ở với anh không,... đều
thuộcvdạng này.
Lối kết cấu lỏng, dựa vào các câu
thơ cọc tiêu ấy làm nên sức bền cho thơ Đồng Đức Bốn. Tựu chung, bài có thể
dông dài, hay lan man, không rõ ý, thậm ý tứ tản mát đi chăng nữa, thì nhờ có
một, đôi câu thơ hay, khiến bạn đọc thích thú mà thể tất, mà bỏ qua cho cái tội
dông dài của tác giả. Bởi người ta, chỉ cần nắm bắt một câu thơ giàu sức gợi,
ấn tượng, hay là thấy đủ, thuộc nagy được, đặng ngâm ngợi hay mang ra bình
luận, tán thưởng vui bạn vui bầu lúc trà dư tửu hậu. Vậy là Đồng Đức Bốn làm
được điều này, bởi thơ ông có nhiều câu như thế !...
@
Với lại, Đồng Đức Bốn có cái lối, cứ “xưng xưng mọc mọc”, cũng có thể cho là dùng phép “thậm
xưng” nói ra cái ý của mình, đặt điều, nói quá lên, đem gán ghép cho
người ta những thứ ấy, rồi lấy đó làm cái cớ, chỗ nương tựa, để mà buồn rầu,
khổ ải, than vãn này nọ, kiểu bắt đền, ăn vạ,... Ở ngoài đời, nếu ai mà sống và
ứng xử thế, cứ cường điệu, làm quá lên mọi chuyện thì thật không ổn chút nào,
song trong thơ thì lại ổn, thậm chí là đắc địa, nếu biết tiết chế. Tôi nghĩ,
Đồng Đức Bốn rất chi đắc địa và thật lợi hại với thủ pháp này.
Ví những đây: “Em đi từ hạ vào thu/ Gặp tôi ở chốn sương mùa chưa tan/ Em đi từ phái
gian nan/ Gặp tôi ở chỗ cung dàn dứt dây” (Về phố Hàng Tre); “Một chiều
về phố Hàn Thuyên/ Sao em lại nỡ bỏ quên tôi rồi” (Về phố Hàn Thuyên); “Anh từ
trong em bước ra/ Tiếng thương tiếng nhớ gấp ba chuông chùa/ Em từ anh ra lạ
chưa/ Một ngày những có bốn mùa đổi thay” (Chuông chùa Quán Sứ); “Tôi
ngồi làm thơ cho ma/ Và coi quỷ dữ như là tình nhân/ Chán chơi với các vị thần/
Tôi đi tìm cỏ mùa xuân đắp mổ” (Viết
bên hồ Hai Bà); “Gọi em một tiếng
tưởng xong/ Không ngờ ai nấp trong lòng trộm nghe” (Ở phố Bà Quẹo); “Có ai yêu gỉa
bao giờ/ Để tội cái ngõ gọi ngờ Tạm Thương/ Tôi về ngày ấy nhiều sương/ Mà sao
chỉ một giọt vương trong lòng” (Ngõ
Tạm Thương); “Phố tình bạc bẽo bao
nhiêu/ Mà sao tôi vẫn cứ yêu như thường” (Nhà em ở sát chợ Mơ); “Ước
gì mưa mãi chẳng tan/ Để cho sấm cứ râm ran khắp trời/ Để cho em nép vào tôi/
Ôm chung một giọt mưa rơi xuống lòng” (Phố
Nối mưa rào); “Màu hoa đỏ một nụ cười/ Lặng im mà sóng luân hồi dâng cao” (Hoa dong diềng); “Một mình đi với một đêm/ Một ddeeem đi với sấm rền trong mưa” (Ở phố Bà Quẹo); “Chiều nay Hồ Tây có dông/ Tôi ngồi trên sóng mà khong thấy chìm” (Chiều nay Hồ Tây có dông)...vv...
Nhiều làm những câu thơ như thế, nên có thể xem, “thậm xưng” là thủ pháp
phổ biến được Đồng Đức Bốn dùng đạt hiệu quả cao.
@
Nếu như trong thơ, Trần Đăng Khoa và trong văn, Nguyễn Huy Thiệp đều chú trọng
và rất tài tình trong nghệ thuật tạo dựng không gian truyện, thì trong thơ Đồng
Đức Bốn, cái không gian nghệ thuật ấy lại lễnh loãng, thậm chí chẳng có không
gian nào. Thế nhưng, gần như bài thơ nào, cũng có câu thơ hay và may sao, tự
thân câu thơ ấy làm nên không gian riêng cho mình, hư ảo, ấn tượng, ám ảnh, để
người đọc phải nhớ và vì thế cứu vớt cả bài thơ.
Ví như: Bài thơ Bờ sông, câu kết “Bờ sông có một con đò/ Gác chèo ông lão nằm lo trăng buồn”. Tự
thân, tạo được không gian riêng có, chẳng cần đến mấy câu thơ trên “Bờ sông hoa cải hoa cà/ Ước chi áo tím như
là ai mong”; “Chuông chùa tiếng đục
tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò”. Hay như: “Tôi là một kẻ mồ côi/ Thế gian mất, tôi còn
tôi một mình” (Nửa dêm Đà Lạt) ;
Hay như bài Thăm mộ Nguyễn Du, tác
giả luận đề “Đời Kiều sao lắm tái tê/ Đời
tôi sao lắm đam mê chưa thành”, rồi những câu thơ tiếp nối cứ lan man mỗi
câu một ý cho đến khi thấy cần thôi thì tác giả vội kết: “Tôi đi về vẫn dọc ngang/ Câu thơ thập thững nén nhang cho người”, may câu này lại khá ấn tượng ...Hay nữa, trong
bài thơ Tôi là vua không có ngai,
câu mở đầu tuyên bố thản nhiên như thế, tác giả triết luận bâng quơ theo cái
kiểu “nói đại không chịu trách nhiệm”,
là để đi đến cái kết bất ngờ, ngẫm ra mới thấy hay “Chìm trong vương quốc của thơ/ Không cho người được may cờ để treo”,...v.v...
@ Lại có cảm giác, cứ như tác giả
sướng gì viết nấy, rồi đem chúng thả chung vào một cái ao và cố tình khoắng
loạn lên cho các câu thơ riêng lẻ chao động, trô dạt, và quệt dan díu vào nhau
mà thành. Là tôi cứ hình dung vậy khi đọc thơ Đồng Đức Bốn, chẳng hay ?
Ví như: Bài thơ Nhà quê, tác giả chia làm mấy khúc, là
cách để đỡ phải mất công nhào luyện vo viên chúng với nhau, bởi nhà quê thì có
cả ngàn vạn chuyện, biết nói sao cho hết, mà có nói ngày này sang ngày khác,
năm này sang năm khác cũng không hết chuyện. Thế nên, tác giả chỉ buông vài câu
“Nhà quê có cái giếng đình,”, rồi “Nhà quê chân lấm tay bùn,” đã thấy chẳng
cần phải con cà con kê nữa, dẫu có mang chuyện Thị Màu ra bàn thì mãi cũng
nhàm, nên thôi, túm chuyện vào một mớ cho xong “Bao nhiêu là thứ bùa mê/ Cũng không bằng được nhà quê của mình,...”,
tự hào kiểu nhà quê, ra điều nhà quê của tớ còn ối chuyện để kể nhưng đây không
thèm nhé,... Đây cũng là thói ma lanh, láu cá đầy chất “nhà quê” của Đồng Đức Bốn mà nhà thơ sử dụng trong thơ mình,...
Hay như, bài Vu vơ
chùa Hương, gồm mấy phần, mỗi phần một ý, ngưòi ta có thể quên, song sẽ khó
quên câu thơ trong bài, như "Có gì
trong tiếng chuông êm/ Quả mơ vẫn héo cả đêm lẫn ngày/ Chùa Hương nghi ngút
hương bay/ Phật ngồi cũng héo cả ngày lẫn đêm,". Rồi như bài Qua nhà người yêu cũ, nhà thơ thấy gì
nói đó, vu vơ cho có chuyện, nếu như thiếu đi câu hay “Vẫn còn thấy vướng trên môi/ Tóc em một sợi rong chơi lạc vào” thì
bài thơ nhạt hoét. Nữa là bài thơ có cái tít rất kêu Thơ viết gửi người tình khi tôi đã chết, cũng đâu có gì ghê gớm, to tát, chỉ vu vơ thôi, nếu
như không có câu dỗi mình giân người “Chết
rồi tôi vẫn làm người/ Để nhân những nỗi đau đời cho em”... Chịu khó tìm
kiếm, nhặt nhạnh trong thơ ông, dạng thức này không hiếm. Tôi cho, đây cũng là
một dạng thức hợp làm nên chất Đồng Đức Bốn.
Bình sinh lúc Đồng Đức Bốn còn chưa
là gì cho đến khi trở thành nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người biết đến tôi có
gặp ông mấy lần. Đôi lần là ở tòa soạn Báo
Nông nghiệp (nay là Nông nghiệp Việt
Nói như vậy, là để thấy, trước đó
tập thơ đầu tay (Con ngựa trắng và rừng
quả đắng), và sau đó là mấy tập thơ nữa, thì cái người ta nhắc đến (sẽ còn nhắc đến) phần lớn là những bài
thơ, câu thơ nằm trong tập Chăn trâu đốt
lửa. Ngay khi làm tập, Đồng Đức Bốn đã nhặt nhiều bài thơ trong tập thơ đầu
tay (Con ngựa trắng và rừng quả đắng)
mang sang tập Chăn trâu đốt lửa. Rồi
sau đó, ông vẫn tiếp tục lựa chọn một số bài thơ hay, được người đọc yêu thích
sang làm cốt cho tập thơ mới của mình. Đặc biệt tập thơ cuối cùng của Đồng Đức
Bốn xuất bản năm 2006 vào năm ông mất, dày hơn nghìn trang, có thể xem là tuyển
tập thơ Đồng Đức Bốn (Chim mỏ vàng và
hoa cỏ độc, NXB Hội Nhà văn). Lại
cũng không có nghĩa, những tập thơ sau không có những bài thơ hay, câu thơ ấn
tượng. Bởi dù có hay không những tập thơ khác của ông thì giờ đây trên không
gian mạng, người ta có thể tìm đọc hàng trăm bài thơ được nhặt ra từ các tập
thơ của ông, mà có thể xem đó là những bài thơ hay, hoặc được người đọc yêu
thích trong toàn bộ thi cả của Đồng Đức Bốn.
-Có điều, không may cho Đồng Đức
Bốn là không mấy thọ, hưởng dương chưa đến tuổi lục tuần bởi căn bệnh hiểm
ghèo, tuy đã thành danh và thơ vừa độ
chín. Giả sử, trời cho ông thọ thì nhà thơ vẫn có thể cho ra thi phẩm hay. Đáng
tiếc là vậy. Song tôi nghĩ, với chất thơ này, cùng các thủ pháp sáng tác mà tôi
đã nêu, Đồng Đức Bốn khó có thể tiến xa hơn nữa, hoặc giả chỉ để làm mới mình
thôi. Còn như, vẫn tiếp tục giọng điệu ấy, chỉ càng thêm cũ, thêm nhàm, thậm
chí, không khéo còn làm nhạt nhòa đi cái đặc sắc mình từng có. Bằng chứng, tính
từ thời điểm Đồng Đức Bốn bắt dầu tập tọng thơ phú (khoảng năm 1980) cho đến lúc ông qua đời (2006), với mấy trăn bài thơ, thì đến nay, số bài thơ được người yêu
thơ đọc nhiều nhất và thích nhất của ông cũng độ chừng đâu đó mươi bài (Trở về với mẹ ta thôi, Vào chùa, Chăn trâu
đốt lửa, Em bỏ chống về ở với ta không, Đời tôi, Chợ buồn, Chờ đợi tháng ba,
Nhà quê, Cái đêm em ở với chồng, Đêm sông Cầu, Bờ sông,...). Tất nhiên, nếu
tính theo đơn vị câu, thơ Đồng Dức Bốn khá có nhiều câu thơ hay, gợi, được
ngươi ta nhớ và thích,... Chí ít, ông có sự vinh hạnh vì mình đã gây được ảnh
hưởng đến người khác.Và tôi tin thế, bởi đã thấy, những câu thơ gợi và hay của Đồng
Đức Bốn thực sự ảnh hưởng đến nhiều cây bút thơ sau ông, cũng như một thời, ối
cây bút văn xuôi xứ ta bị ảnh hưởng, chi phối bởi giọng điệu, khí chất Nguyễn
Huy Thiệp, trong sáng tác của mình,...
Chuyện cuộc đời ông, tôi không mấy
biết về Đồng Đức Bốn. Tuổi Mậu Tý, mệnh "Tích lịch hỏa" cùng với ông (sinh 1948), làng văn chương xứ
Việt mình nhiều người có tài (Văn Chinh,
Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Hiếu,... ). Bản thân Đồng Đức Bốn xuất thân con nhà
nông dân nghèo ở An Hải (Hải Phòng), song ông lăn lộn qua nhiều loại nghề (Thanh niên xung phong thời chiến tranh chống
Mỹ, rồi thợ cơ khí qua nhiều đơn vị, rồi nữa là thương nhân), nên có thể
xem là người từng trải, giàu vốn sống. Đó là lợi thế của ông. Tôi cũng từng
nghe người ta nói nhiều về đời thơ, việc xuất bản thơ và chuyện lang bạt đó
đây, giao lưu bạn bè, làng văn chương,... hay nhiều mà dở cũng có, thành giai
thoại cả, lại thật hư chẳng mấy rõ...!?...Nên không dám bàn.
Tôi nghĩ là, trong cái rủi lại có
cái may, bởi rời bỏ dương thế, ông chẳng còn phải đau đời, vật vã với chuyện
chữ nghĩa, thơ phú nữa. Kể từ khi dính cái bẫy thi ca, coi như ông đã vướng
nghiệp, đánh cược đời mình, dại dột "mải
mê đuổi một con diều" rồi. Song còn may mắn hơn nhiều người, cả đời thơ phú tay tắng vẫn hoàn tay trắng, còn
ông, với ngần ấy thôi, nhất là thơ lục bát, Đồng Đức Bốn đã đủ để ngạo với đời
rồi.
Hơn chục năm trước, trong một vài bài
viết, khi bàn về thơ Việt Nam hiện đại, riêng thể lục bát, tôi đã mạo muội khi
xếp bốn nhà thơ ngồi bốn góc chiếu Lục bát, ấy là Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh,
Phạm Công Trứ, và Đồng Đức Bốn. Giờ thì trong chiếu thơ Lục bát ấy, tôi nghĩ,
vẫn còn cả bốn vị này, nhưng chẳng thể trấn giữ riêng mình mỗi người một góc
chiếu, mà xin các ngài phải xê dịch đôi chút để nhường chỗ cho mấy người khác
nữa cùng ngồi,...
Tôi muốn ngưng bài viết này, bằng
câu thơ kết trong bài “Đời tôi” của
Đồng Đức Bốn sáng tác năm 1986. nghĩa là khi ông mới tập tọng thơ phú, vậy mà
đã mang tính tiền định: “Đời tôi giàu ở
chiêm bao/ Bây giờ ngồi hút thuốc lào với trăng”,... ./.


Nhận xét
Đăng nhận xét