@@@
PHẠM HỔ -
người thắp lửa
Tôi định viết
về ông nhưng rồi lần lữa mãi. Về con người, tôi chỉ vào hàng con ông, phần vì
ngại. Về sự nghiệp, ông đã thành danh với những tác phẩm thơ văn dành cho thiếu
nhi. Tôi biết ông có rất nhiều bài thơ hay và độc đáo cho trẻ em, song thú thực,
cho đến giờ tôi thuộc duy nhất một bài, ấy là bài thơ Xe cứu hỏa.
Đơn giản bởi bài thơ đó được đưa vào sách giáo khoa cấp 1 từ thời tôi đi học.
Hè năm 2007, nhà thơ Phạm Hổ mất, báo chí đăng
nhiều bài viết về ông. Tình cờ, tôi có gặp
và trò chuyện đôi chút với con gái của ông, nhà văn Phạm Sông Hồng khi chị thay
mặt gia đình đến Ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam cảm ơn sau lễ
tang ông. Đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp Phạm Sông Hồng.
Thuở học trò, tôi biết đến Phạm Hổ với tư
cách là một nhà thơ viết cho thiếu nhi. Càng về sau, tôi thấy thơ viết cho thiếu
nhi của Phạm Hổ khá tài hoa, độc đáo và không kém phần ngộ nghĩnh. Có người đã
ví ông với ông Marshak ( S.J Marshak, 1887-1964, nhà thơ Nga, nổi tiếng thế giới
, viết cho thiếu nhi rất hay, và là một trong những người sáng lập nền văn học
thiếu nhi ở Liên Xô cũ), và còn gán cho Phạm Hổ biệt danh là Marshak Việt
Nam. Rồi còn biết, ông có tới những ba ái nữ, tên gọi cũng rất chi là đặc
sắc, hai ả tố nga đầu là Sông Hồng và Sông Đông, đều tài hoa giỏi giang. Sông Hồng
thì thành danh với dịch thuật và một số truyện ngăn ngắn. Ở vào cái thời truyện
ngắn đang nổi đình đám trên văn đàn , nhiều cây bút truyện ngắn tài năng lộ diện,
nhiều truyện ngắn có tầm vóc như truyện vừa, mà Phạm Sông Hồng lại chuyên trình
làng những truyện ngắn mi-ni thì xem ra cũng là độc đáo. Người con thứ hai của
ông, Sông Đông học cùng khóa Tổng hợp Văn với mấy người bạn của tôi (Ts. Nguyễn Hữu Sơn và Ts.Trịnh Bá Đĩnh ở Viện
văn học Việt Nam ), và sở dĩ tôi biết vậy là vì trong các câu chuyện ngày ấy của
mấy chàng sinh viên này thấy có bóng dáng của cô nàng.
Tôi có nghe một giai thoại
liên quan tới Phạm Hổ. Rằng ông là một người rất hiền lành, nhưng khá giỏi võ
thuật, mà là võ Bình Định kia. Chuyện là, có một chàng nọ muốn tiếp cận ông, nhờ
ông giới thiệu hay bỏ phiếu chi đó nhằm vào Hội nhà văn nhưng bị ông từ chối, lời
qua tiếng lại thế nào, chàng kia nổi khùng xông vào ông động thủ. Ông không buồn
đánh lại, chỉ né tránh và một động tác võ thuật nhẹ nhàng đã quật chàng ta ngã
nhào, khiến anh chàng xanh mắt mà thôi luôn. Chuyện thật hư thế nào không rõ.
Và rồi, có một chuyện khiến tôi
ấn tượng mạnh về Phạm Hổ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì vào mùa hạ năm 1994, tôi
tham dự Trại sáng tác văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam mở tại Hà Nội.
Lúc bấy giờ, tôi chủ yếu viết truyện ngắn cho người lớn, tuy nhiên cũng có dăm
ba cái truyện thiếu nhi gửi phát trên chương trình Văn nghệ thiếu nhi của Đài
Tiếng nói Việt Nam mà nhà thơ Lê Đình Cánh làm trưởng phòng. Khi ấy, Lê Đình
Cánh còn là ủy viên Hội đồng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn, ông động viên
tôi tham dự. Thực tình tôi ngại nhưng nể ông mà đồng ý, gửi trước đến Ban tổ chức
Trại sáng tác hai truyện ngắn là "Con chó Mực của bà tôi
" và " Có một bà già ai nhớ ". Cả hai truyện này đã được
đăng trước đó ở Báo Người Hà Nội. Hôm đến Hội nhà văn làm thủ tục, tôi gặp
nhà thơ Phạm Hổ và nhà văn Vân Thanh, là những người phụ trách Trại sáng tác.
Có thêm sự động viên của hai đại lão gia trong làng văn học thiếu nhi, tôi thêm
vững tâm.
Trước hôm khai mạc, nhà thơ Lê
Đình Cánh gặp tôi, ông vui vẻ vỗ vai tôi
bảo : " Hai cái truyện của cậu được nhà văn Nguyên Ngọc đọc thẩm định.
Cụ ấy khen đấy. Hôm này khai Trại, Ban Tổ chức dự định là sau phần diễn văn
khai mạc, đến phần của trại viên, nhà văn Nguyên Ngọc sẽ đọc nhận xét thẩm định
tác phẩm của em, kế đó em sẽ tự đọc truyện ngắn của mình ". Tôi nghe
mà ớn cả ngươi, rồi trối đây đẩy. Nhà thơ Lê Đình Cánh cười tủm tỉm, đông viên:
"Có gì mà ngại. Nhà văn là người của công chúng rồi . Tác phẩm của mình
đem công bố hệt như mũi tên đã bắn ra khỏi cung, trúng trật, khen chê thế nào
là việc của thiên hạ mà”. Nghe thấy chí lý, tôi có vẻ xuôi, song thực
lòng vẫn ngần ngại lắm. Mấy ngày phâp phỏng không yên đợi hôm khai trại.
Rồi cũng đến ngày đó. Trại được
tổ chức tại khoa sinh viên nước ngoài trong khu Đại học Bách khoa Hà Nội. Tôi đồ
chừng khoảng ba chục người từ các địa phương về dự. Tôi không thuộc hết mặt, chỉ
loáng thoáng biết và nhớ là có Thai Sắc ( Đồng Tháp ), Hoài Khánh ( Hải Phòng
), Thái Chí Thanh, Lê Minh Hoài ( Hà Nội ) và hình như còn mấy bạn trẻ lứa tuổi
học trò ở Hà Nam Ninh thì phải... ( Nếu hiện có bạn nào trong số ấy nay thành
danh trên văn đàn, thì cho tôi xin lỗi vì đã không nhớ được quý danh, không phải
vì khinh thị, mà chẳng qua khi đó tôi chỉ dự buổi khai mạc, không học tập và
sinh hoạt cùng anh chị em trong trại viết, vả lại lâu rồi nên không nhớ nổi ).
Sự lo ngại khiến tôi chẳng nghe
thấy gì khi ngưới ta khai mạc. Đúng như dự kiến, nhà văn Nguyên Ngọc đọc bài thẩm
định hai tác phẩm gửi tham dự Trại của tôi. Chi tiết thế nào tôi không còn nhớ,
song khen cũng nhiều và chê cũng không ít. Sau đó, tôi được mời lên, ngồi vị
trí trang trọng nơi bộ bàn ghế kê chính diện trước hội trường. Tôi đã đọc cái
truyện ngắn của mình "Con chó Mực của bà tôi". Lúc đầu
còn e ngại, rồi bạo dần lên, rồi nữa như nhập đồng. Tôi vừa đọc vừa ứa nước mắt,
nấc thành tiếng. Tôi quên hết mọi người, tôi nhớ đến bà ngoại tôi, đến mẹ tôi,
đến con chó Mực nhà tôi... Bà ngoại tôi bị mù lòa từ ngày còn trẻ, vậy mà vẫn
những mười lăm lần sinh nở, nuôi con đến trưởng thành còn chín người. Hết nuôi
con rồi lại chăm cháu, đầy đàn đầy đống. Suốt những năm chiến tranh chống máy
bay Mỹ, đám cháu nội ngoại từ thành phố ùn ùn kéo nhau về sơ tán, bà ngoại tôi
nhận chăm sóc tất thảy. Bao nhiêu là chuyện phải lo, cơm cháo, rau khoai, tắm
giặt, học hành, lúc khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau...Chẳng thế mà sau này, lũ
cháu chúng tôi nên người, đi đây đó khắp xứ ta xứ tây, luôn nhớ về bà với tâm
niệm bà như một bà tiên trong cổ tích. Giờ thì bà ngoại tôi đã mất và cỏ đã
xanh lần hai trên mộ. Con chó Mực cũng đã chết lâu rồi. Chỉ còn mỗi mẹ tôi. Mẹ
tôi đang sống hiu quạnh ở chốn quê nhà, ngày ngày chăn nuôi lợn gà, quét tước
lá tre, trông giữ đất vườn và nếp nhà gianh, cho mấy chị em tôi thoả sức bay nhảy
nơi phố xá đô thị ... Tất thảy sống dậy trong tôi. Tôi mường tượng lại tuổi thơ
tôi sống với bà ngoại thế nào, bà yêu quý và chăm chút tôi ra sao...Và tôi đã
khóc. Khóc vì sao ư ? Không rõ nữa. Có lẽ vì tất cả. Chỉ biết là cố kìm nén mà
không nổi. Tôi đã phải ngừng đọc những mấy lần, để nuốt tiếng nấc nghẹn, để lau
nước mắt vì chữ nghĩa trước mắt cứ nhòe đi. Lúc ấy, trong tôi chỉ còn một ý
nghĩ là cố gắng làm sao đọc cho xong cái truyện, chẳng tâm trí đâu để ý xem mọi
người ra sao. Song quả là tôi có thấy, nhà thơ Phạm Hổ cũng rân rấn nước mắt.
Điều ấy khiến tôi tự tin hơn, và bỗng dưng tôi thấy cái sự khóc của mình không
vô lý nữa, giúp cho tôi đủ sức đọc tiếp mà không bỏ dở. Gần cuối, khi đã bình
tĩnh tôi bắt đầu nhận thấy đâu đó những tiếng rì rầm ở bên dưới của những trại
viên, hình như cũng lại chuyện khen chê này nọ...
Sau phần của tôi, nhà văn Ma
Văn Kháng nhận xét những sáng tác của mấy bạn trẻ ở Hà Nam Ninh. Tôi không được
đọc truyện của họ, song chỉ qua thẩm định của nhà văn Ma Văn Kháng thì có thể
thấy những sáng tác ấy khá hay. Có lẽ còn do nhà văn Ma Văn Kháng viết nhận xét
rất giỏi. Tôi nghe ông đọc lời nhận xét thấy hay và thật đáng nể phục. Tôi rẩm
riu nghĩ, trước đây mình đã phục ông nhà văn này qua mấy tiểu thuyết " Mưa
mùa hạ ", "Đồng bạc trắng hoa xòe " và " Mùa lá rụng trong
vườn ", nay lại phục tài viết phê bình nữa. Lúc nghỉ giải lao, tôi nhận thấy
hình như mọi người vẫn tiếp tục trò chuyện với nhau, đưa ra những ý kiến nhận
xét này nọ. Và loáng thoáng đâu đó, có lời chê bai chi tiết này, câu chữ nọ từ
cái truyện của tôi. Lại nữa, còn có cả lời bai, rằng tại sao cái tay ấy lại có
thể khóc khi đọc truyện nhỉ v.v... Thú thật là lúc ấy tôi chạm tự ái, nóng mặt.
Đó cũng là lý do khiến tôi đứng một mình nơi hành lang, không nhập vào nhóm
nào, cũng chẳng muốn trò chuyện cùng ai cả.
Đúng lúc ấy, nhà thơ Phạm Hổ đến
bên tôi. Ông vỗ nhẹ lên vai tôi, miệng cười hiền vẫn còn nguyên vẻ xúc động nói
đưat quãng: "Em khá lắm... Viết cảm động lắm... Viết cho thiếu nhi
không khó ... Điều khó là ...cần một tấm lòng...Vì ở đấy không có chỗ cho cái
ác...". Tôi thấy rõ là ông thể hiện sự xúc động một cách chân thành,
thế nên tôi cảm động lắm. Sự cảm động còn bởi một lý do riêng tư, trong khi đám
đông coi thường sự cảm động của mình, thì lại có một vị đại lão gia biết trân
trọng nó. Tôi không muốn, nhưng không thể không so sánh. Ông còn căn dặn thêm
gì đấy, song sự cảm động khiến tôi không còn tỉnh táo để mà ghi nhớ. Đợi ông dừng
lời, tôi dụt dè xin phép ông và Ban Quản lý Trại sáng tác được vắng mặt một số
buổi vì công việc cơ quan không cho phép tôi dự đủ. Điều này tôi cũng đã bày tỏ
với nhà thơ Lê Đình Cánh từ trước. Ông cười hiền, bảo: "Thế à. Tiếc nhỉ
! Nhưng hễ rảnh buổi nào là đến với anh em bạn bè của Trại cho vui đấy nhé".
Lúc quay lại hội trường, Phạm Hổ ân cần dăn: "Này em, chớ có nản mà bỏ
viết cho thiếu nhi đấy nhớ... Đồng hành với trẻ em là khó lắm đấy... Đã có nhiều
người bỏ cuộc rồi ... ". Ông lại cười, một nụ cười buồn...
Sau buổi khai mạc, phần vì bận
việc cơ quan, phần vì tự trong lòng thấy ngài ngại, nên tôi không tham dự thêm
một buổi nào nữa. Hôm bế mạc và liên hoan kết thúc, tôi có đến dự. Không khí
bia rượu và sự chia tay thường chỉ đem đến cho người ta một cảm xúc có phần
thái quá. Khách khứa từ các cơ quan báo chí và Hội nhà văn đến đông lắm. Các
nhà văn Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, nhà thơ Phạm Hổ là tâm điểm vây quanh của mọi
người. Tôi đứng ở một góc, cụng ly bia với nhà thơ Trần Nhật Lam. Lê Đình Cánh,
những người mà tôi quen biết. Mới chỉ khẽ chạm đến văn chương thôi cũng là đủ để
biết "mùi ca ngâm" của nó... Tôi nghĩ, thây kệ, điều quan trọng
là mình có viết được hay không và viết ra sao thôi ?... Tôi muốn chào Phạm Hổ một
câu nên đành phải đợi lúc vãn người. Ông đứng nói chuyện với nhà văn Vân Thanh
và nhà thơ Lê Đình Cánh. Ông nhận ra tôi, vỗ nhẹ vai tôi bảo: “Mình có để ý
những hình như em không đến sinh hoạt cùng Trại?” Tôi vâng khẽ nhận lỗi và
lắp bắp lời giải thích. May có nhà thơ Lê Đình Cánh đỡ lời biện hộ cho. Phạm Hổ
lại cười hiền: “Không sao mà… Nhớ là đừng bỏ viết cho thiếu nhi đấy, em…”.
Những năm sau này, lâu lâu lại
thoáng thấy Phạm Hổ ở đâu đó, phần lớn là qua tivi. Thấy ông mỗi năm mỗi già
song sự điềm đạm và hiền hậu thì dường như mỗi dày thêm. Tôi nhớ, có một lần bật
ti vi lên, thấy đưa cảnh nhà thơ Phạm Hổ đến thăm một trường mâm non nào đó ở
Hà Nội (hình như trương Việt Triều thì phải ?). Ông cười hiền, trả lời rất hóm
hỉnh các câu hỏi của đám trẻ. Ông đọc thơ ông cho chúng nghe. Và trong số đó có
bài thơ Xe cứu hỏa, bài thơ mà tôi thuộc lòng từ tấm bé : "Mình
đỏ như lửa/ Bụng chứa nước đầy/ Tôi chạy như bay/ Hét vang thành phố/ Nhà nào
có lửa/ Tôi dập được ngay/ Ai gọi cứu hỏa/ Có ngay, có ngay!".
Phạm Hổ đọc chậm rãi. Nhịp điệu theo từng câu
từng chữ. Vừa đọc ông vừa làm điệu bộ. Đám trẻ con khoái lắm, chúng thích chí
cười. Ông cười theo, và tôi thoáng thấy nơi khóe mắt có ngấn nước. Nước mắt của
sự nhân hậu, bao dung và sẻ chia. Nước mắt của người suốt đời đi theo bọn trẻ.
Chúng như đám con cháu ông ngày ngày quây quần bên ông. Nước mắt của người tự
lượng sức mình, biết chẳng bao lâu sẽ xa chúng mà đi vĩnh viễn ...
Tôi lại nhớ lời nhắc nhở của ông ngày ấy, rằng
hãy viết gì đó cho thiếu nhi, chớ nên bỏ cuộc. Tuy đã xuất bản được mấy tập
sách cho người lớn song tôi không quên viết cho thiếu nhi. Đăng rải rác, rồi đến
năm 2001, tôi cũng tập hợp lại thành một tập truyện cho thiếu nhi ("Công
cống mùa thu " - NXB Kim Đồng).
Khác với chiếc xe cứu hỏa của mình, hễ cứ
thấy ở đâu có lửa cháy là lao đến dập tắt ngay, còn riêng ông, ông lại luôn tìm
cách thắp lửa. Ấy là những ngọn lửa nơi tâm hồn mỗi đứa trẻ, những ngọn lửa
sáng tạo trong mỗi cây bút trẻ mà ông biết!... Đành rằng, viết về nhà thơ thì
phải bám vào tác phẩm của họ, nhưng theo tôi, Phạm Hổ, cao hơn là phẩm cách tốt
đẹp và lòng nhân hậu ông cho trẻ em, đối tượng mà ông đã dành cả đời văn. Còn với
riêng tôi, Phạm Hổ - người thắp lửa!
Thú thật, đã lâu rồi tôi không viết
cho thiếu nhi, trong số ba chục đầu sách đã ấn hành của tôi vẫn chỉ có một cho
thiếu nhi. Tôi không quên lời Phạm Hổ căn dặn, nhớ nằm lòng đấy nhưng quả thật
viết cho thiếu nhi không dễ khi mình đã già cỗi. Biết đâu, nay nhắc lại chuyện
ông xưa, Phạm Hổ lại “thắp lửa” cho tôi viết yieeps về thiếu nhi chăng?!...



Nhận xét
Đăng nhận xét