TRẦN ĐÌNH HIẾN
Dịch
thuật đếnvăn chương
Tôi thật không ngờ mình lại có chút duyên được gặp
dịch giả Trần Đình Hiến thường xuyên đến như vậy.
áCó thể khẳng định, với Trần Đình Hiến, dịch các tác phẩm
của Mạc Ngôn là quá trình ông chuyển ngôi vị từ một người dịch thuật trở thành
nhà văn đúng nghĩa. Điều này cho thấy ông đã đồng hóa được nguyên tác và biến
nó thành một ngôn ngữ khác (tiếng Việt) chứ không chỉ là người chuyển ngữ thông
thường. Đây là cái tài của riêng ông mà không phải người làm công việc dịch
thuật nào cũng làm được. Thế nên, Trần Đình Hiến, dịch để trở thành nhà văn là
vậy.
Trong số nhiều tác phẩm của nhà văn Mạc Ngôn được dịch
và xuất bản ở Việt Nam thì dịch giả Trần Đình Hiến chiếm 6 cuốn mà theo giới
nghiên cứu, đó là những tác phẩm điển hính đại diện cho phong cách Mạc Ngôn (Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi
giận, Rừng xanh lá đỏ, Tửu quốc, 41 chuyện tầm phào). Cùng với đó, nhà văn Trần Đình Hiến còn là
dịch giả một số tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn Trung Quốc khác như: Cây hợp hoan (Trương Hiền Lượng), Tô tem sói (Khương Nhung), Cây
không gió và Ngân thành cố sự (Lý
Nhuệ).
Chất lượng cao và sự thành công qua các bản dịch của
nhà văn, dịch giả Trần Đình Hiến về văn học đương dại Trung Quôc, đặc biệt
những tác phẩm của Mạc Ngôn đã được giới dịch thuật và bạn đọc Việt Nam khẳng
định, nên ở đây, tôi chỉ bàn về tính đặc
thù trong văn chương Mạc Ngôn sau khi nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết của ông
nhà văn này, để thấy sự khó khăn và cái tài dịch thuật của Trần Đình Hiến mà
thôi.
Để thấy được diều này, ta cùng trở lại lý do vì sao mà
Hội đồng Nobel văn học thuộc Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao giải cho Mạc Ngôn:
“chủ nghĩa hiện thực ảo giác hòa
quyện với những câu chuyện dân gian, lịch
sử và đời sống hiện đại được sáng tạo ngay trên mảnh đất quê hương ông”; thêm
nữa, thi pháp tiểu thuyết của Mạc Ngôn, ấy là, khác với lối kể chuyện truyền
thống xuôi chiều trong văn chương Trung Hoa cổ trung đại, Mạc Ngôn đã làm ngược
lại, ông đi tìm, nhặt nhạnh đâu đó các câu chuyện dân gian, hoặc hiện đại mang
ra kể, và từ các chuyện kể đó khái quát nên xã hội rộng lớn, mà người đọc thấy
thời cuộc, thấy được bóng dáng thời đại mình để rồi tự rút ra những thông điệp
cho mình, nói chung là vậy, song cần phải nói đến cái tài của Mạc Ngôn là các
câu chuyện đời thường, có vẻ rất thật, thậm chí trần trụi lại được ông nhào
luyện, khuấy đảo tít mù, đến mức gây ảo giác,... tạo không gian truyện riêng
có, đặng gây hiệu ứng tâm lý mê hoặc....
Thế nên, khi chuyển ngữ tác phẩm của Mạc Ngôn dịch giả
sẽ rất khó khăn trong việc bao quát chung, nắm bắt ý tưởng, theo kịp mạch văn,
“khúc chiết hóa” từng phân đoạn để không sa vào tình trạng mất phương hướng,
không kiểm soát được tình tiết và nội dung câu chuyện trong đó. Qua đó, đủ thấy
sự am hiểu khá tường tận về văn hóa Trung Hoa để đạt đến độ “thấu tình đạt lý” trong bản dịch. Thêm
nữa, văn của Mạc Ngôn giàu chất uy-mua, một thứ hài “ý tại ngôn ngoại”
nên không dễ chuyển ngữ chút nào, bởi không khéo, bản dịch sẽ mất chất này.
Trở lại những cuộc đàm thoại với dịch giả-nhà văn Trần
Đình Hiến. Biết tiếng ông đã lâu, nhưng phải đến khi về làm biên tập ở tạp chí Nhà văn &cuộc sông của Hội Nhà văn
Việt Nam thì tôi mới lần đầu gặp ông. Trần Đình Hiến bảo, ông yêu quý tờ tạp
chí này, bởi lịch sử lâu dài và uy tín của nó từ ngày đầu thành lập mang tên Tác phẩm mới rồi trải qua năm tháng với
nhiều lần đổi tên Tạp chí Nhà văn, Tạp chí Nhà vaw và tác phẩm và nay là Tạp chí Nhà văn &cuộc sống. Ông cũng
quý trong các vị tổng biên tập qua mỗi thời kỳ, nhất là những năm gần đây là
nhà văn Nguyễn Trí Huân và nhà thơ Trần Đăng Khoa. Vì quý trọng, yêu mến mà đến
thăm tòa soạn, để gặp gỡ và đàm đạo văn chương thôi, chứ không phải để tạo quan
hệ gửi bài công tác thông thường. Quả là không ít lần, nhà thơ Trần Đăng Khoa
và tôi mời Trần Đình Hiến cộng tác nhưng ông đều cười hiền từ chối, bảo không
có bản dịch hay để ông gửi đăng cả. Lại bảo, nếu có gì đặc biệt, mình sẽ gửi
các bạn.
Từ đầu năm 2020 đên cuối năm 2022, Trần Đình Hiến hay
đến Tạp chí lắm. Tòa soạn Tạp chí rời từ 65 Nguyễn Du về trụ sở Hội Nhà văn ở
số 9 Nguyễn Đình Chiểu, ông vẫn hay lui tới, kể cả thời điểm hạn chế đi lại vì
phòng dịch Covd 19 tuy có thưa hơn nhưng ông vẫn đến khi có thể. Ông tự đi bằng
chiếc xe máy Cub Tôm đời cũ, bảo nhà gần (phố Phan Bội Châu, Hà Nội) đi xe máy
cũng nhanh và tiện. Chuyện trò gần trưa thì ông về, dù nhiều lần nhà thơ Trần
Đăng Khoa níu giữ, mời ông dùng bữa
trưa. Ông từ chối khéo bảo về kẻo vợ con chờ cơm. Mỗi lần dến, ông đều ăn mặc
lịch sự, hay mang theo quà, sô-cô-la cho phái nữ và thuôc lá ngon cho phái mày
râu,...Khen ông sức khỏe tốt, ông bảo, nhờ trời vẫn đi được xe máy, rồi ông còn
khoe, vài năm trước ông vẫn tự chạy xe máy về quê cách mấy chục cậy số. Còn
khỏe ấy là còn lao động dịch thuật được. Thật mừng cho ông và hy vọng cho bạn
đọc chờ đợi,...
Chẳng biết các thành viên khác của Tạp chí thế nào,
nhưng tôi tin mọi người đều quý trọng một người có tài, có tâm và lịch lãm như
vậy. Riêng tôi, thực lòng tôi rất quý trọng ông, nên mỗi lần ông xuất hiện ở
Tạp chí, tôi vui vì biết mình sẽ tiếp nhận và học được từ nơi ông nhiều điều
sau mỗi buổi gặp gỡ như vậy. Có những lần thưa khách, cả buổi sang chỉ tôi với
ông ở tòa soạn, thầy trò đàm thoại vơi nhau, mặc sức chuyển từ vấn đề này dến
vấn đề khác, chuyện nọ sang chuyện kia, say sưa, không bị ai quấy. Tôi đặc biệt
“khai thác” từ nơi ông, mà tôi xem
như “mỏ quặng quý” tất thảy những gì
thuộc về văn hóa, văn học Trung Hoa. Cứ rỉ rả mà khai thác, mỗi lần một chút, đặng
tích lũy thêm kiến thức cho mình về lĩnh vực này. Sách thì đầy rãy ra đấy nhưng
qua sự thẩm thấu cùng những bình phẩm sâu săc của ông, vẫn thích hơn nhiều. Về
Mạc Ngôn, về các nhà văn đương thời, ngược sử về cận đại, trung đại, cổ đại
Trung Hoa, ông đều am hiểu, thấu tỏ. Có một vấn đề tôi đặt ra, ấy là tại sao,
trong khi văn xuôi đương đại Trung Hoa vẫn tiếp nối dòng chày cổ-trung-cận đại
thì ở lĩnh vực thơ phú, mặc dù từng có một nền thi ca Đường, Tống rạng rỡ bậc
nhất đông tây kim cổ thế giới, nay lại không có một tác giả, tác phẩm thơ nào
khả dĩ cả? Hình như, ông tỏ ra bất ngờ và lúng túng trước câu hỏi này của tôi.
Hiện thực cho thấy, cùng với Cao Hành Kiện và Mạc Ngôn đã giật Nobel văn học,
văn xuôi Trung Quốc đương đại còn hàng loạt tên tuổi khác như Vương Mông, Giả
Bình Ao, Thiết Ngưng, Khương Nhung, Tô Đồng...
và gần đây nổi bật với cái tên Tàn Tuyết. Ngẫm nghĩ, ông bảo là có thế
thật, nhưng lý giải cho thỏa đáng thì không dễ chút nào. Rồi ông chuyển hướng,
bảo là thơ hiện đại thì Đài Loan khá hơn Trung Hoa đại lục, có lẽ bởi, người
Đài Loan hiện giờ phần đông gốc rễ đại lục và dù họ đã qua mấy đời thì vẫn mang
nỗi tha hương, ấy là nỗi nhớ về quê cha đất tổ ở đại lục kia; chính nỗi hoài
quê hoài quán đó làm nên sắc thái u hoài đầy nỗi riêng chung trong thơ họ. Tôi
đồng ý với Trần Đinh Hiến về nhận định này. Nhưng còn lý giải sự mờ nhạt và
thiếu bản sắc thơ Trung Quốc đương đại thì vẫn còn là một câu hỏi mở,...
Tôi thử lý giải
hiện trạng này, Trung Hoa quá tự hào về nền thi ca Đường, Tống đỉnh cao của
mình hàng ngàn năm nay, đến mức, vô hình chung tự giàng buộc mình mà không thoát ra nổi. Cùng
với đó, sự phát triển quá nhanh chóng về đời sống xã hội và văn minh vật chất
khiến văn hóa nói chung và văn học (thi ca) không bắt kịp. Văn xuôi dễ bung
phá, chứ thi ca thì không. Chính sự hoàn thiện của thể loại, tính chất niêm
luật chặt chẽ của Đường thi, Tống từ vô hình chung gò bó trói buộc khiến các
nhà thơ khó thoát ra được, mà sự cách tân vốn không dễ thành.
Cách lý gải này của tôi, Trần Đình Hiến nghe, gật gù,
lẽ thế chăng. Song tôi biết, có thể ông thấy có lý nhưng chưa hẳn đồng tinh !?
Bẵng đi, đâu giữa năm 2023 thì phải, không thấy ông
đến Tạp chí, tôi tìm hiểu thì ai đó, hình như nhà thơ Quang Hoài bảo là ông yếu
đi nhiều, gần như một chỗ không ra khỏi nhà. Vậy là qua cái tuổi chín chục, con
người ta có cố gắng cũng khó vượt qua cái ngưỡng tuổi tác. Thế cũng là ông trời
chiều lắm rồi.
Có một điểm mờ
trong cuộc đời và sự nghiệp của Trần Đình Hiến, nhưng lại là điểm mở, biến ông với tư cách là một nhà
ngoại giao thành một nhà văn-nhà dịch thuật chuyên nghiệp. Tôi nghe nhà văn
này, nhà thơ nọ bàn về ông trong những lúc trà dư tửu hậu, rằng khi ông còn làm việc ở đại sứ quán Việt Nam tai nước
bạn, vì đam mê tìm hiểu và thu thập tài liệu văn hóa gì đó khiến phía họ nghi
ngờ này nọ, nên buộc ông phải về nước. Vậy là sự nghiệp ngoại giao của ông bị
đóng lại. Nếu không, rất có thể ông thăng tiến lên vị trí cao hơn song chắc gì văn
học Việt
Chẳng hiểu ông trời có cho Trần Đình Hiến khỏe lại, để
ông tiếp công việc nghiên cứu và dịch thuật của mình thêm ít năm nữa? Thiết
nghĩ, con người ta, có tài đến mấy thì tinh anh cũng chỉ phát tiết ở một thời
điểm và kéo dài đến một thời gian nào đó, chẳng thể dài cả đời được. Vậy nên,
chúng ta cũng không nên trông chờ ở người đã đến ngưỡng U100 như Trần Đình Hiến.
Và rồi, ông giời cũng gọi ông đi mà chẳng rõ ông có để
lại gì còn chưa xuất bản hay không? Nhưng có một quan điểm của riêng Trần Đinh
Hiến khi ông kiến giải về tên gọi “Thiền phái Trúc Lâm” của Phật giáo
Việt Nam, tôi xin tiện nêu ra đây. Ông nghĩ và lý giải khác với cách hiểu thông
dụng hiện nay. Hơn một lần, tôi nghe Trần Đình Hiến lý giải điều này, vả lại
cũng không rõ ông có bài viết nào (công bố hay chưa?), nên nay chỉ nêu lại những
gì nghe được từ chính ông, tôi không bênh vực ông và cũng không có ý định bàn
luận đúng sai ra sao. Chỉ là cách lưu giữ ý kiến của một người đã khuất (dịch
giả-nhà văn Trần Đình Hiến). Theo Trần Đình Hiến, hai từ Trúc Lâm
trong tên gọi “Thiền phái Trúc Lâm”, một dòng thiền với các vị Trúc Lâm tam
tổ là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang từ thế kỷ 13, được
hiểu “Rừng Trúc” là không đúng. Người Việt ở vùng Bắc Bộ xưa khi phát âm
không phân biệt rõ hai âm CH và TR nên sau này hiểu lầm từ CHÚC là TRÚC.; thế nên,
tên Thiền phái Phật giáo là Chúc Lâm thành Trúc Lâm;
theo đó, từ Chúc với nghĩa hiểu là sự vui mừng (ví như chúc mừng,
chúc tụng), chứ không phải Trúc là cây trúc (một loại cây họ tre nứa
theo phân loại thực vật); còn từ Lâm, âm Hán Viêt, đồng âm với từ “lâm”
chỉ Rừng, những mạo tự khác và cũng mang nghĩa khác, cụ thể trong trường hợp này,
“lâm” là chỉ sự hiện diện, đến đây, đang ở đây (ví như lâm trận, lâm bệnh, giá lâm…). Với ngữ nghĩa như thế, “Chúc Lâm”
là sự hàm ý rằng, Phật đã đến đây, hiện diện ở đây và ấy là sự đáng vui mừng. Triết
lý nhà Phật thâm sâu như vậy chứ không đơn thuần sơ sài là ở nơi Rừng Trúc. Vậy
nên, tên gọi của Thiền phái Phật giáo xuất phát từ thế kỷ 13 với trục khung Thăng
Long-Vĩnh Nghiêm-Yên Tử là Chúc Lâm (không phải Trúc Lâm) và cách gọi chuẩn phải “Chúc Lâm thiền
phái”
Thêm một lần nữa nhấn mạnh, tôi nêu lại ý kiến này trong
bài viết, hoàn toàn không có ý tranh luận đúng hay không đúng mà đơn thuần chỉ
là một cách lưu giữ một quan điểm kiến giải của dịch giả-nhà văn-nhà nghiên cứu
văn hóa Trần Đình Hiến, khi ông không còn nữa.
Bởi với ngần ấy thứ để lại, Trần Đình Hiến cũng đủ để ngạo với đời rồi!...
Nhận xét
Đăng nhận xét