Nguyên Ngọc
HẬU BÁO “VĂN
NGHỆ” VÀ “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” (trích)
…
Trong chiến tranh vệ quốc của Liên Xô
1939-45, đã có hàng trăm nhà văn nổi tiếng ra trận, nhưng bên ấy người ta vẫn
nói họ chờ sự xuất hiện của “nhà văn trung úy” tức người trực tiếp cầm súng chứ
không chỉ cầm bút. Ở ta cũng vậy, ngay cả tôi cũng vậy, dù có vào cuộc xông xáo
đến mấy, tôi vẫn là anh phóng viên hay anh nhà văn tự do, được phép lùi ra lúc
không thật cần hay không dám. Sau 1975, chúng ta chờ sự xuất hiện và lên tiếng
của “nhà văn binh nhì”. Bảo Ninh nhập ngũ năm 1969, sau Mậu Thân. Ấy là lúc miền
Bắc vét những thanh niên cuối cùng của mình ra trận, cả học sinh và sinh viên,
cho những trận đánh sinh tử cuối cùng. Bảo Ninh lại vào ngay Bắc Tây Nguyên, cửa
ngõ của toàn chiến trường miền Nam, những Đaktô, Tân Cảnh, Ngọc Hồi, Bờ Y…, nổi
tiếng với “những đồi thịt băm”, tên do chính lính Mỹ đặt…
Ở trường Nguyễn Du có lệ sinh viên ra trường,
thay vì nộp một luận văn, phải trình một tác phẩm tốt nghiệp và bảo vệ trước một
hội đồng gồm các thầy và một số nhà văn. Lại có lệ trường mời một số nhà văn, mỗi
người gọi là theo dõi, “hướng dẫn” hai hay ba học viên. Bảo Ninh thuộc nhóm của
tôi, nên tôi có tham gia “chấm” tác phẩm tốt nghiệp của anh, tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh. Đấy là một buổi bảo vệ thật hay và cảm động. Bảo Ninh nói vì sao
anh viết quyển sách này. Anh kể cùng ra trận với anh ngày ấy là hàng ngàn trai
trẻ bạn bè, trong đó có bao nhiêu người sáng sủa, tài năng, đặc sắc, đẹp trai,
đầy tương lai tốt đẹp hơn anh. Vậy mà họ đã chết hết, chỉ anh là cái thằng
xoàng xĩnh nhất còn sống sót và trở về. Sự sống sót của anh, sự còn lại trên đời
của anh, mỗi ngày còn sống của anh hôm nay là cực kỳ phi lý. Anh biết suy nghĩ ấy
của anh là vô lý, chiến tranh vốn cực kỳ tùy tiện, nó không chọn người kém chết
trước người giỏi chết sau. Nhưng sự sống sót của anh cứ như là một sự phản bội.
Bảo Ninh ra trận và đánh nhau ở Tây Nguyên
đúng lúc Tây Nguyên – mật danh là B3 – tạm tách khỏi B1 tức Quân khu 5. Tướng
Chu Huy Mân được điều lên B3 với ý định thành lập một Quân đoàn mới trên ấy.
Anh Đặng Vũ Hiệp cũng được điều lên làm Chính ủy Tây Nguyên.
Sau chiến tranh, có lần anh Hiệp đến chơi ở
Hội Nhà văn và tình cờ gặp Bảo Ninh. Anh bảo tớ đọc sách của cậu rồi, tớ biết tỏng
cậu ở sư 10, trung đoàn 24, tiểu đoàn 5, đúng không? Tớ là Chính ủy Tây Nguyên,
việc gì tớ không biết. Cậu không viết đúng sự thật. Bảo Ninh trả lời: Vâng, em
viết không đúng sự thật của anh, sự thật của người chỉ huy bao quát cả chiến
trường Tây Nguyên. Em viết sự thật của em, thằng binh nhì ở đáy tận cùng của
chiến trận, một sự thật khác ạ.
Cuộc đối thoại tuyệt hay. Còn Simonov thì
nói: Không ai biết hết về chiến tranh. Chỉ có nhân dân mới biết hết. Mà nhân
dân là một khái niệm trừu tượng. Không ai có thể tự xưng mình là nhân dân,
không có nhân dân nói chung. Nhân dân kỳ thực gồm từng người, và đặc biệt trong
chiến tranh, mỗi người có sự thật riêng của mình, số phận vô cùng riêng của
mình. Tất nhiên là trong cuộc chiến chung mà ta khẳng định vì chính nghĩa dân tộc,
nhưng làm cuộc chính nghĩa là từng người lính với sự thật và số phận rất riêng của
họ.
Ở buổi bảo vệ tốt nghiệp, Bảo Ninh còn nói:
Trong chiến tranh, người cuối cùng không được lựa chọn gì hết là người lính trần,
người chỉ có độc một ngôi sao trơ trụi trên khuôn vải đỏ hình chữ nhật của cấp
hiệu. Quyền lựa chọn là của các cấp chỉ đạo, chỉ huy: hôm nay, trong trận huyết
chiến này, sử dụng đại đội A hay đại đội B? Trung đội 1 hay trung đội 2 sẽ là lực
lượng xung kích? Tiểu đội nào lên trước tiểu đội nào lên sau? Tổ nào là tổ 1,
tiếp sau mới đến tổ 2… Quyền lựa chọn đó của người chỉ huy là số phận của người
lính. Nó rơi xuống trên đầu người lính trần, anh vào trận, hoặc anh nhanh tay
hơn kịp chọc lưỡi lê sắc lạnh vào đúng tim con người cũng trần trụi như anh ở
bên đối diện. Hoặc con người cũng vô danh và cũng hoàn toàn không có quyền lựa
chọn đó nhanh tay hơn anh một phần nửa của giây và kẻ bị chọc đúng tim là anh.
Lạnh lùng đơn giản là vậy…
Tôi đọc tác phẩm nổi tiếng Thân phận con người
(La condition humaine) của André Malraux viết về cuộc khởi nghĩa năm 1927 ở Thượng
Hải của những người cộng sản phối hợp Quốc dân đảng Trung Quốc, rồi lại phản bội
nhau, có cả nhân vật Tưởng Giới Thạch và Chu Ân Lai. Đọc đã lâu lắm, hầu như đã
quên sạch, nhưng lại vẫn nhớ một nhân vật phụ tên là Tchen. Để có vũ khí cho khởi
nghĩa, anh được phân công ám sát viên gác cổng của đối phương, cướp lấy giấy tờ
để tìm ra kho súng. Anh đã bí mật đâm chết nó bằng một nhát dao găm. Malraux kể,
điều khiến Tchen kinh hoàng đến lạnh toát suốt xương sống là anh không ngờ thịt
người lại mềm thế, trong khi anh chờ đợi một kháng cự cứng rắn dữ tợn hơn nhiều
của sự sống. Chính việc giết một mạng người lại dễ dàng đến vậy khiến anh hoảng
sợ, sẽ ám ảnh cho đến chết. Mà chiến tranh, nói gì thì nói, bất cứ chiến tranh
nào, thì cụ thể cũng là người giết người. Tôi ở Tây Nguyên nhiều, tôi biết dã
thú như con hổ chỉ giết khi nó cần ăn để tồn tại, hoặc lúc phải tự vệ. Người là
con vật duy nhất giết vì những “lý tưởng” với lại những “chủ nghĩa”…
Nhiều người hẳn còn nhớ sau kháng chiến chống
Pháp, có lúc ở miền Bắc, ta đã giảm gần tám vạn quân, chuyển một số đơn vị tạm
sang làm công nhân ở các nông trường, công trường. Tôi đã có thời gian gọi là
đi thực tế ở công trường xây dựng Khu Gang thép Thái Nguyên, cùng anh Xuân Cang
vốn ở Tổng công đoàn, và chị Lê Minh, con gái cụ Nguyễn Công Hoan cũng lên đây
vì có chồng là anh Diệp làm Phó Giám đốc công trường. Khu Gang thép Thái Nguyên
do Trung Quốc viện trợ, cực kỳ lạc hậu về công nghệ, máy móc toàn là thứ thừa
thãi vứt đi. Xây dựng một khu công nghiệp sắt thép hiện đại mà hầu hết làm theo
lối thủ công, công nhân đông lúc nhúc đến hai vạn người, tuyệt đại đa số là
lính chuyển ngành, cộng cả vợ con đến bốn vạn người. Quản lý cả cái xã hội hết
sức ô tạp vừa lính vừa nông dân, lổn nhổn đàn ông, đàn bà, cả trẻ con đủ loại ấy
là Tổng giám đốc Đinh Đức Thiện. Ông Thiện là em ruột ông Lê Đức Thọ, nhưng
khác hẳn ông anh. Một vị tướng phóng khoáng, thẳng thắn, giản dị và chân thật,
quyết đoán mà rộng rãi, dễ gần. Ông rủ ba nhà văn đi thực tế chúng tôi cùng ở
chung, hằng ngày cùng ăn cơm, và ông đặt ra một quy định nghiêm nhặt: suốt ngày
lăn lóc bao nhiêu công việc căng thẳng rồi, đến bữa cơm tuyệt đối cấm nói chuyện
công tác nữa. Và đấy là cơ hội để ông kể vô khối chuyện tiếu lâm và nói tục ghê
gớm, bất chấp có chị Lê Minh ngồi ở đấy.
Cái công trường kỳ lạ ấy đông và phức tạp đến
nỗi nó có cả một tòa án, và cái tòa án ấy đã mấy lần tuyên tử hình những công
nhân nguyên là lính nay phạm tội giết người. Hôm ấy lần đầu tiên tôi thấy ông
Thiện vi phạm chính quy định của ông trong bữa ăn. Mọi người bỗng im lặng khác
thường. Ông Thiện vốn quen có thói nói to, hôm nay ông nói chậm và nhỏ, gần như
thầm thì. Ông bảo: Ở đây có cậu Ngọc là lính, không biết đã lần nào trực tiếp
ra trận và tự tay giết người chưa. Cái cảm giác lần đầu tiên tự tay giết người,
nhất là đâm lê hay đâm dao, chứ không phải bắn súng từ xa, là ghê gớm lắm, dù
là giết kẻ thù vì chính nghĩa gì gì đi nữa. Nhìn thằng lính mới giết người lần
đầu, biết ngay, mất ăn mất ngủ, bơ thờ, thất thần. Nhưng lạ thế, lại không gì dễ
quen, dễ say bằng giết người. Còn ham nữa là khác. Hóa ra con người là loài vốn
nuôi sẵn thú tính hoang dã… Cậu công nhân bị tử hình hôm nay là lính đã từng
quen giết người, đã coi giết người cũng thường thôi, gây sự với nhau một chút
đã có thể rút dao và ra tay… Nên nhớ từ nay ta sẽ phải sống trong một xã hội
như thế. Người thật sự từ chiến tranh trở về dẫu muốn đến đâu cũng không thể
còn là con người bình thường như trước nữa. Tớ cho ở đời khó nhất là giữ được
nguyên vẹn tính người tinh khôi, khôi phục tính người sau khi đã thật sự đi qua
chiến tranh…
Mà hồi đó mới là năm 1959, mới kết thúc chiến
tranh chống Pháp được mấy năm, còn chưa bùng nổ chiến tranh miền Nam khốc liệt
gấp mấy.
Trong văn học Việt Nam theo tôi có hai cuốn
sách đặc sắc về cuộc đấu tranh cực kỳ khó khăn để giữ lấy tính người, Chuyện kể
năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn là một, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là hai.
Sách của Bùi Ngọc Tấn là chuyện ở tù, nhưng không hề nhắc gì đến tra tấn. Chỉ
có một chế độ kiên trì từ ngày này qua ngày khác quyết hạ nhục con người cho đến
cùng, quyết tiêu diệt cho kỳ sạch nhân cách người của họ, biến con người cho kỳ
thành con vật. Suốt mấy năm ròng, bằng mọi cách, họ cố trát bùn đen lên tâm hồn
anh. Nhưng Bùi Ngọc Tấn là một hiện tượng kỳ lạ của loài người. Không một chút
bùn nhơ nào thấm được vào anh. Thậm chí một chút căm thù đối với kẻ quyết hại
mình anh cũng không có được. Vẫn mãi mãi trong veo, nhân hậu, mãi mãi thanh sạch
như một sinh linh vừa ra đời. Bùi Ngọc Tấn là chiến thắng tuyệt đối của cái Thiện,
cái Đẹp, chống lại cái Ác, cái Xấu.
Trường hợp Bảo Ninh khác và có thể còn khó
hơn. Bởi chiến tranh là lấy cái Ác để diệt cái Ác.
Cho tôi kể một trận đánh chưa từng được biết
đến trong một cuộc chiến tranh nào khác. Bấy giờ, Mỹ dùng quân Nam Hàn làm lính
đánh thuê, tập trung chủ yếu ở Khu 5, từ Quảng Nam đến Khánh Hòa. Họ được giao
một nhiệm vụ duy nhất: tàn sát dân ở bất cứ nơi nào họ đến, để gây khiếp đảm. Họ
tràn vào các làng, và không vì lý do nào hết, giết sạch không tha một ai, đàn
ông, đàn bà, người già, trẻ con. Hồi bấy giờ ta xác định đối tượng tác chiến
trên chiến trường, thứ nhất là quân Mỹ, thứ hai là quân Sài Gòn, không có tên
quân Nam Hàn trong thứ tự đó. Nhưng sau khi nhận ra ý đồ của đối phương, ta quyết
định tập trung đánh một số trận có tính chất cảnh cáo với quân Nam Hàn. Dữ dội
nhất là trận diệt sạch một tiểu đoàn Nam Hàn ở Đồi Tranh Quang Thạnh, Quảng
Ngãi. Tư lệnh Chu Huy Mân trực tiếp ra lệnh nghiêm khắc: Trận này tuyệt đối
không được bắt tù binh! Và lính ta đã chấp hành triệt để. Tên địch nào còn ngắc
ngoải đều bị đâm cho kỳ chết hẳn bằng dao găm, bỏ xác phơi lại trên trận địa.
Còn hai trận đánh quân Nam Hàn khác ở Quảng Đà, diệt sạch hai đại đội, cũng
đúng cùng một cách. Từ đó quân Nam Hàn thay đổi hẳn thái độ, chấm dứt hẳn tàn
sát bừa bãi, và thành trung lập. Quân ta hành quân sát đồn, chúng đều để yên,
chỉ phản ứng khi ta chủ động nổ súng trước.
Vâng, đấy là chiến tranh thật, cuộc chiến
tranh đã bắt đầu vì chính nghĩa dân tộc. Dù càng về sau nó đã lâm ngày càng sâu
vào chiến tranh ý thức hệ, biến thành một cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn…
Chiến tranh dù thường ồ ạt vậy, kỳ thực con
người trong cuộc lại có lúc rất cô độc, bơ vơ. Trong Nỗi buồn chiến tranh có một
cảnh thật lạ lùng. Trận đánh đã tàn, bóng đêm đã xuống. Trận địa chỉ còn những
xác chết ngổn ngang. Và chỉ còn sót lại hai người lính sống sót, một ở bên này
một ở bên kia. Hai con người bị cái chết của cuộc tàn sát điên cuồng bỏ quên
trên một thế giới không còn người. Họ bỗng muốn đi tìm nhau. Nhưng họ nào đâu
có biết tên nhau để gọi. Anh lính miền Bắc loạng choạng lội qua những xác chết
còn đẫm màu, thống thiết gọi: Ngụy ơi, Ngụy ơi, mày đang ở đâu? Mày đang ở đâu,
Ngụy ơi!… Cứ như tiếng gọi thảm thương và tuyệt vọng song vẫn còn cố không để mất:
Còn có con người không, hỡi cái vẫn muốn được gọi là nhân loại?
N.N.

Nhận xét
Đăng nhận xét