@@@
NGUYỄN VĨNH TIẾN
Kiến
trúc Chữ, Hội họa Chữ và Âm nhạc Chữ
(Nguyễn Chu
Nhạc)
Thực lòng, tôi định viết về Nguyễn Vĩnh Tiến nhưng
chưa biết bắt đầu vẽ chân dung anh như thế nào, bởi con người đa tài này thật
khó nắm bắt?...
Nhưng sao không bắt đầu chính bằng cái sự khó nắm bắt này nhỉ? Ấy là khoanh một vòng tròn lớn.
Rồi xem Tiến có cái gì hay thì nhặt bỏ chúng vào cái vòng tròn đó để quan sát
và phân tích. Nào, kiến trúc sư, làm thơ, sáng tác nhạc, thêm vẽ nữa…
Trong bài viết này, tôi không phân tích về nghề kiến
trúc và cái tài hội họa của Nguyễn Vĩnh Tiến, mà chủ yếu bàn về nghệ thuật thơ của anh, cùng với đó là
âm nhạc, yếu tố quan trọng làm nên tính chất dân gian đương đại trong thơ-nhạc
của Nguyễn Vĩnh Tiến.
“Ông, tờ mờ sáng ông đi về phía núi/ Đồi núi mở ra
câu chuyện buồn trung du...” Tôi bắt dầu câu chuyện về anh chàng “bốn trong một” này bằng câu thơ, cũng là
lời mở ca khúc “Ông tôi”, xuất phát
từ một bài thơ của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, cha anh, bởi nó đúng với Nguyễn
Vĩnh Tiến, chí ít từ buổi đầu tiên kế thừa, dấn thân vào kiếp thơ nhạc, cho đến
lúc này.
“Thi nhân sầu/
vì vạn sự đổi thay/ con người chẳng bao giờ đạt Đạo...”, một bài thơ đầy
tính triết học, Nguyễn Vĩnh Tiến khai mở dòng triết luận man mát pha trộn giữa
Phật giáo và Đạo giáo như thế, bởi anh ý thức được sự gian khó, cực nhọc song
cũng đầy niềm vui và nỗi buồn trong hành trình Thi-Nhạc-Họa của mình, khi mà đã ở vào cái thế “giờ tuổi giống triền đê/ chỉ thoải thoải dốc đổ về bến sông ”.
Chất đồng dao trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến.
Tôi khẳng định, chính chất đồng dao trong thơ anh là
nền tảng, hồn cốt làm nên chất dân gian đương đại trong âm nhạc của mình. Chất
đồng dao từ vùng đất trung du Phú Thọ hay nói rộng lớn hơn từ cả vùng châu thổ
Sông Hồng trong hệ ngôn ngữ của anh vấn vít, xoắn xít vào nhau, quyện thành một
khối, khó tách bạch ra được. Với Nguyễn Vĩnh Tiến, điều bất ngờ là khi một ca
khúc ra đời, chẳng rõ lời thơ hay giai điệu, cái nào hình thành trước? Kể cả
những bài thơ tồn tại dưới dạng một thi phẩm, thì có thể, một ngày đẹp trời nào
đấy, nó được cất lời thành ca khúc, chỉ là sớm hay muộn, bởi thanh âm giai diệu
đã có sẵn trong từng câu thơ rồi . Thơ trong nhạc, nhạc trong thơ. Dòng chảy ấy
trở nên cồn cào và độc đáo.
Nguyễn Vĩnh Tiến có cả sê-ri ca khúc về người thân
trong gia đình, bà tôi, ông tôi, cha tôi, mẹ tôi.... mà ở đó, phần lời đều là
thơ, đều xứng đáng là một thi phẩm độc lập:”Nhớ
làng tôi, từng dòng mương xanh bay bay
bay bay... Nhớ bà tôi, một trăm năm rồi ngọn cỏ hóa mây trời... Cười cười một
chuỗi, trời thử bụng ta, có mùa thóc lép lợp trên mái nhà, có mùa hoa cà tự
nhiên tím tái, bà ví lông gà, vàng như vườn cải...”. Nguyễn Vĩnh Tiến đã vẽ
lên một làng quê vô cùng ấn tượng (mà
rộng ra là một nông thôn miền Bắc Việt
Nam điển hình) dân dã, dung dị, thân thương, gần gũi và đầy vất vả nghèo
khó qua hình tượng người bà. Câu thơ tài tình “Một mình bà đội cả trời nắng to” trong bài thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
thực ra được viết từ năm 10 tuổi, nhân một lần về thăm bà, hồn nhiên, thật thà
ngày ấy lại làm nên ngòi châm kích hoạt và chắp cánh cho ca khúc Bà tôi nổi tiếng sau này, được xem như
sự khai mở sự nghiệp ca nhạc của anh, mang tính chất dân gian đương đại riêng
biệt. Hay như, những câu thơ đầy chất đồng dao: “Quê tôi cả thẹn hay lo/ Dòng sông vắng khách con đò trầm ngâm/ Bụi tre
thích đứng cười thầm/ Giàn bầu giàn bí thích cầm tay nhau/ Con chim sẻ nhớ bẹ cau/ Con chào mào lại nhớ
màu ổi ương”(Tuổi tôi); “Tháng
tám đã sắp cạn rồi/ Ngoài song tháng chín đã ngồi trong sương/ Anh mơ hẻo lánh
con đường/ Cánh đồng hoa dại nằm vương đôi mình”... Có thể thấy, rất nhiều
những câu thơ mang chất đồng dao và chất ca dao mới trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến,
thơ đến tự nhiên như hơi thở:“Bỗng dưng
một cánh chuồn chuồn/ Lấy của tôi một nỗi buồn bay đi/ Để cho hoa lá ùa về/ Để
tôi lạc giữa bốn bề là tôi ” (Một
cánh chuồn chuồn)…
Với thủ pháp cơn mưa đồng dao và ca dao mới này, thơ
Nguyễn Vĩnh Tiến cứ trườn đi một cách uyển chuyển, khó nắm bắt, mà hay gây bất
ngờ bởi những câu thơ xuất thần. Bất ngờ, những điều tưởng như phi lý song lại
chấp nhận được vì ở một tổng thể hợp cảnh hợp ý hợp tình. Ấy là cái nét rất
riêng và là điểm mạnh của thơ Nguyễn Vĩnh Tiến. Lẽ dĩ nhiên, chất liệu đồng dao
vô cùng linh hoạt này được nhào luyện bởi yếu tố kiến tạo hình họa chồng lớp
màu sắc, sự nhòe trong câu chữ, độ loang của Màu Nước, mảng miếng của hội họa
lập thể và cả sự hư ảo của hội họa trừu tượng. Đó chính là điểm mạnh riêng có
trong thơ anh.
Thơ
cấu trúc
Thực ra, đây chỉ là cách gọi rút gọn, khi tôi chưa tìm
được cách gọi khác chuẩn hơn để diễn đạt yếu tố kiến tạo kiến trúc trong thơ
Nguyễn Vĩnh Tiến mà thôi. Bản thân là một kiến trúc sư, lại rất mạnh về thiết
kế quy hoạch, nên có thể xem, Nguyễn Vĩnh Tiến mang chất nghề nghiệp (kiến tạo không gian hình họa) vào thi ca
và cả âm nhạc của mình. Sự ảnh hưởng ấy là yếu tố tự thân, lâu thành quen, gần
như bản năng, dần dà làm nên phong cách riêng, định dạng thơ Nguyễn Vĩnh Tiến,
mà qua đó người ta có thể phân biệt thơ anh với thơ người khác.
Trong lĩnh vực thiết kế quy hoạch kiến trúc, người ta
phải thực hiện việc tổ chức sắp xếp từ tổng thể đến chi tiết, một cách khoa
học, chính xác, tỉ mỉ nhưng vẫn vô cùng lãng mạn (lãng mạn trong không gian mở và gợi của những kiến trúc sư có tài)
để tận dụng tối ưu không gian, thậm chí chiếm lĩnh không gian có thể phóng
chiếu tối đa tâm hồn, tầm nhìn, khi mà con người trong kiến trúc bị hạn chế bởi
yếu tố chịu lực của cấu trúc và vật liệu. Còn trong không gian nghệ thuật,
người ta có thể làm được hơn thế, vượt qua được giới hạn thông thường. Tôi
nghĩ, trong thơ ca và âm nhạc, kiến trúc sư Nguyễn Vĩnh Tiến đã làm được cái
việc “vượt qua giới hạn thông thường”,
làm phong phú thêm cấu trúc thi ca và âm nhạc của mình, với sự hỗ trợ đắc lực
của chất liệu đồng dao.
Tìm đọc những bài thơ cũ, cả những bài thơ được anh
phổ nhạc thành ca khúc, đều nhận diện phong cách này rất rõ: “Tôi như tảng đá ong nham nhở/ Khắc làm sao
tên của tháng ngày em/ Chỉ mong sao nước chảy đá mềm/ Em đừng gọi tôi bằng tên
bằng tuổi/ Em đừng ví tôi nỗi suối niềm sông/ Tôi là chòi hoang, chờ em nghỉ
giữa đồng” (Lại trôi) ; “Anh đã lúng túng
mùa gieo mạ/ Anh đã quá nắng ngày gieo mầm…Anh đã khói úa triền đê vàng/ Anh đã
lỡ chuyến đò qua ngày/ Giờ chiều neo u ám .../ Anh vẫn nhớ rõ bàn tay mềm/ Lưng
đã thắt đáy mùa Xuân tròn/ Em đã lấp loáng mùa vun trồng” (Mạ non ửng mầm)…
Tôi không
thể cứ lạc lối trong không gian “kiến
trúc chữ” và “hội họa chữ” mà
Nguyễn Vĩnh Tiến kiến tạo nên, với vô vàn những khúc thơ cấu trúc tầng tầng lớp
lớp như vậy? Trong không gian hình họa được tác giả kiến tạo, có đủ không gian
bốn chiều (rộng hẹp, cao thấp, dọc ngang
và thời gian nữa), thấy sắc màu, giai tầng, ẩn hiện, thực ảo, ma mị, phân
tâm ... Nguyễn Vĩnh Tiến đã chuyển hóa tất thảy những gì mình đang ấp ủ trong
nghệ thuật kiến trúc mà ngoài đời còn chưa thực hiện được vào thơ ca và âm nhạc
của mình. Trong không gian hình họa ấy, hay đúng hơn là trong thế giới của trí
óc tưởng tượng riêng mình, Nguyễn Vĩnh Tiến mặc sức thoải mái kiến tạo..Và
chính vì thế, nó ảnh hưởng đến hình thức thơ của anh.
Tính triết
luận
Triết học đã là sự đam mê từ thuở tuổi 20 của chàng sinh viên Kiến
trúc khi bắt đầu đọc theo hệ thống triết học Hy Lạp, triết học Pháp và Triết
học Đức. Về sau, Tiến thổ lộ mới đủ tuổi ngấm dần triết học Phật giáo và Đạo
giáo. Bên cạnh đó, anh còn say mê các sách Tâm lý học và Lịch sử: “Giật
mình lại thấy trống không/ Vừa hình hài thế, đã bong bóng rồi” (Nhìn cánh nhạn); “Tôi
chưa kịp lạc trong những khúc rẽ/ Thì mưa vết thương đã phủ những ngày lành
.../ Tôi có những ngọn cỏ màu xanh/ He hé nhú bên rìa niềm hy vọng” (Vết thương và lũ thời gian). Nhiều lắm
những bài thơ, câu thơ mang tính triết luận.
Chất triết luận là một điểm
mạnh tạo nên tính khái quát và sức nặng cho thơ Nguyễn Vĩnh Tiến. Nó làm bài
thơ thoát khỏi sự tẻ nhạt, chàng màng, à ơi thường thấy. Mỗi bài, người ta đều
cảm nhận được tác giả khái quát một điều gì đấy, hay gửi thông điệp nào đó, mặc
dù chưa hẳn đã đúng, đã hay hoặc mang tính phổ quát, song rõ ràng là có ý tưởng
Thơ Nguyễn Vình Tiến còn
thấp thoáng dự cảm về một dương gian nhập nhoạng, cùng đó là tâm thế những nỗi
buồn trung du, vùng đất sinh thành, nuôi nấng tuổi thơ. Khi còn là sinh viên,
anh đã đạt giải cao nhất một cuộc thi thơ của ngành Giáo dục, bài thơ “Cái
roi tre” do nhà thơ Trần Đăng Khoa làm chủ khảo. Anh có một quan niệm thú vị, là cái kết
bất ngờ trong thơ, tôi đã phân tích trong bài viết khác.
Nguyễn
Vĩnh Tiến, từ buổi ban đầu, cái ngày mà tôi mường tượng về anh “một con sẻ nhỏ xa nhà, sang sông”, rời
mảnh đất Phú Thọ về Thủ đô học hành, rồi sang Pháp du học, lại trở về Việt nam,
thì đến giờ, cũng đã hơn ba mươi năm qua, anh thực sự thành một con đại bàng cứng
cáp giang đôi cánh rộng bay lượn giữa bầu trời thơ ca nhạc họa!...






Nhận xét
Đăng nhận xét