@@@
Trịnh Tuyên,
lão chăn dê xứ Thanh.
Sở
dĩ tôi đùa vui gọi nhà văn Trịnh Tuyên như thế, bởi truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê là truyện ngắn
hay, một trong ba truyện mà tôi chọn để giới thiệu trên trang của Hội Nhà văn
Việt Nam (vanvn.net). Sau đó, truyện
ngắn này còn được nhà văn Nguyễn Văn Thọ chọn và nhà thơ Trần Đăng Khoa, Tổng
biên tâp, phê duyệt đăng ở số 2 (bộ mới)
Tạp
chí Nhà văn & cuộc sống, Hội Nhà văn Việt Nam.
Đây là một trong mấy truyện ngắn khới
đầu nghiệp văn của Trịnh Tuyên. Tuy xuất hiện trên văn đàn muộn nhưng Trịnh
Tuyên đã nhanh chóng khẳng định mình ở thể loại truyện ngắn và chỉ trong vòng
gần chục năm, ông đều đặn xuất bản mấy tập truyên ngắn, đó là Những mảnh vỡ
của số phận (2012), Hang cóc thần (2014), Giấc mơ lạnh (2016), Nhớ đêm thời xa ấy (2018),…
Trịnh Tuyên là hội viên Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa và
hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Mặc
dù. Trịnh Tuyên viết đều cả văn và thơ, nhưng bạn văn chương và bạn bè nói
chung chẳng ai gọi ông là nhà thơ cả,
Phải chăng, truyện ngắn của Trịnh Tuyên nổi trội hơn thơ ông nên người ta ấn
tượng một Trinh Tuyên văn? Song có lẽ, con người góc cạnh, tính cách quyết
liệt, phản biện sẵc sảo, đã làm nên một Trịnh Tuyên-nhà văn?
1. Trịnh Tuyên văn,
Trịnh Tuyên chào làng văn, chào bạn đọc
bằng truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê,
và gần như lập túc, ông ghi dấu ấn, khiến bạn đọc ngoài xứ Thanh biết đến tên
ông, khi mấy tờ báo, tạp chí địa phương cùng đăng. Tôi nhìn nhận phẩm chất nhà
văn ở Trịnh Tuyên, khiến ông khác với nhiều người viết ngày ấy. Quả nhiên,
truyện ngắn này nâng vị thế của Trịnh Tuyên trong con mắt của dân chuyên
nghiệp, khi duyệt bài lên trang, nhà thơ Trần Đăng Khoa, Tổng biên tạp Tạp chí Nhà văn & cuộc sống , gật gù
bảo: “Truyện này chằng khác gì chuyện Chí
Phèo, Thị Nở thời nay”. Lẽ dĩ nhiên, đến nay, với gần trăm truyện ngắn đã
viết, Trịnh Tuyên còn có một số truyện ngắn khác khá chắc tay,
Hãy
xem Trịnh Tuyên viết gì. Có thể thấy, các truyện của Trịnh Tuyên tập trung vào
mấy mảng đề tài chính: chuyện chiến tranh và hậu chiến, chuyện về các loài vật,
chuyện mang tính trinh thám, vụ án, chuyện màu sắc tâm linh, và chuyện đời sống
xã hội, tình ái...
Nhìn
chung, như phần đông các cây bút viết theo bản năng vốn có, khởi thủy thường
chọn thủ pháp kể chuyện truyền thống, diễn biến câu chuyện theo trình tự thời
gian, dù đan xen hồi tưởng, ký ức, với nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (tôi), hoặc ngôi thứ ba (nó, hắn...), Trịnh Tuyrn cũng vậy. Hầu
hết, các nhân vật của ông kể chuyện ở ngôi thứ nhất, số ít truyện ở ngôi thứ
ba. Với thủ pháp vậy, tác giả dễ bề điều hành nhân vật theo chủ quan của mình
nên hay nặng cảm tính hơn là theo logic của sự việc, vấn đề. Tuy nhiên, Trịnh
Tuyên “bài binh bố trận” khá linh
hoạt, đã biết cách thoát ra khỏi sự nhàm chán của lối kể chuyện bằng cách thay
đổi kết cấu, khai mở gây sự chú ý, cài đặt chi tiết bất ngờ...
Có lẽ, chuyện chiến tranh
và hậu chiến là mảng đề tài Trịnh Tuyên để tâm khai thác. Mặc dù, bản thân
không nhập ngũ, không trực tiếp tham gia chuến tranh, mà là chiến sĩ công an, song
cũng là lực lượng vũ trang, vả lại, ban bè, người thân của ông tham gia quân
ngũ rất nhiều nên ông hiểu chuyện binh nghiệp và những vấn đề xã hội thời hậu
chiến... Ở mảng đề tài này, có các truyện Nhớ
thời xa ấy, Tên lính ngụy, Hồi ức một cung đường, Kẻ ném đá,... Nhưng có thể thấy, tác giả
chỉ hoàn thành việc kể chuyện, các nhân vật như thiếu hồn vía nên chưa để lại
dấu ấn đáng kể,
Trái ngược, màng đề tài
về đời sống xã hội và tình ái là thế mạnh thực sự của Trịnh Tuyên. Ông viết như
không, kể chuyện chơi vậy thôi nhưng hầu như truyện nào cũng sống động và khá
ấn tượng, mà qua đó, ông gửi gắm ý tưởng, triết lý nhân sinh, hoặc tự thân
truyện toát lên giá trị nhân văn và thông điệp về cuộc sống,... Cùng với Chuyện tình lão chăn dê, ở màng đề tài
này, có thể nhặt ra một số truyện chắc tay, như: Những mảnh vỡ của số phận, Giọt máu rơi, Đồng không mông quạnh, Ông kão câu cá, Cây
bút máy mạ vàng, Liên, Thiếu nữ bên bãi biển chiều thu, Bà Thanh- kiu, Chuyện
tình xóm núi, Những mùa dưa đi qua...
Cùng mảng đề tài về đời
sống xã hội, Trịnh Tuyên cũng khá thành công với những truyện về tâm linh như: Cây gậy của Lý Tước, Hang cóc thần, Giấc mơ
lạnh, Thần cây, Bí mật hang cá thần, Con rắn hổ lửa trên bàn thờ tổ, Con chuột
trong nhà thờ họ, Cối đá quý, Ma học trờ, Anh ơi em chết mất,...Tử những
giai thoại, chuyện kể mang màu sắc dân gian tâm linh, Trịnh Tuyên sưu tầm xây
dựng nên cốt truyện rồi đắp thêm da thịt phù phép thành truyện, và ở đây, quan
hệ nhân-quả được ông sử dụng thành triết lý nhân sinh, Vậy nên, yếu tố tâm linh
không phải là chuyện mang ra để hù ma,
dọa quả báo, mà như một sự nhắc nhở về đạo lý thiện lương, về nhân nghĩa ở đời....
Những chuyện vụ án,
chuyện mang màu sắc trinh thám cũng là một điểm nhấn trong sáng tác của Trịnh
Tuyên. Xuất thân ngành công an, nhiều năm là cảnh sát điều tra, Trịnh Tuyên có
vốn kiến thức phong phú, óc suy đoán logic, sự nhanh nhậy của một chuyên viên
phá án, nên ông khá chắc tay trong mảng đề tài này. Ở các truyện: Kẻ tự thú, Đánh ghen, Bóng đè, Ăn miếng trả
miếng, Tiếng chó sủa đêm, ông thỏa
sức tung tẩy với kinh nghiệm cảnh sát điều tra của mình. Không chỉ thế, Trịnh
Tuyên viết truyện như làm án, nên để dấu ấn nghiệp vụ điều tra trong hầu hết
các truyện ngắn của ông về việc cài đặt tình tiết và tiết tấu câu chuyện,...
Còn một mảng đề tài,
khiến Trịnh Tuyên khác nhiều cây bút văn xuôi, ấy là về các loài vật. Để ý, các
truyện của ông đều thấp thoáng bóng dáng các con vật, (hoăc cây cối, đồ vật), mà ở đó, chúng là các nhân vật phụ, có liên
quan, và có tác dụng làm nổi nhân vật chính. Nhiều truyện, con vật trở thành
nhân vật chính, như: Đôi chim cu già, Sữa
chó, Chó đẻ, Con mọt, Con khỉ, Con mèo tam thể, Con ngựa già, Con lợn nghĩa
tình, Con gà tài nguyên, Con trâu bạc, Đốm ơi,... Ở đây, Trịnh Tuyên tỏ rõ
sự hiểu biết tường tận về đặc tính sinh thái của từng loài vật, mối quan hệ
đồng loại và mối quan hệ với con người. Dĩ nhiên, nói đây chết cây chỗ khác, ông
mượn chuyện con vật là để nói con người, nhắn nhủ con người,..
Vậy nên, đương nhiên, có
một Trịnh Tuyên-truyện ngắn,
2. Trịnh Tuyên thơ,
Cho đến nay, nhà văn
Trịnh Tuyên tuy chưa xuất bản tập thơ nào, song ông là tác giả của hàng trăm
bài thơ rải rác nhiều năm qua. Dấn thân vào nghiệp văn. Trịnh Tuyến có thế mạnh
và chủ tâm theo văn xuôi, nhưng cũng như nhiều cây bút văn xuôi khác, thậm chí
các lão làng (như Hà Minh Đức, Võ Huy
Tâm, Đỗ Chi...), ông cũng bị nàng thơ quyên rũ và không thể làm ngơ. Thơ
ông chủ yếu đăng trên mạng xã hội để bạn hữu đọc bàn chơi, hay lúc trà dư tửu
hậu bình phẩm, thi thoảng gửi đăng báo này nọ,
Là cây
truyện ngắn vững, khi viết, chủ đề, ý từ, bố cục, chi tiết rõ, nên sang thơ,
Trịnh Tuyên cũng theo đúng cách viết truyện ngắn mà làm. Nghĩa là, lập tứ, có
cốt rồi lắp câu chữ cho bài thơ nên da thịt, sao cho diễn đạt được ý từ là ổn,
nên đôi khi khó tránh khỏi tình trạng ngượng ép, khiên cường, Ví như:“Đừng
tìm người đi cấy anh ơi/ Phía trước, phía sau, đều không rõ mặt/ Cuộc mưu sinh
gần đất nhất.../ Họ sẽ nhìn anh qua khung hình tam giác/ Mặt ruộng là gương,
không cần tráng ni tơ rát bạc// Âm bản đen, ống kính chổng lên trời!!!” (Người đi cấy); hay như: “Người cả tin/
Biên giới hay xê dịch/ Người tâm thần/ Biên giới bỏ ngỏ/ Người tham lam/ Tự thu
hẹp biên giới/ Người cuồng tín/ Biên giới thuộc địa hạt tư duy kẻ khác/ Người
thông minh/ Biên giới chôn chìm...”
(Biên giới)… Và đây “Bến lạnh lùng,
con tim buốt sang ngang/ nước đã lạnh, lòng người còn lạnh nữa/thôi đừng khoắng
thêm dòng sông tình tan vỡ/ Cho mái chèo mươn mướt những niềm đau! (Chẳng còn mùa thu nữa đâu em); Rồi đây nữa: “Có anh đây rồi, em cứ vững niềm tin/ Biển là em, em
thẳm xanh như biển/ Nếu chúng vắt vòi rồng, anh còn cố nhịn/ Nhưng khoan vào là
anh băm xác chúng ra/ Nên chúng cứ thụt vào rồi kéo ra!” (Thơ tình cảnh sát biển)_
Đại loại, những khổ thơ, câu thơ gượng ép, cố gò theo
ý tưởng như thế không hiếm trong thơ Trịnh Tuyên, Như đã nói, thơ Trinh Tuyên,
hầu như bài nào cũng ý tứ rõ ràng, nhiều khi lộ ý, vấn đề là diễn đạt ra sao. Trịnh Tuyên luôn ý
thức tạo sức nặng cho thơ mình, nên ông ưa triết lý, Một khi triết lý. thì năm
ăn năm thua, rất có thể gượng và khô cứng, nhưng thành công thì lại được những
câu thơ hay. Có thể tìm nhặt ra trong thơ Trịnh Tuyên những triết lý hay. Chẳng
hạn, như: “Quên tên cây/ làm thuyền/ Tận
cùng nỗi cô đơn-/ độc mộc!/ Khoét hết ruột/ Chỉ để một lần ngược thác/ bất chấp
đời/ lênh đênh...” (Độc mộc); Hay như: “Chưa
nở đã mang bầu thai quả/ Phận đau như gái chửa không chồng/ Buồng the nứt toác
tình chưa thỏa/ Cuối mùa trơ cuống với hư không.(Hoa chuối): Đây nữa: “Đêm tất niên một mình ra ngõ/ Say mèm húc
phải đống rơm/ Hai kẻ cô đơn chợt tỉnh:/ Nhận ra xác những linh hồn!/ Ngươi:
xác của mùa màng/ Ta: xác của thời gian/ Ngươi: Cháy lên còn chút lửa/ Ta: Một
nhúm tro than..../ Ngươi đứng lù lù trước ngõ/ Ta thì lọm khọm trong nhà/ Ta
buồn đắng tình thế thái/ Ngươi vui ngọt miệng trâu bò!” (Đêm tất niên): Và
đây: “Nơi đây là mộ địa/ Chôn/ những mối
tình đã chết từ lâu/ Đã vô duyên kiếp trước/ Mong gì gặp kiếp sau? (Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Nếu chịu khó tìm kiếm, còn không ít những câu thơ
triết lý thú vị như thế trong hàng trăm bài thơ của Trịnh Tuyên Thực lòng, tôi thích thơ Trịnh Tuyên hơn
truyện của ông, bởi nhìn chung, thơ ông có ý tưởng lạ, khá hàm súc, câu chữ bất
ngờ. Ví như bài thơ này: “Ta lại đến điểm đầu từ điểm cuối// đường
tình ngắn chẳng tày gang/ Cưới lại đi em/ Ừ! Cưới lại!/ Cơm đã nguội rồi thì đổ
ra rang.../ Đêm cưới lại/ tình nồng không trở lại/ chỉ có đôi môi/ lặng ngắt/
ưu sầu!/ Đêm cưới lại/ ái ân/ không trở lại/ chỉ tiếng thì thầm thoảng trong
đêm mau/ Đêm cưới lại/ chẳng còn gì trở lại/ chỉ một lần khờ dại mãi trong nhau..”
.(Cưới lại); Hay như: “Nghẹn ngào khói
thoảng về mây/ Run run một nén tâm đầy con dâng...” (Thăm mộ cha); “Khi anh yêu em/ Biên giới của người điên” (Biên giới); “Rằng nay
đang tiết thanh minh/ Tôi đi viếng cái mộ mình mai sau...” (Tôi đi viếng mộ
của tôi): “Nơi đây là mộ địa/ Dưới đáy mồ không một khúc xương/ Chôn những mối
tình đã chết! “ (Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Theo tôi, Trịnh Tuyên có một bài thơ hay, thuộc hàng
hay nhất của ông, kiểu như Chuyện tình lão chăn dê trong truyện
ngắn, ấy là bài Thành nhà Hồ.: “Thành xưa
đổ nát, hoang tàn/ Hồ vương rời bỏ ngai vàng ngự đâu(?)/ Thạch long, tuế nguyệt
dãi dầu/ Bước chân khanh tướng công hầu vắng tanh/ Sông xưa đổ mé đông thành/ Mà
nay đồng bãi, tươi xanh bốn mùa/ Đế vương mà ngỡ trò đùa/ Trẻ trâu kể mấy đời
vua suy tàn./ Cho hay thành quách, ngai vàng/ May ra còn lại mấy trang sách
nhầu!/ Có gì vĩnh cửu mãi đâu/ Bao nhiêu lăng tẩm nhuốm màu liêu hoang/ Bao đời
áo mão xênh xang/ Mấy ai xây được ngai vàng- Lòng dân”
Hơi thơ cổ, tứ hay, câu chữ chắt lọc, phong vị trầm
bi, ý nghĩa sâu sắc và giàu sức gợi. Nghe đâu, bài thơ này có câu được các nhà
bình chọn lấy để treo vào bóng thơ thả lên giời một Nguyên tiêu nào đó ở Văn
Miếu-Quốc tử giám. Trịnh Tuyên cũng lấy đó mà tự hào.
Đấy là sự ghi nhận về tính triết lý trong thơ Trịnh
Tuyên. Song cùng vì ham triết lý mà
nhiều bài thơ của ông giảm sức gợi. Thơ hay, trước tiên cần sức gợi, rồi đến ý
tứ, câu chữ, nhạc điệu... Có cả thì dĩ nhiên toàn bích rồi. Thế nên, làm thơ,
dụng công quá thường hỏng. Nhiều khi buâng quơ, viết chơi chơi lại được. Trịnh
Tuyên có những bài thơ như vậy, Ví như ờ Chiều trên bãi ngô, ông tả cảnh đồng
bãi, vô tình thấy môt em nào đó đang cắt cỏ trên bãi ngô ven sông Mã, để rồi
buông một câu kết lửng lơ: “Xin em đừng gánh cỏ về lối cũ/ Kẻo vương
vào phiền muộn của riêng anh...” thì bài thơ sống động hẳn lên, bỗng có hồn và rất gợi... Hay
đâu, những câu thơ đầy ngẫu hứng thú vị như “Biển oan, sóng mãi gầm gào/ Bao nhiêu trong đục đổ vào một tôi! “
(Em); “Lời thương/ em gửi cuối nguồn/ Lời
yêu/ em gửi cánh chuồn chuồn bay” (Nhà em): “Đường chiều mây nhẹ đường mây/ Đường tình tôi nặng những đày đọa tôi” (Chiều
quê); “Thanh minh tôi viếng mộ tôi’Mai sau biết
có ai người ghé thăm?”(Tôi
viếng mộ tôi); “Một năm lửa đỏ để dành/
Đủ cho anh đốt cơm canh một ngày!” (Thơ ngày 8.3); “Tháng sáu thương phận cá trôi/ Đồng xa, nước ngập, bồng bơi ngả nào?.
Con rô lách ngược mưa rào/ Con ếch nồng nỗng cầu ao đợi mồi/ Tháng sáu, em hẹn
thăm tôi/ Ao sâu, nước cả, tôi ngồi câu suông!” (Tháng sáu); “Mặt trời thì ngã đằng tây/ Em thì ngã trọn
vòng tay gã khờ/ Khi em ngã ngửa vào mơ/ Là tôi ngã sấp bơ phờ tóc sương” (Ngã)
...
Những câu thơ này, dẫu
không đến mức “tuyệt diệu hảo từ”,
thì cũng không phải là những câu thơ dễ viết dễ có !... Và như thế, tôi nghĩ,
đủ có một Trịnh Tuyên-nhà thơ!...
3. & lão chăn dê
xứ Thanh,
Năm nào cũng vậy, cứ sau tết nguyên đán,
độ cuối tháng hai ta, Trịnh Tuyên lại rủ tôi vô Thanh, còn nhắn là nhớ rủ thêm
nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, nhà văn Nguyễn Trọng Huân,
họa sĩ Lã Minh Kính và nhạc sĩ Phạm Qiamg Hiển. Chẳng là, từ nhiều năm nay, cứ
vào độ này khi tiết xuân còn chưa vãn, cánh chúng tôi thường vô xứ Thanh, dổ bộ
vào nhà Trịnh Tuyên ở Cẩm Tân, Cẩm Thủy. Nhóm văn bút xứ Thanh tụ hội ở nhà
Trịnh Tuyên thường có Phạm Duy Đức, Ngô Xuân Tiếu, Lê Văn Sự, Trọng Nghĩa, Đào Phan
Toàn, Cao Nguyên Quyền, và Trương Thị Mầu, Ma Bích từ Bá Thước xuống, cùng vài
ba người khác... Đông vui, thân mật, ấm áp tình bạn bầu văn chương.
Tôi
quen và thành thân với Trịnh Tuyên từ mươi năm nay, qua mang xã hội Blog Tiếng Việt. Lúc ấy, mạng xã hội chưa
phổ biến như giờ. Nhóm vài chục blogger ở Hà Nội gặp gỡ, giao lưu với nhau vui
;ắm, còn Trịnh Tuyên mãi vùng xa Cẩm Thủy xứ Thanh. Phàm dân viết, ngửi văn
nhau thấy được là chơi với nhau ngay. Và rồi, những chuyến Trịnh Tuyên ta Hà
Nội mỗi dịp Nguyên tiêu, hay những chuyên đổ bộ của chúng tôi vào xứ Thanh kết
nối và gắn bó chúng tôi.
Gặp
rồi nên thân mới thấy chơi được với Trịnh Tuyên không dễ chút nào. Ông tuổi
Nhâm Thìn (sinh 1952), cầm tình còn
rồng, mệnh Thủy-Trường lưu thủy (nươc
chảy dài), lại sống bên bờ sông Mã, nên tính cách mạnh, linh hoạt, lấn lướt,...
Thiên can Nhâm cỉa tuổi Nhân Thìn, tương hợp với Đinh, mà tôi tuổi Đinh Dậu (1957) nên
Trịnh Tuyên với tôi, anh em hiểu nhau, dễ chia sẻ, bổ trợ thành hòa hợp,...Có mấy
yếu tố làm nên tính cách con người Trịnh Tuyên, chất nam nhi xứ Thanh điển
hình, cộng cái ngất ngưởng của kẻ có chữ, pha trộn thêm sự nhanh nhậy linh hoạt
của nghề cảnh sát điều tra, Thường ra, thấu hiểu và dễ cảm thông, song khi cần,
sắc lẻm phân minh, nhất bét tới cùng, không ngại va chạm mất lòng, Tôi nhớ,
trong một lần vào xứ Thanh, tôi cảm hứng thành thơ, bài thơ Thăm bạn xứ Thanh, mang đọc lúc tiêc
vui, có câu thơ “Xứ Thanh bề bộn nước non/ người một khoảnh, đất vuông tròn một khoanh”, mọi người đều không để ý, riêng Trịnh Tuyên nhận ra
ngay ý tứ. Ông khoái, khen câu thơ ấy đã
khái quát được cả vùng đất và tính cách con người xứ Thanh,…
Trịnh Tuyên là vậy đấy, trực tính, yêu
ghét rõ ràng, Ai chơi được với ông dễ thành chí cốt. Hễ cứ nghe Trịnh Tuyên
phán về một au đó “Hắn chơi được lắm” thì tôi không phải ngại, cứ yên tâm mà giao
du. Chẳng thế mà, lão chăn dê xứ Thanh
quy tụ được nhiều cây bút, bạn bè yêu
văn chương trong vùng, thưởng xuyên gặp gỡ, đông viên, chia sẻ cùng nhau không
chỉ văn chương mà cả những vui buồn cuộc
sống...
Mấy năm nay, bạn văn miền tây xứ Thanh của ông cứ vơi
dần. mấy người vân du về cõi hạc (Trọng
Nghĩa, Phạm Duy Đức, Ma Bích), riêng ông vẫn thủng thẳng sớm trà, chiều
tửu, cần mẫn kể chuyện đời,..,
Lão vẫn còn bầy dê thả chăn trên núi kia mà !...
Đúng vậy, vào những ngày cuối năm 2025, lão chăn dê xứ
Thanh, Trinh Tuyên vừa dâng lễ vật một con dê béo ngậy trong bầy dê của lão cho
Thần Núi, ấy là cuốn tiểu thuyết mang màu sắc trinh thám tâm linh “Cô gái
trong ngôi nhà lưu giữ tro cốt” được Nhà xuất bản Công an nhân dân
ấn hành.

Nhận xét
Đăng nhận xét