Người đi
giữa thực và mơ
(Nguyễn Chu Nhạc)
Có thể, nhiều người sẽ tự nhận mình như vậy. Song người tôi ám chỉ ở đây là nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền,
Ông là thân sinh của một người nổi tiếng – kiến trúc
sư, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến. Đương nhiên, với một người nổi tiếng như
thế, cha mẹ thường ăn theo sự nổi tiếng của con, nhưng Nguyễn Vĩnh Tuyền thì
không. Ồng tự thân được giới văn chương biết đến với thế giới thi ca của riêng
ông. Không những thế, Nguyễn Vĩnh Tiến còn “ăn theo” cha mình khi phổ nhạc một
số bài thơ của cha mình thganhf ca khúc nổi tiếng như: Ông tôi, Bong
bóng tình yêu, Nắng xe hoa, Đừng khêu thêm lửa…
Mặc dù cho đến nay, Nguyễn Vĩnh Tuyền
chưa từng xuất bản một tập thơ nào, nhưng anh đã từng sáng tác hàng nghìn bài
thơ, và khi vui đâu đó với anh em, bạn bè, thi hữu, anh xuất bản miệng vài ba
bài, hăng lên thì dăm bảy bài là thường.
Nguyễn Vĩnh Tuyền, tuổi Ất Dậu, sinh
năm 1945, quê Cẩm Khê, Phú Thọ. Nhập ngũ những năm chiến tranh chống Mỹ Ngụy,
phục viên chuyển ngành làm cán bộ thương nghiệp, rời gia đình về Hà Nội sinh
sống, sau mấy lần chuyển nhà, hiên vợ chồng ông sống cùng với con trai, nhạc sĩ
Nguyễn Vĩnh Tiến ở Đức Diễn.
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền hơn tôi vừa đúng một giáp,
nhưng chúng tôi chơi với nhau là bạn vong niên. Tuy là cha đẻ của Nguyễn Vĩnh
Tiến, một kiến trúc sư trẻ có tài thơ nhạc, là tác giả của ca khúc Bà tôi, và trước đó là bài thơ Chiếc roi tre được trao giải cao nhất
một cuộc thi thơ, nhưng khi giao du với bạn hữu, ông chỉ lấy cái tôi cá nhân
cùng thơ ca của mình mà giao đãi. Ở Hà Nội, một dạo, chúng tôi có một nhóm,
tôi, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, nhà thơ Trương Hữu Lợi,
nhạc sĩ Quang Hiển, họa sĩ Lã Minh Kính, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, nhà thơ Chử
Thu Hằng… hễ có điều kiện tụ họp, chuyện văn chương thơ phú. Bầu không khí ấp
cúng như thế, Nguyễn Vĩnh Tuyền càng có cớ để ra thơ…
Công việc của tôi hay phải đi đây đó,
bản tính lại yêu thích miền núi, nên nhiều chuyến đi, tôi hay rủ Nguyễn Vính
Tuyền đi cùng, và thế là, anh em chúng tôi lại trên từng cây số… Tây Bắc, Việt
Bắc, Đông Bắc… Hàng năm, chúng tôi thường về Phủ Lý thăm nhà văn Lưu Quốc Hòa,
hoặc vào xứ Thanh thăm nhà văn Trịnh Tuyên, cùng các cây bút miền Thanh-Nghệ…
Lang thang đây đó, vui nhiều và viết cũng nhiều…
Tiếng là có trong tay gia tài hàng
ngàn bài thơ, nhưng nói đến việc tập hợp thành tập thì Nguyễn Vĩnh Tuyền lại
ngại. Đúng ra, ông lười. Trước hết, Nguyễn Vĩnh Tuyền lười việc tìm lại thơ
mình. Mỗi cao hứng, hay mất ngủ, ông đều viết được. Viết như thể, cuộc đời ông chỉ
có Thơ là trọng, ấy vậy, viết xong là quăng quật ngay. Thơ ông rải rác đâu đó,
chẳng nhớ, và cũng không thuộc. Ấy vậy, ông lại thuộc khá nhiều thơ của con
trai mình, nhà thơ-nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến. Thơ ông, tôi cam đoan, ông thuộc
không nổi chục bài. Lười tìm lại thơ, và cả lười biên tập. Viết ra đấy, nhưng
có khi chẳng thèm đọc lại, quẳng lên blog hoặc Facebook cá nhân là xong, và hầu
như không biên tập lại bao giờ. Cứ như ông chẳng chịu trách nhiệm gì, đúng ra,
là ông vô trách nhiệm với những đứa con tình thần của mình. Và coi đó là việc
của người khác,,, Ứng xử với thơ mình như vậy, nhưng trong đời sống, ông lại là
người rất chăm chỉ việc nhà, chu toàn chăm sóc vợ,con, các cháu nội ngoại mình.
Không những thế, ông chu đáo và trách nhiệm với quê hương, họ hàng và bạn bè
gần xa…
Có hai người hay giục ông tập hợp thơ
thành tập, ấy là Nguyễn Vĩnh Tiến, và tôi.
Nguyễn Vĩnh Tiến thì giành việc đặt tên tập thơ, còn tôi, biên tập bài
và viết chút gì đấy, xem như phác họa chân dung Nguyễn Vĩnh Tuyền.
Lâu nay, âm âm trong suy nghĩ của tôi,
nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền là người đi giữa thực và mơ,…
Nguyễn
Vĩnh Tuyền và xứ mơ
Tự thân, Nguyễn Vĩnh Tuyền cũng nhận vậy: “nửa khuya mưa bóng mây/ lâm thâm ngoài ngõ hẻm/ mềm mơ
cơn thức dậy/ ảo-thực ấy? ...sinh vần/
lạc lẫn từ ăn vay/ thơ tái sinh màu nhớ/ thoại ngữ
đêm sang ngày...”
Trước hết, hãy cũng Nguyễn Vĩnh
Tuyền du ngoạn vào cõi mơ của anh. Thực tình, tôi thích cõi mơ ấy: “mưa chi
xối đất mẻ trời/ buồn chi lây khổ cả người không dưng/ em ơi, thương nhớ quá
chừng/ xin đừng buồn nữa ngõ lưng chừng… đời!”
Và đây nữa: “ai người vấp lối
hợp tan/ cho tình anh được lấp san cùng tình…./ đỉnh non thơm mấy nụ
thơm / đã nghe nức nở dỗi hờn hạt mưa/ đã nghe luyến nhớ đầy trưa/ muốn ôm
muôn giọt mau thưa ngợp chiều/ Sao không phát sáng đổi màu/ Để sông
trăng lạnh trên đầu trôi trôi/ Rượu trời nhàn nhạt nơi môi/ Nâng lên đặt xuống
chỗ ngồi vắng tanh”; “ Buông neo
tạm bến nhớ nhung/ tránh cơn sóng vỗ chập chùng gió mưa/ Giấc vui gói kín mạn
trưa/ bờ tình che kín gió lùa ngang sông
/ Phôi phai lạc tận bến mơ/ nhổ neo! ...đi tiếp nước cờ mai sau./ ... tất cả
đang lũ quét vào máu và da thịt nhau / thế là anh biến thành khúc
thức buồn tẻ mang mang / giữa cánh đồng đời lao xao sóng nước /
tâm thức mơ hồ
những đường cong mịn màng mơ hồ / những lạch khe dòng mương lượn
uốn dồn đổ mọi thứ ra sông / (ôi dòng sông bình an đầy hoa mây
trắng xám trôi trôi...) / nước gỗ mục dều rác giành giật nhau cõng
nắng, cõng mây;/ một cuộc đua - một dọc trời mải miết…”; “Anh chờ
bên phía lề đau/ Em bên lề khổ hai màu lệch chênh/ Lề đường lề của bồng bềnh/ Nhịp
phách thì rõ, tiếng xênh lại chìm”…
Kể cả
khi Nguyễn Vĩnh Tuyền giật mình, sợ rồi cứ mê mải thế sẽ lạc lối xứ mơ, những
muốn quay trở về cõi thực, thì cõi mơ vẫn níu kéo: “Giật mình!/ một phút
chiếu, giường/ Tiếng chuông cửa?/ Tiếng ngày thường!/ Tan mơ?.../ Để rồi một
sớm tơ vương/ có người sắm chiếu trải giường … tương tư”; “Dưới mưa cuốc
bộ cùng mưa / bước chân vừa gấp vừa thưa với tình…”; “lang thang mãi chốn long đong/ chiều nay
ánh mắt bỗng long lanh chiều”; “Cố quên sao được nguồn cơn/ ngày dài đêm ngắn
chập chờn dòng mơ”; “Tưởng tan tác khúc ca chiều…bấc khô dầu cạn,.. ai khêu lửa
tình?”
Và cứ
chập chờn thế này, thử hỏi làm sao Nguyễn Vĩnh Tuyền có thể bước chân ra khỏi
con thuyền mộng cơ chứ?: “Lạ đôi tinh tú rong chơi/ vui miền cực lạc quên
nơi sinh thành/ có nhà bác học chiêm tinh/ ngạc nhiên sao mới cố tìm cho ra/ lục
soi khắp cõi ta bà/ trăm năm dư lẻ vậy mà công không/ Chiều nay gió thoảng
ngang đồng/ tự dưng đôi cánh bướm hồng? Rong chơi…/ Vẫn là cuối đất cùng giời/ cơ
duyên đốm lửa khuất nơi vô tình/ Đây rồi! Một nét lung linh/ ồ! Kia một
dáng nguyên trinh mong tìm”.
Vậy thôi, chẳng dám sa đà nữa, bởi sợ rồi mình
cũng sẽ bị Nguyễn Vĩnh Tuyền huyễn hoặc, mà ngồi chung con thuyền mộng cùng ông
lang bạt kỳ hổ trong xứ mơ do ông viễn tưởng, mê sảng giăng mắc lưới tình, đặng
rình bắt cả Nhện đã thành tinh? ...
Còn đâu là cõi thực?:
Đi tìm cõi thực của
Nguyễn Vĩnh Tuyền quả không dễ chút nào. Nó chẳng khác gì việc đãi đất sỏi để
tìm ra được mươi hạt thóc, hạt gạo, và những gì có thể xơi được. Nói vậy quả
không ngoa. Trước khi tìm nhặt những câu thơ thể hiện cõi thật của Nguyễn Vĩnh Tuyền,
thiết tưởng phải chuyện phiếm đôi chút về nhà thơ. Vốn tuổi Dậu (Ất Dậu,
1945), cầm tinh con Gà, anh em bạn bè thân tình mà đùa yêu rằng, quanh năm
suốt tháng ông như con gà trống, chỉ có
vài ba viên sỏi, cứ mổ lên mổ xuống, cục ta cục tác lượn lờ mà dụ lũ gà mái và
cả bàn dân thiên hạ “thóc thật, thóc thật”, khi bày gà xúm vào thì đâu
phải là thóc thật, chỉ là thóc ảo mà thôi… Thơ Nguyễn Vĩnh
Tuyền là vậy, thực ảo lẫn lộn, những câu thơ ảo, thậm chí ảo diệu thì nhiều
lắm, song khi thực, ông lại thực quá, đến mức độ trúc trắc ngôn từ, đọc lên
thành tiếng cho thuận miệng cũng khó. Đấy là xét về khía cạnh nghệ thuật, và
theo cách nói dân gian, ấy là “thật thà hư”. Nhưng mà… thôi không bàn về
cái thực đó.
Còn đây là cõi thực của
Nguyễn Vình Tuyền, thực mà vẫn rất thơ: “Tôi ra đời giữa mùa chết chóc/
Lại là đứa trẻ cuối cùng sống sót đẻ trong tháng Hai,/ Nên no-nê, ấm
áp suốt một đời dạc-dài cơm-áo.”; “Tháng ba mùa hoa xoan rắc đầy lối ngõ/
Muỗi như trấu bay chàn chạt lưỡi nia/ Ngồi học trong màn khói đen,
muội đỏ/ Bóng tóc đuôi gà ngấp nghé mãi ngoài kia,/ Quên rồi sao,/
Ngọn đèn dầu leo lét phía hoang mơ,…”; “:Con theo cha học cách giơ
cao vồ lem nện xuống/ từng gộc tre đực lún theo mỗi nhát vung/ chắc
nịch,/ chính xác, thật tay,/ ta-luy cao dần bờ đất thó đen/ lung
người, lung bờ/ mặt đất, mặt người phờ phạc…/ Cha từng qua bao vụ
mùa thất bát/ tháng Tám ngày Ba, ruột dài mơ miếng để, miếng ăn…”; “quốc
lộ Một - Chiều ấy, Zil-130 long nhong chốt một đầu rơ-moóc,/ quốc lộ Hai
– Đêm ấy, Ifa-W50 lẵng nhẵng, ì ạch chốt hai đầu rơ-moóc,/ Hụt hơi,
tương lai là vô định ra vào,/ vào ra nhằm ăn theo tài-xế/ ngày
mai là hối hả/ cuộn guồng theo vòng bánh xe lăn,/ Nhọc nhằn…”;
“Hơi thở ngọt mềm/ và cánh tay em trên ngực mình/ yên tĩnh một
ban mai/ đưa anh về thực tại…/ Anh hôn vầng trán em sáng trong/
Tạ ơn những ca nước thơm hương vi mật ong
/ tạ ơn những bình nóng linh chi, con
gái mua về từ Hàn Quốc/
những cặp lồng cơm./ những bữa tối ngon lành…”; “Em bao dung
đến tận cùng nhân cách,/ dành dụm cho ta bao năm ngọt, tháng ngào,/ gánh
thay ta một đời chia xa, buồn nhớ/ neo cuộc bơi mệt nhoài bằng bao nhiêu
tóc rụng…/ Cho buồn khổ không còn nơi trú ngụ/ Cho ta quay về bổn
phận đàn ông…”.
Con người Nguyễn Vĩnh
Tuyền là thế đấy. Ông thành thật với quá khứ tuổi thơ vất vả, cơ hàn cùng song
thân nơi quê hương bản quán; thành thật với những năm tháng quân ngũ suốt thời
chiến tranh khói lửa ác liệt, đầy gian khổ hy sinh; thành thật với gia đình
mình, ấy là người vợ tần tảo, đảm đang và đầy bao dung, những đứa con giỏi
giang và hiếu thảo… Đó thực sự là những chiếc phao cứu sinh, những cọc neo chắc
chắn, đặng níu giữ con thuyền mộng của nhà thơ khỏi dạt trôi về bến mơ không
tưởng … Chẳng những vậy, Nguyễn Vĩnh Tuyền còn rất thành thật với những cơn mưa
bóng mây chốc nhát, những cơn say nắng tình cờ, những bóng hồng và cuộc tình
ngắn ngủi ngang qua đời mình… Có lẽ, vì biết ơn nên thành thật, nhưng ông không
hề hối lỗi, đơn giản, bởi Nguyễn Vĩnh Tuyền xem đấy là những chất men say cho
cảm xúc thi ca mà trời đất ban tặng cho mình. Hơn nữa, ông chưa bao giờ quá
đáng với Nàng Thơ, mà còn biết nâng niu, trân trọng: “Mình yêu nhau từ mùa
Thơ năm ấy,/ Chết trong nhau từ lần gặp đầu tiên,”; “dạn dĩ tháng
Tư-ngắn ngủi cuộc tình,/ hoa gạo rực trời hai chục ngày/ rồi bỗng
đâu lụi tắt/ trái ớt chỉ thiên cay sè bốn mắt/ cơn cớ gì bẫy đặt
hai ta,”; “Muốn nhớ lại mau quên/ nên chăng cùng xanh ngắt/ đôi
mắt nào nắng lửa/ buồn đời day dứt mưa,”; “Em ở lại với Bãi Dâu,
Gành Hào ngợp nắng/ vắng bóng nhau thật rồi,/ Sài gòn đường về có
còn thuận lối?.../ Thôi cứ khép hờ cả Người và Thơ/ cơ hội những
chuyến đi màu nhân duyên Trời định/ cả hương vị thời gian dường như Đất
tính/ nhung nhớ tháng Mười/ một khúc thăng hoa…”; “Mong
mỏi ngày mai,/ yêu nhớ lắm ngày qua,/ như lần đầu yêu, lâng lâng
hồi hộp/ như lần đầu bay trên trời mây trắng xốp./ Chợt nhớ câu
thơ:/Bàn chân ta lội xuống trời/ Hát bông nắng cũ ru lời em
xanh”…
Có một điều, tôi không
thích trong thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, ấy là sự lan man và hay lạm dụng ngôn từ.
Phàm người làm thơ, kỵ nhất là nhắc đến từ Thơ hay Tứ
thơ trong thơ mình vì sợ nhàm và lộ, cũng như người đang
yêu ngại nhất nhắc đến từ Yêu vì e là thô… Riêng với Nguyễn
Vĩnh Tuyền thì ngược lại, trong thơ ông nhan nhản những từ này. Đã hơn một lần,
tôi bàn luận với ông điều đó, ông có vẻ
nghe ra và bày tỏ sự đồng tình. Nhưng rồi, đâu vẫn đấy, chẳng rõ, theo thói
quen, vô tình hay hữu ý? Và đấy, mới thật đúng là người và thơ Nguyễn Vĩnh
Tuyền !?...
Còn về xuất bản thơ, chối
chẳng đành, Nguyễn Vĩnh Tuyền chiều lòng mọi người, đồng ý, nhưng cách làm cũng
khác người. Ba chúng tôi (tôi cùng cha con ông) sẽ chọn chừng già trăm trong
hàng ngàn bài thơ của ông, để Nguyễn Vĩnh Tiến cẩn thận nắn nót chép tay kiểu
chữ đẹp học trò (chữ Nguyễn Vĩnh Tiến khá đẹp), rồi chụp lại in ấn kiểu file
ảnh. Hẳn việc làm này sẽ lâu hơn bình thường. Tôi đã xem một số bản chép thơ do
Tiến viết, thấy ổn. Đành chờ thôi!
Và nữa, Nguyễn Vĩnh Tiến
tài thơ là thừa hưởng cái gen thơ phú của cha mình, rồi đây, theo ngày tháng,
sẽ có nhiều bài thơ khác của Nguyễn Vĩnh Tuyền được con trai ông, nhạc sĩ
Nguyễn Vĩnh Tiến phổ thành ca khúc. Thơ ông sẽ được chắp thêm đôi cánh thanh âm
mà bay xa!...


Nhận xét
Đăng nhận xét