ĐẢO CHÌM
CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA
Nghệ thuật tạo dựng không gian truyện
& ngôn ngữ tiểu
thuyết
Chuyện về thuyền trưởng Tàu HQ 05 Trường Sa, Trần
Trọng Trí và những người lính thuộc cấp của ông một thời khá ly kỳ. Song trước
khi nói về “nghệ thuật tạo dựng không gian truyện và ngôn ngữ kể chuyện”
trong tiểu thuyết ĐẢO CHÌM của nhà thơ Trần Đăng Khoa, tôi muốn nói đôi chút về
vị thuyền trưởng này (Trần Trg Trí)
và những người lính ngày ấy của ông (Nguyễn
Văn Tròn, Lê Văn Khánh v.v...), bởi họ là những nguyên mẫu mà nhà thơ Trần
Đăng Khoa dựng thành các nhân vật chính trong cuốn sách của mình: Chính trị
viên Thuận, Tư Xồm... Âu cũng là cách để bạn đọc biết thêm về các chuyện thực
ngoài đời của các nhân vật tiểu thuyết, mà cụ thể ở đây là xứ ĐẢO CHÌM (Đọc bài
viết “Đảo Chìm chuyện ngoài truyện” của Nguyễn Chu Nhạc, thay Lời
mở sách tiểu thuyết ĐẢO CHÌM - Trần Đăng Khoa – NXB Hội Nhà văn,
2024)
Trong một bài viết khác của tôi (“Trần
Trọng Trí, người thơ của biển”) hiện lên khi rõ nét kki thấp thoáng bóng
dáng vài ba nhân vật của tiểu tuyết Đảo Chìm, thuyền trưởng Trần Trọng
Trí, lính thủy Nguyễn Văn Tròn và còn nữa...
Lẽ dĩ nhiên, tướng Giáp Văn Cương, vị Tư lệnh binh chủng Hải Quân, một
nhân vật trung tâm, ông là người tên tuổi nổi tiếng, nhưng tôi không nhắc ở bài
viết này, bởi trong tiểu thuyết Đảo Chìm, Trần Đăng Khoa đã dành cả
chương để khắc họa chân dung ông, vả lại ông đã khuất bóng lâu rồi nên hãy để
ông yên giấc ngàn thu cùng những huyền thoại xung quanh mình. Ở đây, tôi muốn
dành để nói về các nguyên mẫu khác mà nhiều người còn chưa biết họ ngoài đời.
Tôi thấy, cũng cần có đôi lời thưa cùng quý bạn đọc, những phần trích từ các
nguyên mẫu nhân vật được tôi dẫn trong một vài bài viết, có thể làm ai đó không
hài lòng bởi ngôn từ họ dùng để giao lưu với nhau là thứ ngôn từ đời thường, ít
nhiều chất bụi bặm lính tráng, song chúng chân thực đến xót xa và tươi rói sắc
màu cuộc sống, nên tôi tôn trọng giữ nguyên...
Và những câu chuyện ngoài truyện của Đảo
Chìm bắt đầu từ đây,... khi họ nhập vào và hóa thân thành nhân vật tiểu
thuyết…
Những gì họ để lại trên trang blog của
tôi và trang cá nhân của nhà thơ Trần Đăng Khoa (Blog Tiếng VIêt) còn
nhiều, nhưng trong cuốn sách Đảo Chìm - Trường Sa của mình, nhà thơ chỉ trích chút ít. Tôi cũng trích
lại đây cảm nhận (comment) của Trần
Trọng Trí, xem như cái cớ đề bàn thêm về ông và các đồng đội của ông được tiểu
thuyết hóa: “Đã lâu rồi, tôi tưởng không
còn nước mắt nữa. Lòng ngỡ chai lỳ. Tôi hay vào trang Blog Tiếng Việt
chọc ghẹo mọi người cho vui. Nay đọc lại cuốn sách về Trường Sa, tôi đã khóc.
Cảm ơn Trần Đăng Khoa. Con gái tôi, cháu Trần Thị Thu Hà mà ông Khoa gọi là
Trần Thị Mộng Tương, nay đã 37 tuổi (thời điểm đó), có hai con gái. Cháu ngoại tôi đã học lớp 12, cháu đọc chuyện này,
thoạt đầu cười, sau thì khóc. Nó không biết đấy là chuyện bác Khoa viết về ông
nó, mẹ nó. Tôi tìm cuốn sách này mà không biết tìm ở đâu. Dẫu sao vẫn muốn có
cuốn sách, hơn là mỗi khi đọc phải mở máy tính. Tôi lên Google và thấy thiên hạ
bàn về cuốn sách này rất vui trên trang của nhà văn Xuân Đức... Tôi sẽ đến thăm ông Nhạc (Nguyễn Chu
Nhạc-Đài Tiếng nói Việt nam), ông Khoa.
Lâu rồi, không gặp”...
Tâm thế trong cảm nhận này của Trần Trọng Trí, thực
ra, cũng như những cảm nhận khác của ông trên trang blog của tôi, khác chăng ở
một vài chi tiết riêng tư. Ờ vào thời điểm ấy, tôi đọc lại các cảm nhận của
Trần Trọng Trí, nhận thấy ông đang ở trạng thái thăng hoa, mộng mị, sa lầy
trong mớ hồi ức của mình. Những trang viết của chúng tôi và cảm xúc của mọi
người, đặc biệt là các đồng đội cũ của ông, vô tình đánh thức mọi tế bào thần
kinh trong con người vị đại tá (lương
tướng), cựu sĩ quan, người hùng biển đảo một thời, đã về vườn, trong vai
ông thợ cắt tóc phố huyện... Dòng ký ức và cả những ẩn ức một thời bùng phát,
tuôn chảy như núi lửa phun trào, không biết bao giờ thôi. Trần Trọng Trí như
người lên cơn sốt, đến mê sảng, không thể thoát ra, hay đúng hơn là không muốn
thoát ra khỏi cơn mê giăng mắc, bủa vây tâm trí ông...
Tôi kể hơi dài về Thuyền trưởng Trí, bởi ông là một
nhân vật chính của cuốn Đảo Chìm, chúng ta cũng nên biết kỹ về
ông ở ngoài đời thực. Sở dĩ, ngày ấy, Thày trò Trí -Tròn nổi bật như
nhân vật trung tâm của mạng xã hội Blog Tiếng Việt, là bởi họ gắn
với một chủ đề nóng bỏng, ấy là cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt
Nam mà phần lớn người dân xứ ta đều quan tâm; khi mà, họ là nguyên mẫu các nhân
vật chính trong tiểu thuyết Đảo Chìm của nhà thơ Trần Đăng Khoa.
Trường Sa, Hoàng Sa và rộng ra là Biển Đông chưa bao giờ vơi nóng, bởi nguyên
nhân chính là quan điểm, thái độ và cách ứng xử của nước lớn không phù hợp với
luật pháp quốc tế về chủ quyên biển đảo trong các nước khu vực, nói chung. Sự
tham góp của họ (cựu thuyền trưởng Trần
Trọng Trí và các cựu thủy thủ Nguyễn Văn Tròn, Lê Văn Khánh...), cùng tác
giả cuốn sách-nhà thơ Trần Đăng Khoa và rất nhiều các bậc nhân sĩ, nhà văn, nhà
nghiên cứu văn học, người lính, bạn đọc nói chung với các câu chuyện thật ngoài
đời liên quan dến cuốn sách, vô hình chung đã biến tác phẩm Đảo
Chìm như một sân khấu lớn, đại cảnh, lớp lang chính phụ, đầy bi hài,...
Ta cùng thử hình dung, Đảo Chìm như một tác phẩm Sân khấu thì sẽ
thế nào? Dĩ nhiên, thuyền trưởng tàu HQ 05, Trần Trọng Trí cùng các thùy thủ
thuộc cấp của ông ngày ấy, mỗi người đều sắm vai của mình trong sân khấu thực
cảnh Đảo Chìm,…
Song trước khi nhìn tiểu thuyết Đảo Chìm như một Sân khấu
lớn, xin trở lại với không gian tiểu
thuyết mà tôi đã nhận thức và nêu ra trong bài viết có tên Đảo
Chìm, nghệ thuật tạo dựng không gian truyện. Ở đó, tôi phát hiện sự tài
tình của tác giả trong việc tạo dựng nên ba không gian đồng thời để kể câu
chuyện của mình. Ấy là không gian hữu hạn.
bao gồm “cái lều bạt” chung chiêng trên thềm san hô, là con tàu loanh quanh
trong khu vực của mình, được xem là hòn đảo nổi; ấy còn là không gian vô hạn với mênh mông trời nước, lúc hiền dịu mộng mơ,
lúc lặng thinh bí hiểm, lúc cuồng điên dữ dội đầy bất trắc; và nữa, một không gian tâm tưởng chỉ tồn tại trong ý
nghĩ của mỗi nhân vật. Ba không gian ấy khi tách bạch, khi xâm lấn nhau, khi
đồng dạng phối cảnh,... Và trong bối cảnh như vậy, tất thảy nhân vật, con người
(từ chàng lính quèn đến vị Tư lệnh),
con vật (chim biển, cá mập, con lợn),
vật dụng (lều bạt, tư trang quần áo, cuốc
xẻng, lưới câu, vũ khi, con tàu...) đều sống động, có hồn, suy nghĩ, hành
xử theo logic của mình.... Chính nhờ tạo dựng một không gian nghệ thuật như vậy
nên mọi ý nghĩ, hành động, tính cách nhân vật, tình huống, tình tiết truyện (có khi phi lý) đều chấp nhận được và trở
nên có lý có tình,... Một sự hỗn mang như mê sảng. Chim biển, cá mập thì như
người, như ma quái, con lợn cũng như người, lại như yêu tinh; còn con người thì
“nhanh chóng mất hơi người”, có lúc
như chim, như cá, lại có khi như lợn, như người nguyên thủy (nhân vật Hai Ùm hay cởi truồng)... và
có khi chỉ là “một chiếc linh hồn nhỏ”
(phần kết, Hai Ùm chết, hồn như nhập vào
một con chim biển khổng lồ, dáng gù gù trong lều bạt, khiến đồng đội vừa mừng
vừa sợ tưởng anh sống lại).... Và cũng chính việc tạo dựng nên một không
gian nghệ thuật như vậy, mà tác phẩm Đảo Chìm không giống hiện sinh kiều
phương Tây, cũng chẳng “hiện thực huyền
ảo” kiểu Mỹ-la-tinh, mà nó là hiện thực lãng mạn pha chút “Liêu trai” phương Đông...
Còn về ngôn ngữ tiểu thuyết Đảo Chìm. Nếu tác giả tài
tình bao nhiêu trong tạo dựng không gian truyện thì tài tình và điêu luyện bấy
nhiêu trong ngôn ngữ kể chuyện. Là nhà thơ, tác giả Trần Đăng Khoa đã dùng thế
mạnh của mình, ngôn ngữ thơ, để kể chuyện và khắc họa nhân vật. Mỗi chương của
tiểu thuyết như một bài thơ văn xuôi vậy. Có thể thấy, tác giả rất kiệm lời,
chắt lọc đến từng chữ một. Cảm giác chung, cả tiểu thuyết, không có câu độn từ
thừa. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, gây ấn tượng và rất gợi,... Ví như,
cảnh hoàng hôn trên đảo:“Chiều xuống dần.
Mặt trời đã chìm khuất sau một bầu nước rùng rùng tím ngắt. Nhưng những đám mây
vẫn còn bắt nắng, đi lững thững trên đầu, rừng rực như những đám cháy lớn. Bầy
chim biển đi kiếm ăn về. Chúng kêu toang toác quanh lều Tiếng kêu hoang vu và tanh lợm mùi cá...”
(chương III-Chim biển); Hay đêm trăng lên biển đảo:”Sương xuống tê tê. Phía sau lều bạt, biển bục lên một đám cháy lớn.
Trăng đang mọc. Vài con ó biển giật mình, tiếng kêu oang oác trên thinh không
mông lung mờ mịt.” (chương VII-Cô tiên trên đảo); Và đây, một sự kiện đặc
biệt, lợn đẻ trên đảo: “Hàng chục ngọn
đuốc rần rật bùng lên. Lửa réo ù ù trong gió biển. Con tàu túc tắc được nhổ
neo, lượn ba vòng xung quanh Đảo Chìm. Sau đuôi tàu, biển rực lên một vùng lân
tinh sáng chóa. Trong đêm, nom nó quái dị và kỳ vĩ như một dải Ngân hà đang
cháy.” (chương IX-Tiếng còi tàu đột ngột); Đây nữa, biển đảo sau bão tố: “Vùng đảo hoang lanh một màu khai thiên lập
địa. Chiếc lều bị gió cuốn mất tấm bạt, tua tủa giương lên nền trời xám đục
những rảnh xương sắt cong queo, nom rờn rợn như một con cá voi khổng lồ đã bị
rỉa hết thịt.” (chương XV-Biển mặn)..v.v... Còn nhiều nữa những đoạn văn
giàu chất thơ, gây ấn tượng mạnh và đấy sức gợi như vậy. Tôi trích ra đây để
phần nào minh chứng cho ngôn ngữ đặc sắc của tiểu thuyết Đảo Chìm,...
Giờ thì ta cùng nhìn nhận Đào Chìm ở phương diện
sân khấu với các màn chính kịch, màn phụ
theo lớp lang của nó. Dĩ nhiên, người chính trị viên tên Thuận, các thủy
thủ tên gọi Hai Ùm, Tư Xồm cùng các đồng ngũ của mình trên con tàu HQ và trên
đảo, thêm vị Tư lênh binh chủng nữa, đều là những nhân vật chính. Tác giả cuốn
sách, nhà thơ Trần Đăng Khoa là người
dẫn chuyện. Vậy là đủ vai? Không. Còn thiếu một vai, ấy là vai Hề, con lợn
An-ta-ra-mê-na. Chớ quên, chỉ là vai phụ thôi, nhưng vai diễn này vô cùng quan
trọng
Thiết nghĩ, hãy khoan bàn về con lợn An-ta-ra-mê-na
với tư cách vai Hề, trước hết, xem vai trò của Hề trong sân khấu truyền thống
ra sao? Với góc nhìn từ vai Hề ở sân khấu chèo (có thể mở rộng cho vai Hề trên sân khấu truyền thống nói chung),
nói đến vai Hề, người ta thường nghĩ đến
một nhân vật luôn mang lại tiếng cười cho người xem. Dù chỉ là một vai diễn
mang tính chất phụ họa cho những lớp bối cảnh chính, nhưng không thể phủ nhận
tầm quan trọng và đặc biệt là cái hồn của vai diễn, bởi trong tiếng cười chính
là sự sâu lắng, phản ánh rõ nét nhất cuộc sống qua tạo hình đặc biệt của một
vai diễn trên sân khấu.
Khái niệm là vậy, giờ ta thử lấy lăng kính Hề sân khấu
soi chiếu vào con lợn An-ta-ra-mê-na trong Đảo Chìm xem sao? Con lợn tinh ranh,
bắng nhắng, hay làm trò cho lính cười. Ả ta (lợn cái) được mọi người quan tâm,
cho diện váy áo mớ ba mớ bảy lòe loẹt trong khi các chàng lính mình thì trần
như nhộng đóng mỗi chiếc quần cộc, thậm chí chẳng mặc gì; đến thứ quý nhất là
nước ngọt thì tiêu chuẩn hàng ngày của ả ta cũng gấp đôi của lính. Bi hài nhất,
là mỗi khi đến chu kỳ động dục, ả ta tăng động, ngoe nguẩy chìa bộ phận giống
cái ướt nhẹp đỏ hỏn của mình vào mặt đám lính thủy... Chẳng thế mà, từng có một
nữ nhà văn tầm cỡ, trong một lần mạn đàm với nhà thơ Trần Đăng Khoa đã bày tỏ ý
định táo bạo, rằng nếu cô ấy là tác giả thì sẽ đảy chi tiết này đến tận cùng (nghĩa là cho đám lính thủy trong cơn khát
thèm đàn bà lâu ngày, không kiềm chế nổi bản thể, làm cái chuyện đực cái với
nàng lợn An-ta-ra-mê-na). Tất nhiên nhà thơ rất tỉnh táo, chẳng bao giờ
nghe ai đó “xui dại” như thế. Ông chỉ bảo, ý nghĩ của người đời kinh thật.
Song quả thật, nhà thơ Trần Đăng Khoa ít nhiều cũng
băn khoăn về số phần của vai Hề này, từng tự hỏi, mình có nên chỉnh sửa đôi
chút phần kết của tác phẩm Đảo Chìm, khi có độc giả bày tỏ thắc
mắc, rằng liệu tác giả có bỏ quên con lợn An-ta-na-mê-ra hay không, mà cuối
truyện chẳng thấy nó đâu,... Vậy thì nó biến đi đâu mất, số phận nó ra sao sau
cái chết của Hai Ùm?
Tôi nghĩ, bạn đọc đòi hỏi không sai, song cũng không
cần phải giải quyết chi cả, bởi nó là vai Hề cơ mà. Hề chỉ là vai phụ, Hề xuất
hiện để kết nối và xâu chuỗi các phần chính kịch với nhau thành một chỉnh thể
lo-gic, xét về cấu trúc; còn về biểu hiện thì sự ra mắt của Hề là để làm trò,
gây cười, dù là cười vui vẻ sảng khoái, cười chảy nước mắt, hay cười để nuốt
nỗi buồn đau vào tận đáy lòng,...và hơn nữa, thâm chí để nói những điều mà tác
giả không thể nói được trong vai trò người dẫn chuyện, mà cũng không thể gửi
gắm vào các nhân vật chính kịch. Hoàn thành các việc này, là Hề tròn vai, hết chuyện, cần chi đẩy số phận vai
phụ đến tận cùng. Lẽ dĩ nhiên, trong câu chuyện và văn cảnh cụ thể, Hề ta có số
phận thì cũng hay.
Ở đây, còn bởi, cái kết của tác phẩm Đảo
Chìm rất đắt, rất đắc địa rồi, đó là cái chết của nhân vật Hai Ùm, ám
ảnh và lay động tâm can, lay động trời biển. Chẳng ai có thể quên nổi, hình ảnh
con chim biển khổng lồ đứng trước cửa lều bạt dáng gù gù hệt Hai Ùm vì như hồn
chàng lính thủy này nhập vào, khiến đồng đội vừa sợ vừa mừng tưởng anh sống lại
...
Một cái kết bi tráng, cô đọng, giàu biểu đạt như đúc
tượng vậy, thử hỏi còn có gì tuyệt hơn, cần chi mà phải bàn thêm về số phận con
lợn Hề cho dài dòng văn tư. Ta cùng đọc lại mấy dòng kết này để thấm nỗi bi
tráng: “Thế là lại thêm một người lính
nữa chết ở Đảo Chìm, người đó tại sao không phải tôi, mà lại là Hai, con cá
kình của đảo? Cầu mong trước khi nước khép mặt, Hai được thấy cánh chim hải
âu”. (Ở
đây, tôi xin được mở ngoặc, bởi đó là
chi tiết rất đắt. Hải Âu thường chỉ bay ở ven bờ, cách đất liền chừng hơn trăm
cây số. Ngoài đại dương không có Hải Âu. Vì thế với lính biển, Hải Âu là tín
hiệu báo đất liên. Và trước đó Trần Đăng Khoa cũng đã bàn về cái chết dữ dội
của những người lính biển. Dù chết vẫn không được yên. Dẫu chỉ còn một mảnh
xương tàn thì mảnh xương đó vẫn đêm ngày phải vật lộn với sóng gió. Cho nên,
chi tiết ước gì trước khi nước khép mặt Hai được nhìn thấy bóng chim Hải Âu, ấy
là niềm ước vọng mong manh có thể mảnh xương của mình sẽ được sóng đẩy vào đất
liền). Bởi thế: “Tôi bỗng thấy chóng mặt. Chính trị viên
Thuận vội chạy tới đỡ lấy vai tôi. Tôi níu tay Tư. Còn Tư ôm lấy cột lều. Sóng
vẫn hắt qua mấy khung giường sắt, phủ lên đầu chúng tôi từng đợt nước mặn chát. Lần đầu tiên, tôi mới hiểu vì sao nước biển
lại mặn đến thế. Và có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở Đảo Chìm. Mặn như
máu...”.
Hàm súc, ấn tượng như một triết lý, dư ba, mà gợi mở ra vô tận,...
Nhân đây, bạn đọc nên biết một bí mật về ả lợn Hề
An-ta-ra-mê-na này. Thực tế, ngày ấy, ngoài Trường Sa, đặc biệt là Đảo Chìm,
chẳng có một chú lợn nào cả. Tác giả, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã hư cấu, tạo nên
một ả lợn bắng nhắng vui nhộn làm trò cười cho lính, trên cơ sở một con chó
khoang có thật. Theo cánh lính Trường Sa kể lại, và theo dõi cuộc trò chuyện
trên mạng xã hội Blog Tiếng Việt (đã
trích ở một bài viết khác của tôi) giữa nhà thơ Trần Đăng Khoa với cựu
thuyền trưởng Trần Trọng Trí (nguyên mẫu
nhân vật chính trị viên Thuận) cùng các cựu lính thủy Nguyễn Văn Tròn, (nguyên mẫu Tư Xồm), Lê Văn Khánh, thì
lúc ấy ở đảo, họ có nuôi một con chó khoang được goi tên Ái Vân (cánh lính đảo thích lấy tên của
một nữ ca sĩ xinh đẹp nổi tiếng một thời đặt tên cho con chó của họ. Đây là sự
trân trọng yêu mến thực sự của cánh lính đảo, chứ không phải giễu cợt hay thóa
mạ), và rồi trong lần đón tiếp vị Tư lệnh binh chủng thị sát đảo, họ đã lấy
cớ thiết đãi ông rồi làm thịt. Và nếu như, chỉ có thế thôi thì quả là “chó chết hết chuyện”, nên nhà thơ đã rất
sáng tạo khi chế ra một ả lợn tên gọi
An-ta-ra-mê-na quyền năng như phù thủy, tinh ranh như yêu tinh, hoạt náo vui
nhộn như tên Hề sân khấu. Chó khôn và tình nghĩa là đương nhiên (“khuyển mã chi
tình”), nhưng lợn khôn mới khó và lạ chứ (người
đời vẫn quen bảo “ngu như lợn”mà). Ấy vậy, ả lợn An-ta-ra-mê-na này lại tinh khôn
đến bất ngờ, có cá tính hẳn hoi, và như thế nó xứng đáng là một “nhân vật đặc biệt”. Bí mật của vai Hề này là thế đó. Và theo tôi,
ả lơn này không những góp phần tạo bầu không khí sinh động cho câu chuyện của
những người lính biển, đồng thời nó cũng đóng vai trò quan trọng làm nên chất
uy-mua và bi tráng cho cả thiên truyện.
Có điều này,
mỗi khi nghĩ về tiểu thuyết Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa, tôi lại
nghĩ đến hai tiểu thuyết ngắn khác, đó là “Ông
già và biển cả” của Ernest Hemingway và “Trên mảnh đất người đời” của Anatoli Stepanovich Ivanov. Theo tôi,
ba tiểu thuyết ngắn này ít nhiều có độ tương đồng, về số lượng từ, về độ hàm
súc của ngôn ngữ và tính biểu đạt hình tượng.
Nếu như, ở “Ông già và biển cả”
người ta thấy được sự cô đơn của con người giữa thiên nhiên và dù con người có
cố gắng đến mức nào cũng nhiều khi trở nên vô nghĩa; Và ở “Trên mảnh đất người dời” người ta nhận ra một chân lý khác, ấy là
dù có bị vây hãm trong tình yêu, sự rượt đuổi của người trả thù giấu mặt trong
sự kinh hãi của kẻ chạy trốn, sự ghê tởm và lòng hận thù tột độ thì đến một lúc
nào đó lại có thể tha thứ và coi đấy là cách trả thù còn kinh khủng hơn,... Về
không gian tiểu thuyết, hai cuốn này đơn tuyến, nặng về chất tự sự, giàu nội
tâm...
Còn ở Đảo Chìm, không gian truyện phức tạp
hơn nhiều, dù lượng chữ rất mỏng, con người ta sống trong một trật tự tưởng vô
cùng nghiêm ngặt song lại như một thế giới tự do tự tại, nhưng ngặt thay, là
con người tự khép mình trong sự cố kết bởi ý thức trách nhiệm và niềm tự hào vì
một tương lai mù mịt vời vợi phía chân trời...
Với nội hàm như vậy, chất hoạt kê và bi tráng của Đảo Chìm mà tác giả đã
lựa chọn, là rất thích hợp và độc đáo.
Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Lê Lựu, một người rất
khó tính về nghề, đã cho rằng Đảo Chìm là thần bút.
Còn tôi thì coi đó là một kiệt tác...

Nhận xét
Đăng nhận xét