THI PHÁP ĐẢO CHÌM

 



@@@

ĐẢO CHÌM CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

Nghệ thuật tạo dựng không gian truyện

 & ngôn ngữ tiểu thuyết

 

Chuyện về thuyền trưởng Tàu HQ 05 Trường Sa, Trần Trọng Trí và những người lính thuộc cấp của ông một thời khá ly kỳ. Song trước khi nói về “nghệ thuật tạo dựng không gian truyện và ngôn ngữ kể chuyện” trong tiểu thuyết ĐẢO CHÌM của nhà thơ Trần Đăng Khoa, tôi muốn nói đôi chút về vị thuyền trưởng này  (Trần Trg Trí) và những người lính ngày ấy của ông (Nguyễn Văn Tròn, Lê Văn Khánh v.v...), bởi họ là những nguyên mẫu mà nhà thơ Trần Đăng Khoa dựng thành các nhân vật chính trong cuốn sách của mình: Chính trị viên Thuận, Tư Xồm... Âu cũng là cách để bạn đọc biết thêm về các chuyện thực ngoài đời của các nhân vật tiểu thuyết, mà cụ thể ở đây là xứ ĐẢO CHÌM (Đọc bài viết “Đảo Chìm chuyện ngoài truyện” của Nguyễn Chu Nhạc, thay Lời mở sách tiểu thuyết ĐẢO CHÌM - Trần Đăng Khoa – NXB Hội Nhà văn, 2024)

          Trong một bài viết khác của tôi (“Trần Trọng Trí, người thơ của biển”) hiện lên khi rõ nét kki thấp thoáng bóng dáng vài ba nhân vật của tiểu tuyết Đảo Chìm, thuyền trưởng Trần Trọng Trí, lính thủy Nguyễn Văn Tròn và còn nữa...  Lẽ dĩ nhiên, tướng Giáp Văn Cương, vị Tư lệnh binh chủng Hải Quân, một nhân vật trung tâm, ông là người tên tuổi nổi tiếng, nhưng tôi không nhắc ở bài viết này, bởi trong tiểu thuyết Đảo Chìm, Trần Đăng Khoa đã dành cả chương để khắc họa chân dung ông, vả lại ông đã khuất bóng lâu rồi nên hãy để ông yên giấc ngàn thu cùng những huyền thoại xung quanh mình. Ở đây, tôi muốn dành để nói về các nguyên mẫu khác mà nhiều người còn chưa biết họ ngoài đời. Tôi thấy, cũng cần có đôi lời thưa cùng quý bạn đọc, những phần trích từ các nguyên mẫu nhân vật được tôi dẫn trong một vài bài viết, có thể làm ai đó không hài lòng bởi ngôn từ họ dùng để giao lưu với nhau là thứ ngôn từ đời thường, ít nhiều chất bụi bặm lính tráng, song chúng chân thực đến xót xa và tươi rói sắc màu cuộc sống, nên tôi tôn trọng giữ nguyên...

        Và những câu chuyện ngoài truyện của Đảo Chìm bắt đầu từ đây,... khi họ nhập vào và hóa thân thành nhân vật tiểu thuyết…

        Những gì họ để lại trên trang blog của tôi và trang cá nhân của nhà thơ Trần Đăng Khoa (Blog Tiếng VIêt) còn nhiều, nhưng trong cuốn sách Đảo Chìm - Trường Sa của mình, nhà thơ chỉ trích chút ít. Tôi cũng trích lại đây cảm nhận (comment) của Trần Trọng Trí, xem như cái cớ đề bàn thêm về ông và các đồng đội của ông được tiểu thuyết hóa: “Đã lâu rồi, tôi tưởng không còn nước mắt nữa. Lòng ngỡ chai lỳ. Tôi hay vào trang Blog Tiếng Việt chọc ghẹo mọi người cho vui. Nay đọc lại cuốn sách về Trường Sa, tôi đã khóc. Cảm ơn Trần Đăng Khoa. Con gái tôi, cháu Trần Thị Thu Hà mà ông Khoa gọi là Trần Thị Mộng Tương, nay đã 37 tuổi (thời điểm đó), có hai con gái. Cháu ngoại tôi đã học lớp 12, cháu đọc chuyện này, thoạt đầu cười, sau thì khóc. Nó không biết đấy là chuyện bác Khoa viết về ông nó, mẹ nó. Tôi tìm cuốn sách này mà không biết tìm ở đâu. Dẫu sao vẫn muốn có cuốn sách, hơn là mỗi khi đọc phải mở máy tính. Tôi lên Google và thấy thiên hạ bàn về cuốn sách này rất vui trên trang của nhà văn Xuân Đức...  Tôi sẽ đến thăm ông Nhạc (Nguyễn Chu Nhạc-Đài Tiếng nói Việt nam), ông Khoa. Lâu rồi, không gặp”...

Tâm thế trong cảm nhận này của Trần Trọng Trí, thực ra, cũng như những cảm nhận khác của ông trên trang blog của tôi, khác chăng ở một vài chi tiết riêng tư. Ờ vào thời điểm ấy, tôi đọc lại các cảm nhận của Trần Trọng Trí, nhận thấy ông đang ở trạng thái thăng hoa, mộng mị, sa lầy trong mớ hồi ức của mình. Những trang viết của chúng tôi và cảm xúc của mọi người, đặc biệt là các đồng đội cũ của ông, vô tình đánh thức mọi tế bào thần kinh trong con người vị đại tá (lương tướng), cựu sĩ quan, người hùng biển đảo một thời, đã về vườn, trong vai ông thợ cắt tóc phố huyện... Dòng ký ức và cả những ẩn ức một thời bùng phát, tuôn chảy như núi lửa phun trào, không biết bao giờ thôi. Trần Trọng Trí như người lên cơn sốt, đến mê sảng, không thể thoát ra, hay đúng hơn là không muốn thoát ra khỏi cơn mê giăng mắc, bủa vây tâm trí ông...

 

Tôi kể hơi dài về Thuyền trưởng Trí, bởi ông là một nhân vật chính của cuốn Đảo Chìm, chúng ta cũng nên biết kỹ về ông ở ngoài đời thực. Sở dĩ, ngày ấy, Thày trò Trí -Tròn nổi bật như nhân vật trung tâm của mạng xã hội Blog Tiếng Việt, là bởi họ gắn với một chủ đề nóng bỏng, ấy là cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam mà phần lớn người dân xứ ta đều quan tâm; khi mà, họ là nguyên mẫu các nhân vật chính trong tiểu thuyết Đảo Chìm của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Trường Sa, Hoàng Sa và rộng ra là Biển Đông chưa bao giờ vơi nóng, bởi nguyên nhân chính là quan điểm, thái độ và cách ứng xử của nước lớn không phù hợp với luật pháp quốc tế về chủ quyên biển đảo trong các nước khu vực, nói chung. Sự tham góp của họ (cựu thuyền trưởng Trần Trọng Trí và các cựu thủy thủ Nguyễn Văn Tròn, Lê Văn Khánh...), cùng tác giả cuốn sách-nhà thơ Trần Đăng Khoa và rất nhiều các bậc nhân sĩ, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học, người lính, bạn đọc nói chung với các câu chuyện thật ngoài đời liên quan dến cuốn sách, vô hình chung đã biến tác phẩm Đảo Chìm như một sân khấu lớn, đại cảnh, lớp lang chính phụ, đầy bi hài,...

Ta cùng thử hình dung, Đảo Chìm như một tác phẩm Sân khấu thì sẽ thế nào? Dĩ nhiên, thuyền trưởng tàu HQ 05, Trần Trọng Trí cùng các thùy thủ thuộc cấp của ông ngày ấy, mỗi người đều sắm vai của mình trong sân khấu thực cảnh Đảo Chìm,…

Song trước khi nhìn tiểu thuyết Đảo Chìm như một Sân khấu lớn, xin trở lại với không gian tiểu thuyết mà tôi đã nhận thức và nêu ra trong bài viết có tên Đảo Chìm, nghệ thuật tạo dựng không gian truyện. Ở đó, tôi phát hiện sự tài tình của tác giả trong việc tạo dựng nên ba không gian đồng thời để kể câu chuyện của mình. Ấy là không gian hữu hạn. bao gồm “cái lều bạt” chung chiêng trên thềm san hô, là con tàu loanh quanh trong khu vực của mình, được xem là hòn đảo nổi; ấy còn là không gian vô hạn với mênh mông trời nước, lúc hiền dịu mộng mơ, lúc lặng thinh bí hiểm, lúc cuồng điên dữ dội đầy bất trắc; và nữa, một không gian tâm tưởng chỉ tồn tại trong ý nghĩ của mỗi nhân vật. Ba không gian ấy khi tách bạch, khi xâm lấn nhau, khi đồng dạng phối cảnh,... Và trong bối cảnh như vậy, tất thảy nhân vật, con người (từ chàng lính quèn đến vị Tư lệnh), con vật (chim biển, cá mập, con lợn), vật dụng (lều bạt, tư trang quần áo, cuốc xẻng, lưới câu, vũ khi, con tàu...) đều sống động, có hồn, suy nghĩ, hành xử theo logic của mình.... Chính nhờ tạo dựng một không gian nghệ thuật như vậy nên mọi ý nghĩ, hành động, tính cách nhân vật, tình huống, tình tiết truyện (có khi phi lý) đều chấp nhận được và trở nên có lý có tình,... Một sự hỗn mang như mê sảng. Chim biển, cá mập thì như người, như ma quái, con lợn cũng như người, lại như yêu tinh; còn con người thì “nhanh chóng mất hơi người”, có lúc như chim, như cá, lại có khi như lợn, như người nguyên thủy (nhân vật Hai Ùm hay cởi truồng)... và có khi chỉ là “một chiếc linh hồn nhỏ” (phần kết, Hai Ùm chết, hồn như nhập vào một con chim biển khổng lồ, dáng gù gù trong lều bạt, khiến đồng đội vừa mừng vừa sợ tưởng anh sống lại).... Và cũng chính việc tạo dựng nên một không gian nghệ thuật như vậy, mà tác phẩm Đảo Chìm không giống hiện sinh kiều phương Tây, cũng chẳng “hiện thực huyền ảo” kiểu Mỹ-la-tinh, mà nó là hiện thực lãng mạn pha chút “Liêu trai” phương Đông...

Còn về ngôn ngữ tiểu thuyết Đảo Chìm. Nếu tác giả tài tình bao nhiêu trong tạo dựng không gian truyện thì tài tình và điêu luyện bấy nhiêu trong ngôn ngữ kể chuyện. Là nhà thơ, tác giả Trần Đăng Khoa đã dùng thế mạnh của mình, ngôn ngữ thơ, để kể chuyện và khắc họa nhân vật. Mỗi chương của tiểu thuyết như một bài thơ văn xuôi vậy. Có thể thấy, tác giả rất kiệm lời, chắt lọc đến từng chữ một. Cảm giác chung, cả tiểu thuyết, không có câu độn từ thừa. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, gây ấn tượng và rất gợi,... Ví như, cảnh hoàng hôn trên đảo:“Chiều xuống dần. Mặt trời đã chìm khuất sau một bầu nước rùng rùng tím ngắt. Nhưng những đám mây vẫn còn bắt nắng, đi lững thững trên đầu, rừng rực như những đám cháy lớn. Bầy chim biển đi kiếm ăn về. Chúng kêu toang toác quanh lều  Tiếng kêu hoang vu và tanh lợm mùi cá...” (chương III-Chim biển); Hay đêm trăng lên biển đảo:”Sương xuống tê tê. Phía sau lều bạt, biển bục lên một đám cháy lớn. Trăng đang mọc. Vài con ó biển giật mình, tiếng kêu oang oác trên thinh không mông lung mờ mịt.” (chương VII-Cô tiên trên đảo); Và đây, một sự kiện đặc biệt, lợn đẻ trên đảo: “Hàng chục ngọn đuốc rần rật bùng lên. Lửa réo ù ù trong gió biển. Con tàu túc tắc được nhổ neo, lượn ba vòng xung quanh Đảo Chìm. Sau đuôi tàu, biển rực lên một vùng lân tinh sáng chóa. Trong đêm, nom nó quái dị và kỳ vĩ như một dải Ngân hà đang cháy.” (chương IX-Tiếng còi tàu đột ngột); Đây nữa, biển đảo sau bão tố: “Vùng đảo hoang lanh một màu khai thiên lập địa. Chiếc lều bị gió cuốn mất tấm bạt, tua tủa giương lên nền trời xám đục những rảnh xương sắt cong queo, nom rờn rợn như một con cá voi khổng lồ đã bị rỉa hết thịt.” (chương XV-Biển mặn)..v.v... Còn nhiều nữa những đoạn văn giàu chất thơ, gây ấn tượng mạnh và đấy sức gợi như vậy. Tôi trích ra đây để phần nào minh chứng cho ngôn ngữ đặc sắc của tiểu thuyết Đảo Chìm,...

Giờ thì ta cùng nhìn nhận Đào Chìm ở phương diện sân khấu với các màn chính kịch, màn phụ  theo lớp lang của nó. Dĩ nhiên, người chính trị viên tên Thuận, các thủy thủ tên gọi Hai Ùm, Tư Xồm cùng các đồng ngũ của mình trên con tàu HQ và trên đảo, thêm vị Tư lênh binh chủng nữa, đều là những nhân vật chính. Tác giả cuốn sách,  nhà thơ Trần Đăng Khoa là người dẫn chuyện. Vậy là đủ vai? Không. Còn thiếu một vai, ấy là vai Hề, con lợn An-ta-ra-mê-na. Chớ quên, chỉ là vai phụ thôi, nhưng vai diễn này vô cùng quan trọng

Thiết nghĩ, hãy khoan bàn về con lợn An-ta-ra-mê-na với tư cách vai Hề, trước hết, xem vai trò của Hề trong sân khấu truyền thống ra sao? Với góc nhìn từ vai Hề ở sân khấu chèo (có thể mở rộng cho vai Hề trên sân khấu truyền thống nói chung), nói đến vai Hề, người ta thường nghĩ đến một nhân vật luôn mang lại tiếng cười cho người xem. Dù chỉ là một vai diễn mang tính chất phụ họa cho những lớp bối cảnh chính, nhưng không thể phủ nhận tầm quan trọng và đặc biệt là cái hồn của vai diễn, bởi trong tiếng cười chính là sự sâu lắng, phản ánh rõ nét nhất cuộc sống qua tạo hình đặc biệt của một vai diễn trên sân khấu.

Khái niệm là vậy, giờ ta thử lấy lăng kính Hề sân khấu soi chiếu vào con lợn An-ta-ra-mê-na trong Đảo Chìm xem sao? Con lợn tinh ranh, bắng nhắng, hay làm trò cho lính cười. Ả ta (lợn cái) được mọi người quan tâm, cho diện váy áo mớ ba mớ bảy lòe loẹt trong khi các chàng lính mình thì trần như nhộng đóng mỗi chiếc quần cộc, thậm chí chẳng mặc gì; đến thứ quý nhất là nước ngọt thì tiêu chuẩn hàng ngày của ả ta cũng gấp đôi của lính. Bi hài nhất, là mỗi khi đến chu kỳ động dục, ả ta tăng động, ngoe nguẩy chìa bộ phận giống cái ướt nhẹp đỏ hỏn của mình vào mặt đám lính thủy... Chẳng thế mà, từng có một nữ nhà văn tầm cỡ, trong một lần mạn đàm với nhà thơ Trần Đăng Khoa đã bày tỏ ý định táo bạo, rằng nếu cô ấy là tác giả thì sẽ đảy chi tiết này đến tận cùng (nghĩa là cho đám lính thủy trong cơn khát thèm đàn bà lâu ngày, không kiềm chế nổi bản thể, làm cái chuyện đực cái với nàng lợn An-ta-ra-mê-na). Tất nhiên nhà thơ rất tỉnh táo, chẳng bao giờ nghe ai đó “xui dại” như thế. Ông chỉ bảo, ý nghĩ của người đời kinh thật.

Song quả thật, nhà thơ Trần Đăng Khoa ít nhiều cũng băn khoăn về số phần của vai Hề này, từng tự hỏi, mình có nên chỉnh sửa đôi chút phần kết của tác phẩm Đảo Chìm, khi có độc giả bày tỏ thắc mắc, rằng liệu tác giả có bỏ quên con lợn An-ta-na-mê-ra hay không, mà cuối truyện chẳng thấy nó đâu,... Vậy thì nó biến đi đâu mất, số phận nó ra sao sau cái chết của Hai Ùm?

Tôi nghĩ, bạn đọc đòi hỏi không sai, song cũng không cần phải giải quyết chi cả, bởi nó là vai Hề cơ mà. Hề chỉ là vai phụ, Hề xuất hiện để kết nối và xâu chuỗi các phần chính kịch với nhau thành một chỉnh thể lo-gic, xét về cấu trúc; còn về biểu hiện thì sự ra mắt của Hề là để làm trò, gây cười, dù là cười vui vẻ sảng khoái, cười chảy nước mắt, hay cười để nuốt nỗi buồn đau vào tận đáy lòng,...và hơn nữa, thâm chí để nói những điều mà tác giả không thể nói được trong vai trò người dẫn chuyện, mà cũng không thể gửi gắm vào các nhân vật chính kịch. Hoàn thành các việc này, là Hề  tròn vai, hết chuyện, cần chi đẩy số phận vai phụ đến tận cùng. Lẽ dĩ nhiên, trong câu chuyện và văn cảnh cụ thể, Hề ta có số phận thì cũng hay.

Ở đây, còn bởi, cái kết của tác phẩm Đảo Chìm rất đắt, rất đắc địa rồi, đó là cái chết của nhân vật Hai Ùm, ám ảnh và lay động tâm can, lay động trời biển. Chẳng ai có thể quên nổi, hình ảnh con chim biển khổng lồ đứng trước cửa lều bạt dáng gù gù hệt Hai Ùm vì như hồn chàng lính thủy này nhập vào, khiến đồng đội vừa sợ vừa mừng tưởng anh sống lại ...

Một cái kết bi tráng, cô đọng, giàu biểu đạt như đúc tượng vậy, thử hỏi còn có gì tuyệt hơn, cần chi mà phải bàn thêm về số phận con lợn Hề cho dài dòng văn tư. Ta cùng đọc lại mấy dòng kết này để thấm nỗi bi tráng: “Thế là lại thêm một người lính nữa chết ở Đảo Chìm, người đó tại sao không phải tôi, mà lại là Hai, con cá kình của đảo? Cầu mong trước khi nước khép mặt, Hai được thấy cánh chim hải âu”.  (Ở đây, tôi xin được mở ngoặc, bởi đó là chi tiết rất đắt. Hải Âu thường chỉ bay ở ven bờ, cách đất liền chừng hơn trăm cây số. Ngoài đại dương không có Hải Âu. Vì thế với lính biển, Hải Âu là tín hiệu báo đất liên. Và trước đó Trần Đăng Khoa cũng đã bàn về cái chết dữ dội của những người lính biển. Dù chết vẫn không được yên. Dẫu chỉ còn một mảnh xương tàn thì mảnh xương đó vẫn đêm ngày phải vật lộn với sóng gió. Cho nên, chi tiết ước gì trước khi nước khép mặt Hai được nhìn thấy bóng chim Hải Âu, ấy là niềm ước vọng mong manh có thể mảnh xương của mình sẽ được sóng đẩy vào đất liền). Bởi thế: “Tôi bỗng thấy chóng mặt. Chính trị viên Thuận vội chạy tới đỡ lấy vai tôi. Tôi níu tay Tư. Còn Tư ôm lấy cột lều. Sóng vẫn hắt qua mấy khung giường sắt, phủ lên đầu chúng tôi từng đợt nước mặn chát.  Lần đầu tiên, tôi mới hiểu vì sao nước biển lại mặn đến thế. Và có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở Đảo Chìm. Mặn như máu...”.

Hàm súc, ấn tượng như một triết lý, dư ba,  mà gợi mở ra vô tận,...

Nhân đây, bạn đọc nên biết một bí mật về ả lợn Hề An-ta-ra-mê-na này. Thực tế, ngày ấy, ngoài Trường Sa, đặc biệt là Đảo Chìm, chẳng có một chú lợn nào cả. Tác giả, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã hư cấu, tạo nên một ả lợn bắng nhắng vui nhộn làm trò cười cho lính, trên cơ sở một con chó khoang có thật. Theo cánh lính Trường Sa kể lại, và theo dõi cuộc trò chuyện trên mạng xã hội Blog Tiếng Việt (đã trích ở một bài viết khác của tôi) giữa nhà thơ Trần Đăng Khoa với cựu thuyền trưởng Trần Trọng Trí (nguyên mẫu nhân vật chính trị viên Thuận) cùng các cựu lính thủy Nguyễn Văn Tròn, (nguyên mẫu Tư Xồm), Lê Văn Khánh, thì lúc ấy ở đảo, họ có nuôi một con chó khoang được goi  tên Ái Vân (cánh lính đảo thích lấy tên của một nữ ca sĩ xinh đẹp nổi tiếng một thời đặt tên cho con chó của họ. Đây là sự trân trọng yêu mến thực sự của cánh lính đảo, chứ không phải giễu cợt hay thóa mạ), và rồi trong lần đón tiếp vị Tư lệnh binh chủng thị sát đảo, họ đã lấy cớ thiết đãi ông rồi làm thịt. Và nếu như, chỉ có thế thôi thì quả là “chó chết hết chuyện”, nên nhà thơ đã rất sáng tạo khi chế ra  một ả lợn tên gọi An-ta-ra-mê-na quyền năng như phù thủy, tinh ranh như yêu tinh, hoạt náo vui nhộn như tên Hề sân khấu. Chó khôn và tình nghĩa là đương nhiên (“khuyển mã chi tình”), nhưng lợn khôn mới khó và lạ chứ (người đời vẫn quen  bảo “ngu như lợn”mà). Ấy vậy, ả lợn An-ta-ra-mê-na này lại tinh khôn đến bất ngờ, có cá tính hẳn hoi, và như thế nó xứng đáng là một “nhân vật đặc biệt”.  Bí mật của vai Hề này là thế đó. Và theo tôi, ả lơn này không những góp phần tạo bầu không khí sinh động cho câu chuyện của những người lính biển, đồng thời nó cũng đóng vai trò quan trọng làm nên chất uy-mua và bi tráng cho cả thiên truyện.

Có điều này,  mỗi khi nghĩ về tiểu thuyết Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa, tôi lại nghĩ đến hai tiểu thuyết ngắn khác, đó là “Ông già và biển cả” của Ernest Hemingway và “Trên mảnh đất người đời” của Anatoli Stepanovich Ivanov. Theo tôi, ba tiểu thuyết ngắn này ít nhiều có độ tương đồng, về số lượng từ, về độ hàm súc của ngôn ngữ và tính biểu đạt hình tượng.  Nếu như, ở “Ông già và biển cả” người ta thấy được sự cô đơn của con người giữa thiên nhiên và dù con người có cố gắng đến mức nào cũng nhiều khi trở nên vô nghĩa; Và ở “Trên mảnh đất người dời” người ta nhận ra một chân lý khác, ấy là dù có bị vây hãm trong tình yêu, sự rượt đuổi của người trả thù giấu mặt trong sự kinh hãi của kẻ chạy trốn, sự ghê tởm và lòng hận thù tột độ thì đến một lúc nào đó lại có thể tha thứ và coi đấy là cách trả thù còn kinh khủng hơn,... Về không gian tiểu thuyết, hai cuốn này đơn tuyến, nặng về chất tự sự, giàu nội tâm...  

Còn ở Đảo Chìm, không gian truyện phức tạp hơn nhiều, dù lượng chữ rất mỏng, con người ta sống trong một trật tự tưởng vô cùng nghiêm ngặt song lại như một thế giới tự do tự tại, nhưng ngặt thay, là con người tự khép mình trong sự cố kết bởi ý thức trách nhiệm và niềm tự hào vì một tương lai mù mịt vời vợi phía chân trời...  Với nội hàm như vậy, chất hoạt kê và bi tráng của Đảo Chìm mà tác giả đã lựa chọn, là rất thích hợp và độc đáo.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Lê Lựu, một người rất khó tính về nghề, đã cho rằng Đảo Chìm là thần bút.

Còn tôi thì coi đó là một kiệt tác...

 





Nhận xét