@@@
QUANG DŨNG
Người và thơ hiện ra giữa màn sương khói…
Quang Dũng (tên thật Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921, quê Đan
Phượng, Hà Nội)) là một nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại,
tôi nghĩ vậy. Có thể, ai đó không đồng tình, đương nhiên, mỗi người có cái quyền
đánh giá của riêng mình, song tôi tin, với phần lớn người yêu văn thơ ở xứ sở
này, thì Quang Dũng, chỉ với bài thơ Tây Tiến, ông đã xứng đáng
là nhà thơ xuất sắc của nền thi ca Việt Nam hiện đại rồi…
Song Quang Dũng không phải là
nhà thơ dạng “một bài” mà thành danh như vài ba nhà thơ khác cùng thế hệ với
ông. Cùng với Tây Tiến, ông còn có nhiều bài thơ hay khác, đó là Mắt
người Sơn Tây, Mây đầu ô, Đường trăng, Những
làng đi qua, Cố quận, Quán bên đường, Bố Hạ,
Lính râu ria, Đôi bờ, Tiễn bạn …
Cho dù, Quang Dũng còn sống đến
mãi sau này (ông mất năm 1988), nhưng tôi không có duyên gặp gỡ, mặc dù khi đó,
tôi đã trưởng thành và là người yêu văn chương, bước đầu vào nghề làm báo
chuyên nghiệp. Đơn giản, ngày ấy, các
nhà thơ nhà văn, là của hiếm, là những cao nhân, được cả xã hội coi trọng, nên
không phải cứ muốn là gặp được. Vậy nên, những người như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn
Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận. Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài và Quang
Dũng… đều được người đời kể lại, được thêu dệt thêm và “giai thoại hóa” như những
huyền thoại sống vậỵ.
Phải đến khi, tôi thành một cây
bút trẻ, đã có vài ba tập sách được xuất bản, và khi ấy, bầu không khí báo chí
văn chương khá cởi mở, thì mọi người mới được biết những câu chuyện đằng sau,
những chuyện bếp búc, thậm chí những chuyện mà trước đây được xem là cấm kỵ, là
“thâm cung bí sử” của Làng Văn Việt được công bố trên báo chí, thì người ta mới
“à ra thế”, mới vỡ lẽ, rằng…Và Quang Dũng, là một người như vậy…
Chuyện kể rằng, hồi tham gia
Đoàn quân Tây Tiến và làm cán bộ tuyên huấn, Quang Dũng hào hoa lắm. Trai ven
đô, được học hành tử tế, có trình độ học vấn, giỏi chữ Hán và biết tiếng Pháp,
tài thơ phú, thêm cả nhạc họa là oách lắm, cùng đó, dáng người to cao, nên
phong độ hào hoa lắm. Không những được thuộc cấp nể phục, đi đến đâu cũng được
bà con, nhất là phái nữ địa phương quý mến, ngưỡng mộ… Cũng lại giai thoại rằng,
dạo ông công tác ở địa bàn Thanh Hoa (có lẽ thời gian ông làm cán bộ tuyên huấn,
và văn nghệ Liên khu III), mỗi khi đi công tác đâu, Quang Dũng diện quân phục
chỉn chu, cưỡi trên lung ngựa, trông oai hùng lắm. Thế nhưng, dáng vẻ hào hoa
phong nhã đó, là một lợi thế, song cũng đem lại cho ông không ít phiền toái, ấy
là cái sự ngứa mắt sinh đố kỵ của một số người, ngay cả những chiến hữu, đồng đội
của mình. Gì chứ, tai tiếng phong cách tiểu tư sản là cái chắc, nhất là với Quang
Dũng, vốn chân thực, không quen thói quanh co biện luận.
Còn về đời sống, nhất là quãng thời gian dài, Quang Dũng chịu
tiếng Nhân Văn Giai Phẩm, và làm biên tập viên của Báo Văn nghệ, rồi Nhà xuất bản
Văn học, cả thời gian ông nghỉ hưu của thời chiến tranh và bao cấp, có rất nhiều
câu chuyện và giai thoại về ông. Tôi đọc được đâu đó khá nhiều câu chuyện,
nhưng nhớ và ám ảnh hơn cả là chuyện ông thường xuyên quét lá khô trong công
viên Thống Nhất về đun nấu; là chuyện ăn cơm nhai kỹ vừa thấy ngon và đỡ tốn gạo;
và câu chuyện ứa nước mắt, ấy là khi được một ai đó mời ăn quà xôi ở một hàng
xôi ngon nổi tiếng Hà thành, ông giữ lễ ăn cầm chừng mặc dù vốn ăn khỏe và vẫn
thèm ăn nữa… Ôi, thật chẳng biết nói gì nữa, chỉ thấy thương cảm và ái ngại cho
một người vốn tài năng và hào hoa như ông…
Cả một thời gian dài, đời sống bao cấp gian khó thiếu thôn đủ
bề, ăn còn chẳng đủ huống hồ sách báo, nên việc tiếp cận văn bản những bài thơ
khác của Quang Dũng rất khó, ngoài một vài bài thơ nối tiếng của ông được lưu
giữ chép tay trong sổ của số ít người yêu thơ. Vì thế màn sương khói phủ mờ
hình bóng con người và thơ ca của ông. Mãi sau này, khi mạng xã hội phát triển,
tôi lần tìm đọc được đâu đó dăm chục bài thơ của Quang Dũng. Đọc để biết, để thỏa
sự tò mò hơn là thẩm định. Nhưng quả thật, sau khi đọc thơ Quang Dũng, những
bài thơ ông sáng tác rải rác những năm kháng chiến chống Pháp và cả những bài
viết sau đó ít lâu, tôi cảm nhận tâm một thế u hoài, như luyến tiếc một cài gì
đó đã mất lâu rồi mà lại như hiển hiện sống động ngay trước mắt… Là nghĩ thế, cảm
nhận vậy mà không biết gọi thành tên thế nào?...
Đọc tác phẩm của Quang Dũng,
chưa từng gặp mặt, và nghe kể, cùng xem nhiều giai thoại về ông. nhưng giờ đây,
tất cả những gì tôi biết về ông, bỗng sống dậy, hiển hiện mồn một trong tôi,
khi tôi đến thăm Khu di tích về Trung đoàn Tây Tiến được khánh thành mấy năm
trước tại trấn Mộc Châu (Sơn La),… Ở đó, trưng bày khá nhiều hiện vật, tài liệu,
hình ảnh về Binh đoàn Tây Tiến, song đậm nét hơn cả là những gì liên
quan đến Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến của ông. Bức tượng bán
thân nhà thơ Quang Dũng trong phục quân đội, áo trấn thủ, đầu mũ ca-nô đội lệch,
nên dáng vẻ người chiến sĩ oai hùng pha chút hào hoa lãng tử. Ngắm nhìn bức tượng,
ngẫm thấy đúng chất con người nhà thơ-chiến sĩ Quang Dũng- cái cá thể-lại đúng
chất người chiến sĩ của Binh đoàn Tây Tiến thực tế ngày đó,- cái nét chung,- ấy
là những chiến sĩ vốn là các chàng trai Hà Nội hào hoa, giàu kiến thức, sẵn
sàng lên đường bất chấp hiểm nguy…
Chất Quang Dũng-Tây Tiến còn thể hiện ở kết cấu của Khu di tích Tây Tiến,
đó chính là bài thơ,vốn mang tính chất và hơi thở của Tây Tiến, vừa thể hiện
quá trình hoạt động của Binh đoàn, thế nên, người thiết kế đã có ý tưởng lấy
thơ ra để mô hình hóa công trình này… Thật tài tình thay, là sự hòa quyện tuyệt
vời giữa các yếu tố: Người-Thơ-Ý tưởng-Công trình, là một. Vậy nên, từ phòng
trưng bày, bước ra không gian tưởng niệm, mỗi bước, mỗi ngẫm nghĩ, thấy hiện
lên mồn một từng câu thơ Tây Tiến của Quang Dũng,…
Sau khi thăm khu di
tích về Trung đoàn Tây Tiến, gợi cho tôi sự hứng khởi để đọc lại thơ Quang
Dũng. Từng bài, từng bài một, hồn cốt thơ ca và con người ông hiện ra rõ nét giữa
màn sương khói mông lung của gioai thoại. Và tôi nhận ra, có một hồn thơ kháng
chiến mang khí chất Quang Dũng rất riêng, không lẫn du đặt chung trong cái
phông nền của thơ kháng chiến (chống Pháp) do các nhà thơ khác thời ấy hợp
thành tạo nên (Tố Hữu, Nguyễn Định Thi, Hoàng Trung Thông, Thâm Tâm, Hoàng Lộc…).
Điều gì làm nên khí chất và hơi thơ rất riêng Quang Dũng?
Phải chăng, chất tiểu tư sản hào sảng, sự hiểu biết, ý thức
trách nhiệm, cộng thêm chút kiêu hung hòa quện trong một tâm hồn nhạy cảm cùng
sự tài hoa bẩm sinh của một trí thức đi kháng chiến đã làm nên hồn thơ Quang
Dũng?
Xin viện dẫn một số câu thơ của Quang Dũng:
“Có những chiều chiều trăng đỉnh núi/ Nhà ai chày gạo giã
đêm sương” (Cố quận); “Trời mưa giăng nước mắt/ Màu thê lương lại về/
Hoa mai dầu nở trăng/ Người người còn ra đi” (Mưa); “Đường ấy đi về qua
bóng núi/ Miếu đêm soi lạnh xuống sông dài/ Lay động màn sương trên khói sóng/
Thuyền câu ai gõ mạn xa khơi” (Đường trăng); “Em đắp chăn dầy, tóc em
trĩu nặng/ Tôi mồ hôi ra ngực áo chan chan… / Em có một mình nhà hoang vắng
quá/ Mảnh chăn đào em đắp, có thêu hoa” (Quán bên đương); “Cuối năm trên
đường đi Bố Hạ/ Ruông bậc thang còn trơ gốc rạ/ Rừng núi xa mờ khói trẻ trâu/
Tơi nón trung du em về đâu?” (Bố Hạ); “Những làng trung đoàn ta đi qua/
Tiếng quát dân quân đầu vọng gác/ Vàng vọt trăng non đêm tháng chạp/ Nùm rơn –
khói thuốc – bạch đầu quân” (Những làng đi qua); “Khuya khắt bờ sông vắng/
Tiếng súng rền xa xa/ Lính mấy chàng phanh ngực/ Hát nhẹ lên bài ca” (Lính
râu ria); “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ/ Có
nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa|” (Tây Tiến); “Tôi
nhớ xứ Đoài mây trắng lắm/ Em có bao giờ em nhớ thương?... / Sông Đáy chậm nguồn
qua Phủ Quốc/ Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng” (Mắt người Sơn Tây); “Đường
mười hai ban ngày/ Im mà dữ tợn/ Nắng rãi trên đá nhọn/ Đâm chân người/ Chỉ có
trên trời/ Mặt trời và phi cơ giặc” (Đường mười hai); “ Một chút linh hồn
nhỏ/ Đi về chân núi xanh/ Màu tím chiều chầm chậm/ Hoàng hôn nghe một mình/
Giáo đường chuông rời rạc/ Tan vỡ nhiều âm thanh” (Trắc ẩn) v.v…
Có nhiều những câu thơ ấn tượng, ngưng đọng mà khơi gợi như
thế trong thơ Quang Dũng. Có cảm giác, mỗi bài thơ, thoạt kỳ thủy Quang Dũng thả
mặc cho cảm xúc tuôi chảy theo tâm trạng thực, buồn thương trĩu nặng cõi lòng
mình, nhưng rồi ông giật mình mà chững lại như có ai đó đang dòm ngó dò xét đặng
nhắc nhở, hay đúng ra là ông tự thân dò xét mà răn mình “này anh, kháng chiến
còn dài lâu và đầy những gian khổ hy sinh, ai cho phép anh phép yếu long màsinh
bi lụy vậy…”, và rồi ông nén cảm xúc để tiếp nối mạch thơ, cầm chừng, ngập
ngừng, nửa buông nửa hãi… Vậy nên, đọc kỹ
thơ Quang Dũng, cảm nhận thơ ông đang vào mạch thì chững lại và có những câu
thơ, thậm chí cả khổ thơ khác mạch, ngơ
ngác, lạc điệu và chẳng ăn nhập vào đâu. Có lẽ thế mà thơ Quang Dũng, kể cả những
bài thơ được thiên hạ xếp vào hàng nhất (Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn
Tây) cũng không có bài nào toàn bích.
Song có điều này, khác hẳn những nhà thơ sáng tác thời kháng
chiến chống Pháp (1946-1954) với nhiều bài thơ sống động, trôi chày và thức thời,
thì thơ Quang Dũng lại ngưng đọng. Từ không gian, ý tứ đến câu chữ, ngay khi nó
ra đời đã lập tức ngưng đọng, để trở thành hoài niệm, thành ký ức của một thời.
Chân thật, trong và xót. Ấy là thơ hay. Tôi nghĩ, thơ Quang Dũng đứng rriêng
mình một khoảnh, không giống ai, riêng rẽ giữa dòng thơ kháng chiến chống Pháp
chung. Với cảm quan và nhận định như vậy, theo tôi, ông là số một thơ ca thời kỳ
này. Cũng chính bằng một giọng điệu riêng mình, Quang Dũng đã đóng góp một phần
cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại, nên năm 2001, ông đã được truy
tặng Gải thưởng Nhà nước v ề Văn học nghệ thuật.
Chắc chắn, bài thơ Tây Tiến về Binh đoàn Tây Tiến
bi hùng,”đoàn quân không mọc tóc” ngày ấy, sẽ còn sống mãi, và như vậy,
tác giả bài thơ đó, một trong số những bài thơ hay nhất của nền thi ca hiện đại
Việt Nam, nhà thơ Quang Dũng, cùng những bài thơ khác của ông, cũng tồn tại lâu
dài với nhân gian… Và rồi, người đời sẽ lại kể tiếp những huyền thoại về nhà
thơ Quang Dũng và thơ ca của ông!...

Nhận xét
Đăng nhận xét