Nhớ bầy chim chèo bẻo
Tản văn
Những ngày đầu hạ, khi những cơn
mây giông kéo đến, sấm chớp nhì nhoằng ì oàng đầy trời, rồi những giọt mưa lộp
độp rơi, báo hiệu mùa mưa bão, tôi lại nhớ về những lũy tre làng xưa, ngày còn
nhỏ đi học ở quê. Nhớ lũy tre và nhớ bầy chim chèo bẻo làm sao!...
Làng quê tôi là một làng nghề
nông, xưa thuộc Kinh Bắc, đến thời Nhà Nguyễn thì thuộc Văn Lâm, Hưng Yên, cách
Hà Nội chừng hơn hai chục cây số đường chim bay. Ngoài nghề nông là chính, làng
có thêm nghề đan lát tre như đan gàu tát nước, đan thúng mủng, nong nia rần
sàng và giỏ các loại. Vì có nghề đan lát nên làng Khê (tục gọi) trông rất nhiều
tre, để có sẵn nguyên liêyj đan lát. Tre quanh bìa làng, tre dọc đường làng,
ngõ xóm, rồi tre bao quanh mỗi nhà làm hàng rào ngăn cách. Xét về cây cối trong
làng thì tre chiếm già nửa, còn lại là những cây lưu niên, ăn quả phổ biến khắc
là xoan, nhãn, mít, ổi, bưởi…
Nhà tôi, đất vườn rộng chừng sào rưỡi Bắc Bộ, do mua lại đất vào năm 1965, khi
gia đình tôi chuyển từ Hà Nội về quê sinh sống thời chiến tranh phá hoại bằng
không quân của Mỹ ra miền Bắc. Đất nhà tôi rộng, một mặt đường làng và một mặt
ngõ, đều trồng tre. Vừa có bóng mát, vừa có lá tre và mo nang khô thay củi đun,
lại sẵn nguyên liệu tre tiện lợi cho sinh hoạt ở quê.
Tôi nhớ, sau đợt mưa xuân, chớp
chới sang hè, lũy tre đâm măng rất nhiều. Măng tre nhô khỏi đất thì lớn nhanh
như thổi, dài thêm mỗi qua đêm. Khi măng tre lên cao, bẹ măng khẽ tách ra để
nhánh tre non từ đốt tre trổ lên, gọi là chèo bẻo. Rồi một buổi, bầy chim từ
đâu đó kéo về đậu trên những măng tre đang lên chèo bẻo. Loài chim lông đen,
đuôi dài, kích cỡ nhỏ hơn quạ, to hơn chào mào chút, kêu “liếu điếu, liếu điếu”.
Chúng đỗ thành dây, dăm bảy con trên một măng tre chèo bẻo làm phần ngọn măng bị
vít cong và cứ thế cả hàng măng tre đen đặc những chim, rín ran tiếng hót. Mỗi
lần vậy, mẹ tôi lại chép miệng: “Bọn chèo bẻo ở đâu về lắm vậy. Năm nay
giông gió mưa bão lại nhiều đây”. Nghe mẹ tôi than vậy, bố tôi lặng nhìn bầy
chim giăng dây trên ngọn lũy tre hồi lâu mới gọi tôi ra giảng giải. Ông bảo,
loài chim này có tên Latinh là gì đó chẳng nhớ, nhưng dân gian quen gọi là chim
Chèo bẻo. Sở dĩ gọi vậy là người ta hay thấy chúng nó về mỗi mùa chèo bẻo tre
lên và chúng dường như chọn ngọn măng chèo bẻo làm nơi đỗ thành bầy, nên dân
gian lấy tên cây tre non gọi thành tên chim. À ra thế, tên chim chèo bẻo từ tên
cây. Thây kệ. Bố tôi còn giảng giải thêm: “Tiếng hót chúng, nghe âm, liếu điếu,
liếu điếu, nên dân quê mình còn gọi theo âm tiếng kêu, là chim liếu điếu”.
Rồi bố tôi như tự nói với mình, lại như ngỏ ý với mẹ tôi khi bà than lo mùa mưa
bão: “Loài chim chúng có tội gì đâu. Là đặc tính sinh học trời đất ban cho
chúng sự mẫn cảm với thiên nhiên là vậy. Có thế thiên nhiên mới sinh động. vạn
vật cỏ cây vốn bình đẳng trong trời đất mà. Tôi thấy chúng về hót cũng vui đấy
chứ. Năm nào vắng chúng… lại thấy thiếu thiếú, nhỉ?...”
Sau này, tra cứu dễ dàng tim thấy
cái tên khoa học của chúng theo phân loại động vật (Dicrurus macrocercus),
nhưng đó cần cho các nhà sinh học chứ dân gian chả để làm gì, cứ nôm na chèo bẻo,
hay liếu điếu mà gọi cho tiện, mà dễ nhớ.
Vậy mà đã già nửa thế kỷ qua rồi
đấy. Cha mẹ tôi đã khuất bóng nhiều năm rồi. Mảnh vườn rợp bóng tre xưa này chỉ
còn một nửa và trên phần đất còn lại, cùng căn thờ tự làm nơi cúng ông bà cha mẹ,
đất thừa không đủ để trồng tre, còn chỗ trống cho dăm cây trổng làm cảnh như
cau, mít, lộc vừng, tường vi, hoa ngọc lan. Làng thì lấp hết ao, tre gần như sạch
bóng. Cây cối thế thì lấy đâu chỗ cho bầy chim chèo bẻo về đậu hót chơi?...
May nhờ ký ức lưu giữ. Hình bóng
bầy chim chèo bẻo xưa vẫn sống động trong trí nhớ, và thôi, lại nhờ thêm thơ ca
giữ hộ vậy: “Bầy chim chèo bẻo vít cong bóng làng,”
Tôi đã hạ bút như thế trong một
bài thơ về làng quê!... Ẩn bớt

Nhận xét
Đăng nhận xét