CHÂN DUNG NHÀ THƠ QUANG HOÀI

 



@@@


QUANG HOÀI

Mỗi ngày tôi lại một tôi,…

 

Mỗi ngày tôi lại một tôi,…

Đây là tên một bài thơ lục bát ngắn của nhà thơ Quang Hoài, chỉ vẻn vẹn hai khổ tám câu, nhà thơ sáng tác năm 2023, nhưng được ông chọn làm tên chung cho tuyển tập thơ dày cỡ 500 trang in do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2025 thuộc dự án sách Nhà nước đặt hàng. Có thể nói, tập thơ này dồn nén một đời thơ Quàng Hoài. Trong bài thơ được nhà thơ lấy làm tên chung cho tuyển  một đời thơ của mình, ông viết “Mỗi ngày tôi lại một tôi/ Một miền tôi với một người tôi yêu…”- những tưởng như thế là đủ, là hạnh phúc rồi. Song để viết được câu thơ chứa niềm vui giản dị ấy, ông đã trải một đời binh nghiệp, một đời thơ từ thuở tóc xanh đến ngưỡng cửa “bát tuần” để giờ thốt ra câu thơ ấy. Đó chính là sự tự hiểu mình vậy!

Nhà thơ Quang Hoài viết nhiều, đa thể loại, bút ký chính luận, tạp văn, tiểu luận văn học và thơ. Tuy thế, thơ là lĩnh vực ông yêu thích, dồn tâm lực và đeo đuổi từ thời đầu cầm bút đến tận giờ và đạt được thành quả ấn tượng hơn cả. Vậy nên, tôi điểm nhanh cuộc đời binh nghiệp song hành văn chương của Quang Hoài để lắng lại ở đời thơ của ông.

Ông tên thật là Nguyễn Quang Hoài (bút danh Quang Hoài, Hoài Phương), tuổi Ất Dậu (sinh 1945), quê Duy Tiên, Hà Nam cũ. Sinh ra ở vùng quê chiêm trũng chỉ trông vào hạt lúa củ khoai, đúng vào một năm kinh thiên động địa, mất mùa đói kém khiến gần hai triệu người chết, năm xảy ra hai cuộc đảo chính gắn với sự ra đời của nhà nước Việt Nam – nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á. Một năm như thế, cho dù gia cảnh ra sao thì cậu bé Quang Hoài sống sót đã là một sự may mắn rồi. Tuổi trưởng thành, năm 1961, Quang Hoài được vào trường đào tạo cán bộ phiên dịch (tiếng Trung) rồi chuyển tiếp trường sư phạm ngoại ngữ và bồi dưỡng giáo viên Văn-Sử. Nhờ đó, sau này không những giỏi Trung văn mà còn có phông kiến thức văn-sử khá vững chắc, trợ giúp ông tiến bộ cả trong binh nghiệp và văn chương.

Quang Hoài nhập ngũ năm 1965, làm công tác phiên dịch tiếng Trung trong quân đội rồi sau chuyển làm công tác nghiên cứu khoa học thuộc Học viên Chính trị, Bộ Quốc phòng. Ở đây, ông được đào tạo thêm nghiệp vụ tuyên huấn báo chí và từ năm 1974 làm công tác tuyên huấn thuộc Sư đoàn 308. Từ năm 1977, ông là phái viên về công tác chính trị taị biên giới Tây Nam, rồi trực tiếp tham gia chiến đấu thuộc Trung đoàn 201 Bộ Chỉ huy quân sự Tây Ninh, đóng quân ở biên giới Tây Ninh-Campuchia. Từ năm 1978, Quang Hoài trở lại Học viên Chính trị, Bộ Quốc phòng vừa nghiên cứu vừa học tập và có bằng cử nhân Triệt học. Sau nhiều năm làm biên tập, Quang Hoài dần thăng tiến, làm Phó Tổng biên tập Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự, Bộ Quốc phòng, nghỉ hưu năm 2006 với quân hàm đại tá. Không kể một số tác phẩm do ông biên soạn về lý luận chính trị quân sự theo vị trí công tác và chuyên ngành được đào tạo, tác phẩm chính của ông là: “Nguyện cầu” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2002); “Mưa đền tình” (Nxb Hội Nhà văn, 2003); “Văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong Bộ đội Cụ Hồ” (bút ký chính luận, Nxb Thanh niên, 2004); “Lời yêu rượu đắng” (thơ, Nxb Văn học, 2005); “Gió sông Hồng vẫn thổi” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2006); “Kiếp này ta chửa thương ta” (thơ lục bát, Nxb Hội Nhà văn, 2007); “Chớp lửa đường cong” (thơ, Nxb Văn học, 2009); “Giữa hai bờ trăng khuất” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2010)’ “Giọt trời trên lá sen” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2012); “Trong veo nước suối nguồn” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2015); “Tình sau con chữ” (bút ký, tiểu luận, Nxb Hội Nhà văn, 2015); “Trước mùa nước dâng” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2017); “Nhìn trăng đáy nước” (tiểu luận văn học, 2018); “Quả càng già càng chin ngọt thơm” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2020); “Ngước sao đỉnh giời” (tiểu luận văn học, Nxb Hội Nhà văn 2021); “Giấc người” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2021); “Miền hoài phương” (thơ, Nxb Văn học, 2023); “Thơ Quang Hoài tuyển chọn” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2024); “Mỗi ngày tôi lại một tôi” (thơ chọn, Nxb Hội Nhà văn, 2025); “Trước hoàng hôn” (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2025).

Quan niệm của Quang Hoài về thi ca, hay đơn giản là ông nghĩ gì về thơ? Khi mạn đàm về thơ, ông từng tếu táo đọc vài câu thơ, tự giễu mình mà cũng là để răn người “Tưởng câu thơ đảy mái chèo/ Nào ngờ gió thổi bay vèo xuống sông” và nữa “Biết Trời thương mà chưa cho/ Thì tôi chả vớt câu thơ ướt đầm”. Phàm người làm thơ hay tự huyễn hoặc, gán cho thơ mình phải gánh vác xứ mệnh này nọ, hay ẩn chứa tư tưởng lớn lao dường kia, rồi gồng lên mà sinh ảo tưởng. Quang Hoài tự nhận, mình là người yêu thơ, thích làm thơ nhưng chỉ sáng tác khi có cảm xúc và chỉ viết được những gì lắng lại thành ký ức, đọng lại trong tâm hồn. Ông tâm niệm “Làm thơ trước hết là cho mình, sau mới cho người, được người chia sẻ, dù chỉ một cũng là hạnh phúc. Tôi càng nhận ra rằng, bản chất của thi ca là sáng tạo và cách tân. Song sáng tạo và cách tân gì thì cũng phải dựa trên cơ sở gắn kết hòa quyện chặt chẽ giữa tâm hồn dân tộc như một nguồn sữa tạo nên sức sống và sự trường tồn của thi ca với hơi thở thời đại trong sự phát triển và tiến hóa của nền văn minh nhân loại. Cái cốt lõi của thi ca là nhân văn, nhân bản. Sự thăng hoa của cảm xúc tiến tới siêu việt là cứu cánh đưa thi ca đến thánh thiện, làm cho con người thoát khỏi sự ràng buộc giới tình và dục vọng…”. Có chút văn hoa đấy song tôi chia sẻ với Quang Hoài điều này. Vâng, biết là thế, tậm niệm vậy nhưng được phần nhỏ thôi cũng khó lắm thay, nên chăng được trời cho bài nào, câu thơ nào hay là quý.

Tâm niệm vậy, tôi biết Quang Hoài không tự huyễn hoặc. Hơn một lần, trong lúc mạn đàm văn chương thơ phú, ông bảo, thơ mình thế nào, tài mình đến đâu mình biết cả chứ, thơ bao nhiêu bài đấy, người đời thích và khen cho một vài bài, dăm ba câu thơ là được rồi, hạnh phúc rồi. Ngay như thơ Đường, Trung Hoa được liệt vào hàng đệ nhất thế giới cổ kim thì đến nay vị nào còn lại hoặc hậu thế nhắc đến một bài thôi cũng ghê lắm rồi, tỉ như Thôi Hiệu với Hoàng Hạc lâu, Vương Hàn với Lương Châu từ, Hạ Tri Chương với Hồi hương ngẫu thư và Trương Kế với Phong Kiều dạ bạc

Ý thức vậy là Quang Hoài thật lòng. Ông bảo, đời thơ làm cả ngàn bài nhưng ông  không bao giờ quên cảm giác sung sướng hạnh phúc khi biết tin bài thơ đầu tiên của mình được đăng báo. Ông kể lại, bài thơ ấy có tên “Lá thư gửi anh”, được  sáng tác năm 1968 lúc mới 23 tuổi, tại Trạm Kiểm soát quân sự Ma Lù Thàng, Phong Thổ, Lai Châu khi chàng thượng sĩ được phân công làm nhiệm vụ phiên dịch tiếng Trung ở Quân khu Tây Bắc. Ban đầu, Quang Hoài định nhờ nhà văn Tô Hoài đọc thẩm định vì tình cờ ông nhà văn này đang đi thực tế sáng tác ở đó. Việc ấy không thành, rồi qua một người bạn gái, bài thơ được cô này đánh máy cẩn thận và bằng cách nào đó chuyển đến tay nhà thơ Nông Quốc Chấn. Lần này thì may mắn, ông nhà thơ mang theo về Hà Nội chuyến đến Báo Văn Nghệ dạng dự thi (cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1969-1970). Bài thơ lọt mắt xanh Tổ thơ (gồm các nhà thơ Vĩnh Mai, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh), được chọn đăng (Báo Văn Nghệ số 296). Thế nhưng, phải chừng gần một năm sau, khi Quang Hoài nghỉ phép về quê (Duy Tiên, Hà Nam cũ), khi đó chàng lính trẻ mới được gia đình đưa cho lá thư do nhà thơ Vĩnh Mai viết thì mới biết thơ mình được đăng báo. Còn gì sung sướng hơn, thơ dự thi trên báo Văn Nghệ kia mà! Quang Hoài còn nhớ, cùng số báo ấy, thơ dự thi còn có bài của nhà thơ Vương Anh, bài thơ “Hoa trong Mường”. Sướng nữa là, chính số ấy là số báo đầu tiên bắt đầu đăng thơ dự thi của cuộc thi thơ này, cuộc thi mà kết thúc, Phạm Tiến Duật giành giải Nhất, làm nên tên tuổi một nhà thơ diện hàng đầu của thơ ca Việt Nam giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Quang Hoài bảo, đây là điểm khởi đầu cho đời thơ của ông, chẳng bao giờ quên được. Rất có thể, ngày ấy, nếu bài thơ này không được đăng báo mà bản thảo bị quẳng vào xó xỉnh nào đó, thì sau này sẽ không có một nhà thơ mang tên Quang Hoài. Ông thật lòng biết ơn tất cả, người bạn gái thời đó, nhà thơ Nông Quốc Chân, các nhà thơ ở tổ thơ Báo Văn Nghệ. Chỉ một bài thơ được công nhận, đã kích hoạt mạch nguồn làm nên một nhà thơ,…

Tôi đã đọc kỹ bài thơ này. Tên bài đã phần nào thể hiện nội dung bài thơ. Tác giả (Quang Hoài) đóng vai một cô gái người dân tộc thiểu số gửi thư cho người yêu, chàng trai cùng dân tộc đã nhập ngũ vào mặt trận chiến đấu. Thơ tự do, có chia khổ, khá dài, giọng điệu kể, chuyện chúng mình yêu nhau, nay anh nhập ngũ, hãy gắng sức chiến đấu, em ở nhà thì chăm lo việc nương rãy, dựng xây  bản làng, tiếp sức tiền phương, mai sau anh trở về thấy bản làng tươi đẹp, chúng mình sẽ hạnh phúc bên nhau, mà anh luôn nhớ, có đi đâu thì cũng đừng quên bản mình, quên em đang chờ đợi. Đại khái thế, thơ là câu chuyện có cốt, tôi diễn nôm vậy. Tác giả kể bằng ngôn từ dễ hiểu ngồ ngộ kiểu người dân tộc thiểu số nói tiếng Kinh. Khá khen cho tác giả lúc ấy còn rất trẻ lại lần đầu lên miền núi mà đã biết cách chọn ngôn ngữ diễn đạt phù hợp và cũng khá thạo phong tục, nếp sống của người đồng rừng. Đọc rồi tôi cũng chọn được một khổ thơ trích ra đây: “Anh ơi/ Ta xa nhau/ Hãy như con chim biết nhớ đàn nhớ tổ/ Đừng thấy hoa mới nở/ Quên hoa cũ bản Mèo/ Đừng vì nhớ em nhiều/ Mà buồn như ông sao sắp lặn…”. Thì ra, trái tim-tình yêu có lý lẽ riêng của nó, chẳng cần nhà thơ phải nhăn trán tìm câu chữ, tự thân đã hát thành lời,…

Một người tự biết mình, Quang Hoài luôn tỉnh táo và chẳng bao giờ phung phí lời khen. Ông tinh nhạy, sắc sảo trong thẩm định văn chương thơ phú. Những nhận xét trực diện về văn chương có thể làm ai đó không hài lòng song tôi quý thái độ thẳng thắn này của ông. Tôi tin, nhiều người cũng quý trong ông vì điều đó. Chẳng vậy mà, với kiến văn rộng, tinh nhạy, thái độ nghiêm túc, cẩn trọng, ông đã có một số tác phẩm phê bình văn học đáng kể. Thẳng thắn, sắc sảo đấy nhưng đồng cảm, chia sẻ tâm nguyện và nỗi niềm riêng của người cầm búy, nên nhiều nhà văn nhà thơ tin tưởng nhờ ông biên tập, tổ chức bản thảo và làm thủ tục xuất bản tác phẩm văn học của họ. Cho đến nay, ông là người đỡ đầu cho hàng trăm tập thơ văn, giúp bạn bè ra sách. Quang Hoài là người ưa hoạt động, năng nổ, bởi vậy, ông là hạt nhân thành lập ra nhiều câu lạc bộ thơ ca ở khu vực Hà Nội, tạo sân chơi và đem lại niềm vui cho mọi người. Không những thế, nhiều tờ báo, tạp chí nhờ cậy ông lựa chọn, thẩm định, biên tập thơ cho trang văn nghệ của họ. Quang Hoài là hội viên của Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam và cũng đã gặt hái được một số giải thưởng văn chương, vui là thế, nhưng tôi nghĩ không sánh bằng sự nể trọng và tin cậy của của bạn văn, làng thơ dành cho ông!?

Bài thơ “Dấu chân bè bạn” được Quang Hoài sáng tác năm 1971 khi chàng sĩ quan trẻ mang lon chuẩn úy, đến năm 1976 thì được chọn in vào tuyển thơ “Đường chiến dịch” của Nxb Quân Đội nhân dân, đấy là một dấu ấn vinh dự của ông trong đời binh nghiệp. Bài thơ ấy, tác giả lấy tứ cả nước lên đường ra trận, qua việc tạo dựng hình ảnh anh lính trẻ (tôi) trên mọi nẻo vào mặt trận đều nhận ra dấu bàn chân của các bạn học cùng làng mình “Rừng đại ngàn cứ in dấu ấn/ Những bàn chân nối tiếp những bàn chân…”.

Giờ thì chiến tranh đã lùi xa. Chỉ còn các nhà thơ thì vẫn đang mải miết hành quân trên mặt trận chữ nghĩa. Ai in được “dấu chân” của mình trên thảo nguyên thơ văn mênh mông để người đời nhận ra thật khó lắm thay!?

Tôi nghĩ, nhà thơ Quang Hoài đã biết cách để lại “dấu chân” của mình.  

 




Nhận xét